Cau Xin Me

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÁC GIÁO HỘI ĐÔNG ÂU

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

M

ột hôm sau khi nghe tôi nói chuyện về chính sách mở cửa của Việt Nam và tình hình ngày càng dễ chịu hơn cho Giáo Hội chúng ta, một tu sĩ bạn, người nước ngoài, đã buộng miệng: "Tốt! Xin mừng cho anh. Nhưng coi chừng rơi vào kinh nghiệm của các Giáo Hội Đông Âu".

Kinh nghiệm đó là kinh nghiệm nào?

Qua trao đổi với anh bạn ấy và qua tìm hiểu trên sách báo, tôi thấy có mấy điểm đáng suy gẫm và có thể giúp ích cho Giáo Hội chúng ta.

Năm 1989 bức tường Berlin sụp đổ. Đó là một biểu tượng. Một loạt chính quyền cộng sản tan rã vì đã trở nên xơ cứng không đáp ứng được các nhu cầu của nhân dân và giải quyết được các vấn đề mới của đất nước nữa. Các Giáo Hội ở Đông Âu vui mừng phấn khởi trước làn gió tự do và tràn trề hy vọng nhìn về tương lai. Nhưng 5 năm sau, còn đâu niềm phấn khởi và hy vọng đó nữa! Thực tế đã phũ phàng hơn là người ta tưởng tượng.

Thái độ đối với quá khứ.

Sau hàng chục năm bị kìm hãm hay đè nén, người công giáo Đông Âu, từ giáo dân đến giáo sĩ hầu hết đều muốn quên đi giai đoạn đau thương ấy. Họ coi đó chỉ là một vòng ngoặc. Một quãng đường rủi ro trong cuộc hành trình, hoàn toàn không có gì tích cực. Họ muốn "nhảy qua" trên đó để nối lại với thời tiền cộng sản mà họ lý tưởng hóa thành một thời thật đẹp đẽ, họ muốn phục hồi lại mọi cơ cấu như xưa, làm sống lại cả một số điều mà Giáo Hội ở Tây Âu, sau Công đồng Va-ti-can II đã loại bỏ. Càng giống "thời xưa" càng tốt. Chẳng hạn ''giáo sĩ cấp cao của Ba Lan đòi cho Giáo Hội được chi phối chính quyền như xưa"; ở Nga trong những ''Hội Anh em Chính Thống giáo'' người ta biểu lộ lòng luyến tiếc chế độ sa hoàng (tsarisme) đã sụp đổ, ước muốn cho hoàng gia được phong thánh tử-vì-đạo (x. Michel Kubler: Les Eglises de l'Est, trong báo Christus tháng 5/1995). Một nỗi bận tâm hàng đầu của các Giáo Hội Đông Âu là lấy lại các của cải của mình đã bị quốc hữu hoá, cho dù đôi khi Giáo Hội không biết sẽ dùng để làm gì hoặc sẽ lấy ra đâu phương tiện rất tốn kém để bảo trì.

Trong khi đó thì chính Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, một người không ai nghi ngờ là dễ tính với Cộng sản đã tuyên bố rằng trong chương trình xã hội chủ nghĩa có những phần chân lý mà ta không được phá huỷ hoặc đánh mất. Ngài nói như thế chắc hẳn là để nhắc nhở các Giáo Hội và các chính quyền mới ở Đông Âu phải thận trọng và sáng suốt hơn khi xử lý di sản của chủ nghĩa xã hội.

Gánh nặng của quá khứ

Trong suốt thời gian khó khăn truớc đây, Giáo Hội đã quen sống chịu đựng, quen bám vào những tục lệ và tập quán lâu đời để tồn tại, dần dần trở nên thụ động, mất hết sáng kiến. Chẳng hạn ở Tiệp Khắc, "trong lúc các giám mục, linh mục không sẵn sàng cộng tác với giáo dân như hoàn cảnh đòi hỏi bởi vì họ đã quen hành động cách khác trong 40 năm qua, thì bỗng dưng cần phải thay đổi tác phong máy móc đó"' (Francois Monjardin, trong báo Entraide d'Eglises số 2 tháng 6/1995).

Một khó khăn khác của Giáo Hội Tiệp Khắc là vấn đề các linh mục được phong chức hàng loạt và thiếu chuẩn bị, để đối phó với hoàn cảnh. Vì là linh mục ''chui'' cho một Giáo Hội ngầm, song song với Giáo Hội chính thức, nên họ sống rất ''tự do" không ai kiểm soát. Kết quả là một số đã lấy vợ. Cũng có những giám mục được tấn phong mặc dù họ đã lập gia đình. Có cả vài phụ nữ được phong chức. Tất cả là do sợ hãi, hoảng hốt. Nay Tòa Thánh Va-ti-can đang phải giải quyết vấn đề phức tạp đó.

Trong đa số các Giáo Hội các nước cựu cộng sản, đặc biệt là ở Nga, còn vấn đề các linh mục cộng tác với chế độ trong một số tổ chức chính trị. Phần nhiều được giải quyết xuôi chảy, cả những hàng giao sĩ Chính thống giáo Nga mất uy tín nặng vì có những vị đã trở thành "người chỉ điểm" cho Mật vụ Liên-xô cũ!

Vị trí và vai trò của Giáo hội

Năm năm sau khi ra khỏi chế độ côïng sản, các Giáo Hội Đông Âu đã mất đi nhiều uy tín tinh thần của mình. Trước kia, dù muốn dù không, Giáo Hội đứng về phía dân chúng, không đặc ân đặc quyền. Nay Giáo Hội thay đổi vị trí, tiến về phía quyền lực. Trước kia Giáo Hội là chỗ dựa cho dân nghèo và được quần chúng yêu mến, nhất là vì Giáo Hội cũng sống thân phận của họ. Nay Giáo Hội xa rời dân, và họ quay lại công kích Giáo hội. Chẳng hạn ở Tiệp Khắc ''không những Giáo Hội không biết đứng lên làm thành lũy tinh thần chống lại chủ nghĩa tự do vô độ của tầng lớp nắm quyền chính trị và sự tôn sùng tiền bạc đang làm hư hỏng xã hội, trái lại Giáo Hội còn sa lầy một cách vụng về hiếm có vào vấn đề đòi lại tài sản cũ đã bị tịch thu..."

Quả thực xã hội Đông Âu không khao khát của ăn tinh thần sau bao nhiêu năm sống với ý thức hệ cộng sản như người ta đã tiên đoán lúc đầu, nhưng đã mau mắn trở thành một xã hội hưởng thụ, duy vật và tục hóa như phương Tây. Như đất khô lâu năm được nước tưới, nó hào hứng đón nhận và đón nhận mọi thứ mà nền kinh tế thị trường cung cấp. Người ta còn cần đến Giáo Hội nữa không?

"Bị lung lay mạnh mẽ bởi sự đột nhập của nền kinh tế thị trường, Trung Âu và Đông Âu khám phá ra sự thích thú trong việc đầu cơ đối với một số ít người và nỗi dằn vật của tình trạng thất nghiệp đối với đa số người khác. Về phần thị trường tinh thần, nó đang được tranh giành bởi nhiều giáo phái ngoại lai quyến rũ, từ Bắc Mỹ đến hoặc từ Viễn Đông qua. Các Giáo Hội tại chỗ trở nên lúng túng" (Michel Kubler trong báo Christus sđd).

Xưa Giáo Hội tỏ ra cần thiết, nay xem như thừa thãi. Thời ấy vị trí của Giáo Hội tuy không mạnh nhưng còn dễ nhận ra. Thời nay sống trong một xã hội mất thăng bằng, Giáo Hội phải tìm kiếm những cột mốc mới. Phải sáng kiến lại tất cả! Trong lúc đó thì các vấn đề mới của xã hội đặt ra không chờ đợi, những vấn đề xưa nay chưa từng gặp hay chưa gặp ở mức độ như thế: dân chủ, tự do, tiền bạc, tệ nạn xã hội, ma túy, mãi dâm, ly dị, phá thai. Ở Liên Xô, số vụ phá thai hàng năm cao hơn số trẻ em ra đời: Làm sao Giáo Hội có mặt trong các vấn đề và thách đố ấy để phục vụ xã hội mà không rơi vào chước cám dỗ muốn thống trị xã hội? Đó là vấn đề.

Cho đến nay các nhà quan sát kết luận rằng Giáo Hội đang rất khó khăn để đảm nhận các nhiệm vụ mục vụ của mình.

Cái nhìn của người Kitô hữu tại các nước cựu cộng sản cũng thay đổi nhiều đối với tôn giáo và vai trò lãnh đạo của giáo sĩ. Ba Lan 96% dân số tự xưng là Công giáo, nhưng chưa đầy 50% coi tôn giáo là rất quan trọng. Trong toàn bộ Đông Âu 86% dân số cho gia đình quan trọng hơn tôn giáo, và 60% đặt việc làm lên trên cả tôn giáo. "Vậy tôn giáo, xưa kia vốn là thiết yếu cho sự triển nở cá nhân và liên kết xã hội, nay không còn được nhận là có khả năng giúp con người thể hiện mình trong các hoàn cảnh mới nữa". Cá nhân chủ nghĩa đang hoành hành bên Đông chẳng kém bên Tây phương. Mỗi người hí hoáy tạo cho mình những niềm tin cần thiết. Ít người tin tưởng Giáo Hội có khả năng phục vụ xã hội. Tại Ba Lan, 70% chống lại việc Giáo Hội xen mình vào chính trị. Năm năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, người Công giáo và Tin lành Đông Đức vẫn là một thiểu số nhỏ, tan loảng trong một xã hội trần tục hoá.

Đó là bức tranh thực tế đang làm thất vọng những người công giáo trước đây háo hức trước tình thế mới, cho rằng "thời" của mình đã đến!

Chắc đó là bài học kinh nghiệm mà anh bạn nước ngoài của tôi đã ước mong cho Giáo Hội Việt nam chúng ta học hỏi.

Trong tinh thần khiêm tốn học hỏi người khác, thiết tưởng chúng ta nên quan tâm ngay từ bây giờ, đặc biệt tới một số lãnh vực đời sống Giáo Hội như sau:

  • Giáo dục đức tin và đời sống đạo có chiều sâu hơn và cởi mở đối với các vấn đề đất nước và thời đại.
  • Cơ cấu tổ chức nên lưu ý tới việc thi hành quyền bính, vai trò giáo dân, đối thoại, quyền bính, và nên tập làm quen với tinh thần phê bình và dân chủ.
  • Cởi mở, đối thoại cộng tác với các tôn giáo thay vì đóng kín, tự nãn hoặc háo thắng, phô trương.
  • Một Giáo Hội yêu thương phục vụ, gần gủi với người nghèo khó và bị bỏ rơi sẽ được mọi người thương mến, kính trọng dù sống trong hoàn cảnh xã hội nào. Hình như đó cũng là điều nhắc nhủ cuối cùng của Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình trước khi ngài từ trần. (1995)