Cau Xin Me

ĐỪNG VỘI VUI MỪNG VÌ CÓ NHIỀU ƠN GỌI

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Tôi viết mấy suy nghĩ này đã khoảng 6 năm rồi, nhưng đến hôm nay vẫn được các nhà huấn luyện tu sĩ  tham khảo. Bản thân tôi đọc lại, cũng thấy chưa lỗi thời. Xin trích đăng để giới thiệu với bạn đọc.

Các linh mục, tu sĩ ngoại quốc khi đến nước ta, rất đỗi ngạc nhiên thấy đời tu phát triển mạnh mẽ và sống động như thế ngay tại một nước cộng sản vô thần. Điều chúng ta thường nghe họ nói là : "Hãy gởi tu sĩ Việt Nam đi truyền giáo cho chúng tôi !" Sau khoảng hơn một thập niên bị thu hẹp, nay tất cả các dòng đều phát triển trở lạ khá mạnh mẽ về số người nhập tu cũng như về hoạt động. Chắc chắn hầu hết các dòng đã tăng số so với hồi trước 30-4-75, có thể có dòng tăng gấp hai hay hơn nữa. Dĩ nhiên nếu không có biến cố 1975 số tăng ấy chắc còn cao hơn, xét theo tình hình phát triển bình thường. Dù gặp nhiều khó khăn dưới chế độ cộng sản, đời tu ở Việt Nam chưa bao giờ bị cấm hay bị giải tán như ở một số nước cộng sản Đông Âu trước đây.

Riêng đối với một số các dòng "nhỏ" và các tu hội đời, thời gian qua là một cơ hội phát triển thuận lợi hiếm có, khi hoàn cảnh chung đã kéo các dòng lớn nhỏ và tu hội lại với nhau, làm việc với nhau, thu hẹp những cách biệt mà bình thường có lẽ không bao giờ chính các người trong cuộc có thể làm nổi. Đặc biệt trong vấn đề đào tạo. Thời trước, ít dòng "nhỏ" và họa hiếm các tu hội đời có khả năng tự mở ra các nhà huấn luyện triết học, thần học cho riêng mình, vì thế sự phát triển của họ thường bị chậm lại. Nhưng từ ít lâu nay, các thành viên của họ cũng ngồi học chung với tu sĩ của các dòng "lớn" như Đa Minh, dòng Tên, Phanxicô, Cứu Thế...trong trung tâm đào tạo chung của Liên Dòng hoặc tại học viện riêng của các dòng lớn này. Tỉ lệ số sinh viên của họ cũng không nhỏ so với các dòng lớn.

Tóm lại chúng ta có nhiều lý do để vui mừng. Tuy nhiên nhìn kỹ vào tình hình, chúng ta có không ít điều phải băn khoăn. Chưa thể nói tới một sự bùng nổ ơn gọi tu trì ở Việt Nam, nhưng chắc chắn là có một thứ "cao trào" đi tu xảy tới sau thời gian mở cửa, khiến chúng ta lạc quan, phấn khởi và biết đâu chúng ta đang sống trong một thứ an toàn giả tạo? Dẫu biết rằng Chúa dùng mọi hoàn cảnh để làm công việc của Người. Chẳng hạn, Người có thể dùng ngay sự nghèo khổ, sự thiếu cơ hội thăng tiến tự nhiên hay tình trạng gia đình đông con làm cơ hội thôi thúc người ta nghĩ tới việc dâng hiến cuộc đời cho Người trong dòng tu. Cũng như đôi khi một người thất bại trong cuộc đời có thể nhân đó mà làm một cuộc hoán cải tốt lành, thánh thiện. Nhưng trong những trường hợp như thế, cần phải có một sự nhận định kỹ càng, một cuộc "biện phân" (discernement) sáng suốt, và thường là một cuộc thanh luyện ý hướng của người ứng viên. Tóm lại cần phải có một nền huấn luyện thật kỹ và tốt.

Tưởng không có gì lạ khi đa số ơn gọi mới của chúng ta đến từ thôn quê bởi vì có đến 80% dân số nước ta sống ở vùng nông thôn. Cũng không có gì phải ngạc nhiên khi một số người trẻ ở Bắc tìm cách gia nhập các dòng tu ở phía Nam. Nhưng nếu các dòng chỉ nhằm gia tăng con số tu sinh sau nhiều năm "khan hiếm" mà coi nhẹ khâu tuyển chọn và đào tạo, thì trong tương lai họ có thể gặp nhiều khó khăn. Tương lai của một hội dòng không đơn giản tùy thuộc vào số lượng. Một trong những việc hệ trọng nhất trong huấn luyện là "tháp tùng cá nhân" (accompagnement personnel). Nhưng làm sao tháp tùng được khi người huấn luyện quá ít mà người thụ huấn quá đông ? Nghe nói có đơn vị vỏn vẹn chỉ có vài ba người mà nhận vào hàng loạt, thậm chí cá biệt có đơn vị thâu nhận cả trăm ứng viên "người lớn". Phẩm chất tu sĩ không thể được sản xuất ra theo kế hoạch, hay theo sê-ri.

Chúng ta nên đặc biệt lưu ý tới những trường hợp người nhập tu được hứa hẹn trước sẽ được học cao, hay được gởi đi ngoại quốc. (Hiện nay càng ngày cnàg có nhiều dòng đến tuyển ơn gọi hay tìm cách thiết lập tại Việt Nam). Rất có nguy cơ là những người xin nhập tu này đi tìm thăng tiến bản thân trước, rồi nếu được thì cũng tìm Chúa luôn thể (trừ ra khi đạt tới thăng tiến rồi, chẳng cần Chúa nữa)!

Chúng ta cần ý thức rằng việc huấn luyện ngày nay khó khăn phức tạp hơn trước nhiều. Các ứng viên ngày nay thường lớn tuổi hơn, vì số đông các dòng không còn "đệ tử viện" hay "tiểu chủng viện" nữa. Khi đến với ta, họ đã phần nào định hình rồi, đã tiêm nhiễm nhiều "giá trị" của nền văn minh mới như tiện nghi, hưởng thụ, tiền bạc, tự do, thành công, hoặc những tính xấu đặc thù của xã hội Việt Nam hiện nay, như thiếu ý thức về trách nhiệm, về công bằng, về sự thật... Thời gian họ được chính thức huấn luyện trong dòng lại ít hơn trước.

Chỉ nguyên việc đào tạo trí thức cũng đang có vấn đề khó khăn. Trình độ giáo dục trong cả nước ở mọi cấp vẫn còn thấp kém. Người học sinh, sinh viên tuy phải học nhồi nhét nhiều hơn nhưng không mấy khi ngang tầm với mức họ phải đạt được. Một học sinh lớp 10 không đạt mức thông thường của lớp 10. Một cử nhân Anh văn, Pháp văn chỉ có trình độ "cử nhân" trên bằng cấp còn trên thực lực, mới chỉ "mấp mé" là cùng. Việc đào tạo trong các chủng viện và học viện dòng tu đều bị ảnh hưởng. Nói chung trình độ bị kéo xuống thấp và khá chênh lệch giữa các "nhóm". Điều đáng lo là đã hình thành nơi người trẻ cái ý nghĩ cho rằng tình trạng trí thức thấp kém của người tu sĩ, linh mục như thế là bình thường, trong lúc lẽ ra phải coi đó là rất bất bình thường. Một linh mục không đọc được một ngoại ngữ thông thạo, trước 1975 là chuyện khó chấp nhận và cũng hiếm có, còn nay lại được coi là "tự nhiên". Vậy mà ta cứ vẫn nói thế kỷ 21 là thế kỷ của tri thức!

Dù sao, huấn luyện ở mặt ngoài vẫn còn dễ. Chẳng hạn huấn luyện cho có một số kiến thức hay kỹ năng, huấn luyện cho biết làm việc, cho có những thói quen tốt, những thái độ, tác phong gọi là của nhà tu, thậm chí một vài đức tính riêng phải có nơi người tu sĩ, vẫn là điều không khó.

Nhưng một nền huấn luyện đích thực phải nhằm biến đổi con người ở chiều sâu, tạo nên một căn tính mới bên trong, được thấm nhuần bởi các giá trị Phúc âm thay thế cho những giá trị giả tạo của trần thế. Huấn luyện phải giúp ứng viên có cảm nghiệm về Thiên Chúa trong cuộc sống mình. Khi người ta nói các nhà huấn luyện tu sĩ cần phải "đòi hỏi" (exigeant) thì họ không có ý nói cần phải khắt khe, chi li với người thụ huấn, song phải nhất quán và triệt để như Chúa Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ của Người. Tình yêu đối với Chúa phải là trên hết. Quyền lợi của Nước Chúa phải là ưu tiên. Thiếu tình yêu ấy, sớm muộn người tu sĩ sẽ cảm thấy đời tu nặng nề và thậm chí vô nghĩa. Vậy phải xây dựng con người nội tâm sâu, vững. Nếu tu sĩ chỉ dựa vào những cái bên ngoài như công việc, học vấn, địa vị, nghề chuyên môn..., họ sẽ khó đứng vững mãi, hoặc có chăng, đó chỉ là một đời tu quá tầm thường.

Trên đây là đôi điều nhận xét và gợi ý chung. Nếu có một cuộc nghiên cứu tình hình các dòng Việt Nam sâu sắc hơn, khoa học hơn, chắc chúng ta có thể rút ra những bài học thiết thực hơn. Trong bài này tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng con số người nhập tu đông không phải là dấu hiệu hiển nhiên về tình trạng tốt đẹp của một dòng tu, và rằng tương lai của các dòng tùy thuộc vào chất lượng của việc huấn luyện hôm nay.

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.