|
||||||
GIÁO HỘI SAU WTOLm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới ngày 7-11-2006 sau 11 năm đàm phán, và như thế đã cơ bản hoàn thành tiến trình hội nhập sau 20 năm đổi mới. WTO là một định chế quan trọng của toàn cầu hóa. Sau đó, chúng ta lại tổ chức rất thành công Hội nghị APEC, tức Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, từ 12 đến 19-11-2006. Ngoài ra, Việt Nam còn là ứng cử viên duy nhất khu vực châu Á cho chiếc ghế không thường trực của Hội đồng Bảo an Liệp Hiệp Quốc. Tất cả những sự kiện đó chứng tỏ phần nào rằng chúng ta có khả năng, có thực lực và xứng đáng tham gia và góp phần tích cực của mình vào đời sống cộng đồng quốc tế. Trong dịp này, các phương tiện truyền thông xã hội trong nước phấn khởi nói tới cơ hội mới, vận hội mới, thời cơ mới, vị thế mới cho đất nước ta, trước hết là về mặt phát triển kinh tế. Báo chí không dấu nổi niềm tự hào khi viết rằng con tàu Việt Nam đã đi ra biển cả. Nhưng may thay, người ta cũng không quên lưu ý rằng nhiều khó khăn, thách thức và cả những biến động đang chờ đợi đời sống chúng ta sau khi gia nhập WTO. Đó là về phía xã hội. Còn về phía Giáo Hội ta thì sao? Đời sống Giáo Hội sẽ gặp những thuận lợi và thách thức nào? Chắc chắn các vị lãnh đạo Giáo Hội cũng đang suy nghĩ về vấn đề này. Tôi cho là như thế, bởi vì chỉ ba ngày sau Hội nghị APEC thôi, không biết vì đang phải làm một bài có liên quan hay vì lý do nào khác mà hai chủng sinh cũng đã hỏi tôi về tình hình Giáo Hội sẽ ra sao sau WTO? Trên báo CGVDT số 1585 tuần rồi, Đức cha Bùi Tuần đã rất nhanh nhạy đưa ra vài suy nghĩ sơ khởi trong bài "Sống đạo trong thời điểm mới" (tr 16-17). Phần tôi trong bài này, tôi không nhấn mạnh tới những tác động tích cực có thể có trên bình diện tôn giáo do việc gia nhập WTO, chỉ thử nêu lên một vài tình hình khó khăn và thách thức cho đời sống Kitô hữu và cho công tác mục vụ của Giáo Hội chúng ta. Tôi nghĩ việc này không khó lắm. Tiến trình mở cửa hội nhập đã khởi sự từ khoảng vài chục năm nay rồi, và trong thời gian đó, chúng ta đã bắt đầu thấy được những gì là thuận lợi và những gì là tiêu cực, là cám dỗ, là thách thức mà nó đem đến cho Giáo Hội. Sắp tới, với việc hội nhập trọn vẹn vào thế giới, các yếu tố ấy, cả tích cực lẫn tiêu cực, chắc chắn sẽ tiếp tục trên bình diện rộng hơn, với cường độ lớn hơn. Trước hết, tự do thương mại sẽ được áp dụng ngày càng triệt để hơn theo hai chiều: hàng hóa ta đi ra và hàng hóa ngoài đi vào hầu như không còn gặp cản trở nào. Đầu tư ngoại quốc sẽ tăng mạnh. Nhiều công ty nước ngoài sẽ vào làm ăn trong nước. Các quy luật của kinh tế thị trường sẽ được áp dụng triệt để. Sự cạnh tranh sẽ rất gay gắt. Mạnh được, yếu thua, tuy là trong khuôn khổ luật pháp chứ không phải luật rừng. Chắc chắn nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ không tồn tại nổi; nhiều loại hàng hóa ta sẽ dần dần biến mất khỏi thị trường. Người dân sẽ được mua những hàng hóa ngoại nhập chất lượng cao, đa dạng và giá rẻ. Nhưng đồng thời người ta dự đoán nạn thất nghiệp sẽ gia tăng ít nhất là trong một thời gian thích nghi đầu, và đời sống nông dân sẽ đặc biệt khó khăn. Sự chênh lệch nông thôn và thành thị, giàu và nghèo mà chúng ta đã bắt đầu chứng kiến trong những năm mở cửa vừa qua sẽ càng sâu rộng hơn nếu không có một chính sách thật tốt của nhà nước. Những xáo trộn xã hội và gia đình là khó tránh. Chỉ bấy nhiêu yếu tố đã đặt ra nhiều thách thức cho đời sống đạo rồi. Từ mấy năm nay, tình hình người giáo dân bỏ làng mạc đổ xô vào các thành phố lớn kiếm việc làm đã khiến cho nhiều giáo xứ phải ít nhiều lao đao và đời sống gia đình cũng bị ảnh hưởng. Một số linh mục coi xứ muốn ngăn cản bằng cách đưa ra những đòi hỏi gắt gao về học giáo lý, về hôn phối v. v. , nhưng những biện pháp kiểu đó nói chung ít thành công. Các ngài phàn nàn rằng giáo dân đi làm ăn xa có thể tiêm nhiễm nhiều thói hư tính xấu của đời sống tự do nơi đô thị. Những lo âu như thế là chính đáng từ quan điểm của người mục tử. Nhưng việc người dân lo lắng cho đời sống vật chất của họ, của gia đình họ cũng hoàn toàn chính đáng, không thể dùng "sự đạo" mà ngăn chận lại. Sắp tới, xu thế di dân tạm thời đó chắc sẽ còn gia tăng hơn nữa. Thái độ mục tử chân chính là yêu thương, thông cảm, nâng đỡ và tìm kiếm một đường lối mục vụ thích hợp, thay vì nghi ngờ, kỳ thị hay làm khó dễ. Thật ra, thời gian qua nhiều nơi cũng đã tích lũy được một số kinh nghiệm tích cực trong mục vụ đối với người di dân mà trong tình hình mới nên được đúc kết và nhân rộng ra. Mục vụ cho di dân chắc chắn phải quan tâm trước tiên đến đời sống đạo của họ, nhưng cũng nên để ý tới các vấn đề khác của họ như sức khỏe, nghề nghiệp, nhà trọ, giải trí... đến cả vấn đề công bằng xã hội nữa. Cuộc sống đầy cạnh tranh khắc nghiệt trong xã hội công nghiệp sẽ tạo ra những người nghèo mới, những người không có nghề chuyên môn, những người bị đẩy ra rìa xã hội, những người thất nghiệp, v. v. Xu hướng của nhà cầm quyền, nhất là trong giai đoạn đầu của công cuộc phát triển là dành ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ hay gạt ra ngoài các mặt khác của sự phát triển. Đây sẽ là lúc Giáo Hội chứng tỏ mình ưu tiên chọn lựa người nghèo. Để thoát nghèo và có thể hội nhập vào xã hội công nghiệp hóa, người nghèo cần được giáo dục. Đó là một việc Giáo Hội có thể làm để giúp họ. Đàng khác Giáo Hội sẽ có nhiều dịp thi hành chức năng ngôn sứ của mình, để nhắc nhở nhà cầm quyền về khía cạnh đạo đức của đời sống kinh tế, sao cho con người được coi là chủ thể và mục tiêu của mọi sự phát triển đích thực và bền vững. Thiển nghĩ giáo huấn xã hội của Giáo Hội cần được phổ biến sâu rộng hơn. (Tôi cũng đang lặp lại giáo huấn Giáo Hội đó thôi!) Như đã nói, rồi đây hàng hóa sẽ dần dần tràn ngập xã hội; đất nước chắc sẽ giàu có phồn vinh; tinh thần tiêu thụ sẽ được kích thích, rồi dần dần chủ nghĩa vật chất và óc hưởng thụ sẽ xâm nhập quần chúng, nhất là giới trẻ. Chưa kể những mặt tiêu cực khác của nền văn hóa Tây phương sẽ còn gia tăng hơn bây giờ. Đời sống đạo khó mà tránh khỏi những tàn phá của trào lưu vật chất và hưởng thụ này. Lối giáo dục tôn giáo khung lại trong ranh giới giáo xứ "an toàn", thiên về "bảo vệ" và hình thức kinh lễ sẽ tỏ ra bất cập. Đàng khác, trình độ văn hóa của người dân cũng sẽ cao hơn, đòi hỏi nơi các chủ chăn một cách cư xử khác với cách cư xử đang phổ biến nơi không ít linh mục hiện nay. Trong một tương lai nào đó, giáo dân ta chắc sẽ không còn "dễ bảo" như bây giờ! Ơn gọi và đời sống tu sĩ và linh mục sẽ ra sao sau WTO? Chắc chắn sự phồn vinh chưa phải là chuyện của nay mai. Ơn gọi tu sĩ, linh mục sẽ vẫn còn hấp dẫn, nhất là đối với thanh niên thiếu nữ vùng nông thôn, nhưng rồi sẽ giảm dần theo đà phát triển vật chất, như đã xảy ra với tất cả các Giáo Hội khác. Nhưng chỉ ít năm sau khi có chính sách mở cửa và phát triển kinh tế thị trường, chúng ta đã thấy tinh thần thế tục và tinh thần hưởng thụ bắt đầu tác động lên đời sống tu sĩ và linh mục. Chước cám dỗ của quyền hành và của tiền bạc, tiện nghi là rất mạnh và không ít người đã ngã theo. Hơn lúc nào hết, sống vững vàng lý tưởng tu sĩ linh mục ngày nay đòi hỏi rất nhiều hy sinh, từ bỏ, kỷ luật bản thân và can đảm bơi ngược dòng. Xin kết thúc với lời nhắc nhủ của Đức Thánh Cha Bê-nê-đích-tô với các Bề trên Tổng quyền tại Rôma vào khoảng cuối tháng 5 năm 2006 này như sau: "Văn hóa trần tục đã xâm nhập vào trí khôn và con tim của không ít những người thánh hiến khiến họ nhìn thấy trong đó một hình thức để bước vào tính hiện đại và xích lại gần với thế giới đương đại [...] Hậu quả là: tuy chắc chắn cuộc đời thánh hiến biểu lộ một sức sống quảng đại có thể đưa tới chứng tá và sự dấn thân trọn vẹn, nhưng hiện nay nó vẫn đang đứng trước cạm bẫy của sự tầm thường, tình trạng trưởng giả hóa và não trạng tiêu thụ... Cần phải có những chọn lựa can đảm ở cấp độ cá nhân và cộng đoàn để đặt một kỷ luật mới lên đời sống của con người thánh hiến và giúp họ tái khám phá ra chiều kích toàn diện của việc bước theo Đức Kitô" (Theo Bản tin Zenit 23. 5. 2006). Những lời nhắc nhở này có lẽ nhằm trước tiên vào giới tu sĩ trong các nước phát triển cao, nhưng cũng rất thiết thực cho giới tu sĩ Việt Nam ta sau WTO; và chúng cũng có thể áp dụng cho hàng giáo sĩ chúng ta nữa. |
||||||
|
Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu. |