Cau Xin Me

ĐỪNG CHÙNG XUỐNG!

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Hãy tỉnh thức! Hãy sẵn sàng! Đừng ngủ mê! Đừng chè chén say sưa, đừng mê mải sự đời mà quên đi ngày Chúa đến! ... Bao nhiêu lời kêu gọi hay cảnh giác của phụng vụ nói lên một nét cốt yếu của tinh thần Mùa Vọng.

Sống là vươn tới

Kinh nghiệm tâm lý cho ta thấy rằng sống là hướng tới, là chờ mong, là hy vọng. Ai không còn gì để chờ, để đợi, để ước, để hy vọng nữa thì kể như đã chết rồi. Đời họ coi như không còn ý nghĩa gì nữa. Trong thực tế, ta luôn luôn có những mục tiêu nho nhỏ và gần kề để đạt tới; đạt rồi, ta lại có những mục tiêu khác, và cứ như vậy trọn cuộc đời. Nhưng điều cốt yếu là các mục tiêu nhỏ, gần phải phục vụ cho một hay nhiều mục tiêu lớn hơn nào đó, và cuối cùng tất cả mọi mục tiêu đều phải qui về một mục tiêu lớn nhất, một mục tiêu cuối cùng, một mục tiêu mang lại ý nghĩa cho toàn bộ cuộc đời chúng ta. Chính mục tiêu tối hậu này mang lại động lực căn bản và tính thống nhất cho cuộc đời con người. Đạt được nhiều mục tiêu "giai đoạn" (cho dù là tốt) nhưng thiếu mục tiêu có giá trị quyết định, cuối cùng, thì rồi cũng chẳng tới đâu!

Đời sống Kitô hữu cũng hoàn toàn như vậy. Đời sống của Giáo Hội cũng như đời sống của mỗi người môn đệ Chúa Kitô nằm căng giữa hai biến cố: là cuộc giáng thế của Chúa lần thứ nhất và cuộc giáng lâm của Người lần thứ hai lúc cùng tận của lịch sử. Mùa Vọng nhắc nhở ta điều thiết yếu đó. Hồng y John Newman viết: "Trong nền tu đức Mùa Vọng, Đức Kitô xuất hiện như một người đã có mặt đó rồi và đồng thời vẫn không ngừng được chờ mong. Và người Kitô hữu sống nền tu đức này là một con người chờ đợi Đức Kitô. " Vậy chờ mong, hy vọng là thái độ cốt yếu, căn bản, thường xuyên của người tin Chúa. Không phải chỉ trong vòng bốn năm tuần trước lễ Giáng sinh. Chúng ta có một mục đích cuối cùng hết sức rõ ràng. Chúa Giêsu ở cuối đường ta đi, Người mang tới cho đời ta ý nghĩa chung cuộc, và đồng thời Người cũng đang tiến đến đ1on gặp ta trong từng giây phút, từng cảnh ngộ ... của cuộc đời. Ở đời, người ta mong chờ mà thường thường với nỗi thấp thỏm, lo sợ vì ta thường bị hụt hẫng, bị lừa dối v. v. Còn người Kitô hữu chờ mong mà luôn vui tươi, bình an, cởi mở.

Sống bằng chờ mong và hy vọng căng ta ra phía trước. Bởi thế, tôi xin dùng một cách nói khác để tóm tắt những lời cảnh cáo của Mùa Vọng: Đừng chùng xuống!

Vài kinh nghiệm

Ta biết thế nào là "chùng xuống". Kinh nghiệm người xem một trận bóng đá. Đầu trận, các cổ động viên của đội bóng tràn trề hy vọng, họ hò hét, họ vỗ tay, nhiều khi ca hát, hô khẩu hiệu, đánh trống, bóp còi... Họ căng ra chờ một may mắn có thể đến (và đối với họ lúc đầu là nhất thiết phải xảy ra). Nhưng giả sử đội của họ bị dẫn bàn trước, họ đã bớt náo nhiệt đi một phần, nhưng dù sao hy vọng vẫn chưa hết. Giả sử hai phần ba giờ thi đấu đã trôi qua mà đội của họ vẫn chưa thắng được bàn nào, thì sao? Họ chùng xuống rõ ràng, không hò hét, không kèn trống như trước nữa..., hy vọng của họ tan dần, có người đã bỏ về trước, cho đến khi tiếng còi tan trận cất lên thì hy vọng nhường chỗ cho thất vọng.

Một kinh nghiệm lịch sử. Năm 2005 này, hầu hết--nếu không phải là tất cả các giáo xứ gốc địa phận Vinh tại miền Nam mừng kỷ niệm 50 năm thành lập. Chúng ta còn nhớ: những năm đầu, bà con các nơi mới định cư ấy vừa xây dựng cuộc sống mới vừa hướng về quê cũ, hướng về nơi chôn nhau cắt rốn, nơi họ còn mồ mả cha ông và rất đông bà con ruột thịt còn sống, và họ vẫn chờ một ngày đoàn tụ. Nhưng rồi thời gian cứ trôi qua mà "ngày về" càng ngày càng trở nên mù mịt, những tâm tình, những kỷ niệm về quê cũ cũng phai nhạt dần, niềm hy vọng đoàn tụ chùng xuống, cho đến lúc nào đó tất cả chỉ còn là "chuyện ngày xưa". Bây giờ họ sống và làm việc như chỉ còn một quê nữa mà thôi: chốn quê trước kia là quê mới bây giờ trở thành quê "cũ", quê duy nhất.

Lịch sử Giáo Hội cũng đã từng trải qua kinh nghiệm tâm lý và tinh thần tương tự. Các Kitô hữu tiên khởi nao nức phấn khởi sống hướng về ngày Chúa đến mà nhiều người nghĩ là sắp xảy ra ngay trong cuộc đời họ. Niềm hy vọng đó chi phối toàn bộ cuộc sống của họ, nói chung là tích cực. Cộng đoàn Giê-ru-sa-lem thời đầu là một bằng chứng, đó là một "sáng tạo" kỳ diệu của niềm hy vọng Kitô giáo. Đề tài Chúa quang lâm là một đề tài khá quan trọng trong giáo huấn của các tông đồ. Vào khoảng cuối thập niên 50 (thế kỷ thứ nhất), thánh Phao-lô vẫn khuyên các tín hữu Ro-ma: "Anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn ngày gần đến. Chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Đức Kitô" (Rm 13, 11-13). Chúa trở lại là điều chắc chắn, niềm hy vọng Chúa quang lâm là có cơ sở. Nhưng với thời gian, nhiều người bắt đầu hoang mang và mất kiên nhẫn, khiến thánh Phê-rô phải giải thích: "Xin anh em đừng quên: đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày. Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người nhẫn nại với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải. Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm" (2 Pr 3, 8-10). Thánh Gia-cô-bê cũng đề cập tới tình hình này: "Xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm. Kìa xem nhà nông, họ kiên nhẫn chờ đợi cho đất trổ sinh hoa màu quý giá..." (Gc 5, 7).

Hãy giữ vững hai đầu dây!

Như trên đã nói, đời sống Kitô hữu thiết yếu căng về phía trước bởi một niềm hy vọng đặt cơ sở trên chính lời Chúa hứa và được củng cố bởi một biến cố lịch sử đã qua, là cuộc giáng lâm lần thứ nhất của Chúa cùng với cái chết và sự phục sinh của Người. Tình cảnh Kitô hữu không dễ dàng: họ không được chùng xuống, nhưng luôn phải hướng về mục tiêu cuối cùng, phải để cho mục tiêu ấy điều động cuộc sống hiện tại của mình, nhưng đàng khác họ lại không được vì hướng về đó mà lơ là với hiện tại, với cuộc sống tại thế, với xã hội và lịch sử mình đang tham gia. Vừa nhập thế, vừa xuất thế, khó thật! Nhiều Kitô hữu xưa cũng như nay và mọi thời không chịu đựng nổi hai đòi hỏi có vẻ mâu thuẫn này. Họ ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Họ có quê hương ở đây nhưng quê hương thật lại ở trên trời. Họ phải dấn thân vào đời nhưng không để cho đời trói buộc. Nói đừng chùng lại, có nghĩa là phải nắm vững cả hai đầu dây, đừng chọn một bỏ một cho dù đó là cám dỗ thường xuyên mà người Kitô hữu phải đối đầu. Thật ra thì đa số chúng ta vẫn thường thích dấn vào hiện tại hơn, dành ưu tiên -không phải trong lý thuyết nhưng trong thực tế- cho cuộc sống trần gian hơn. Một trong những mục đích của mùa Vọng là tăng cường ý thức của chúng ta về thân phận rất đặc biệt của mình để củng cố niềm hy vọng cánh chung và mời gọi ta sắp xếp lại mọi sự cho ăn khớp với cùng đích cuối cùng của cuộc đời. Vì thế tôi nhận thấy rằng phụng vụ thánh lễ mùa Vọng lặp đi lặp lại nhiều lần hai lời nguyện sau đây: "Lạy Chúa, Chúa đã dùng bí tích Thánh Thể để dạy chúng con là những kẻ lữ hành dưới thế biết mến yêu và gắn bó với những thục tại bền vững trên trời". "Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con được tham dự vào mầu nhiệm thánh… Giờ đây xin Chúa thương dạy dỗ để chúng con hằng khôn ngoan sáng suốt cân nhắc những thục tại trần gian và luôn thiết tha với những thực tại bền vững trên trời".

Vừa nhập thế vừa xuất thế: khó thật nhưng không phải là không thể được vì chính Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Thiên Chúa nhập thể và phục sinh đã nêu gương cho ta, và Người vẫn ở với ta để ban ơn giúp sức cho ta.

28/11/2005

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.