Cau Xin Me

KIẾP LÀM DÂN

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Sáng nay 27. 9. 2006, cầm báo Tuổi Trẻ lên, như thường lệ tôi nhìn trước tiên vào Mục "Đọc gì trong số này" được đóng khung ở góc phải trang 1, và mắt tôi dừng lại ngay nơi bài: Tiền trường đầu năm: Choáng! Bài báo tóm tắt bằng chữ đậm ở đầu bài nội dung như sau: "Tiền mua tivi, đầu máy. Tiền nâng cấp phòng vi tính, mua bàn ghế. Tiền hội phụ huynh trường, hội phụ huynh lớp. Tiền học thêm Anh văn, vi tính... Đủ thứ "linh tinh phí" gộp lại trong các khoản thu đầu năm của các trường tại TP. HCM khiến không ít phụ huynh ... choáng! Trong đó, rất nhiều khoản tiền được các trường thản nhiên qui vào hai chữ: tự nguyện!" Liền sau đó là phần "khai triển" với tiểu đề khá ấn tượng: Gánh nặng "trọn gói!" (Lại dấu than [!]. Bài này dùng nhiều dấu than). Trường THCS Lê Quí Đôn quận 11: nếu tính cả tiền bảo hiểm và hội phu ïhuynh thì tổng số tiền mà một học sinh bán trú phải đóng lên tới trên 1, 5 triệu đồng... Trường THCS Phan Bội Châu quận 12 có nhiều khoản linh tinh phí khác nhau như: riêng khoản ấn phẩm, ngoài sổ liên lạc, học bạ (dành cho học sinh lớp 6), phù hiệu, còn có cả tiền mua đơn xin phép, túi kiểm tra, thư mời (!) và cả giấy thi trong khi phần đề thi và giấy thi đã được thu thành một khoản riêng. Hơn nữa, theo qui định thì giấy thi chỉ là 5.000đ/năm nhưng trường đã thu gấp đôi, tức 10.000đ/năm, v. v. Trường tiểu học Bình Chiểu, quận Thủ Đức còn "sáng tạo" hơn khi đưa thêm những khoản thu gọi là "thỏa thuận" bên cạnh những khoản thu được Bộ GD-ĐT cho phép; trong khoản thỏa thuận có học phí Anh văn tự chọn, vi tính, quĩ hội phụ huynh, quĩ lớp, quĩ nụ cười hồng ... (Chả hiểu quĩ nụ cười hồng là gì! Muốn bày vẽ gì mà chẳng được). Có những trường bắt phụ huynh đóng góp để trang bị bàn ghế, máy móc với mục đích mở lớp tăng cường Anh văn mà đáng lẽ ra, theo qui định, chính nhà trường phải tự lo cơ sở vật chất trước khi được phép mở lớp.

Và còn nhiều, nhiều trường hợp khác được đề cập tới rất cụ thể trong bài báo, tất cả đều làm cho phụ huynh học sinh phải điên đầu, choáng váng, còn những độc giả ngoài cuộc như tôi phải đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác và cuối cùng không tránh khỏi một tâm tình phẩn uất nào đó trước cảnh người dân cứ phải è cổ chịu đựng năm này qua năm khác những gánh nặng phi lý trong một chế độ chính trị xã hội nói là do dân và vì dân! Ở xã hội khác, nếu gặp cảnh này có lẽ người dân còn có cách phản đối nào đó (như biểu tình, đình công, công khai tranh luận hay tự do chọn một trường khác vừa ý), còn ở ta, chính quyền -cụ thể là các sở, phòng giáo dục- cũng thường đứng về phía nhà trường hơn là phía nhân dân, thì còn làm được gì khác hơn là chịu đựng. (Nếu không muốn tin, xin hãy đọc lại phát biểu của ông Giám đốc Sở Giáo dục-Đào tạo Huỳnh Công Minh của Tp. HCM ngày 24. 9 mới đây). May mà còn báo chí, nhưng không thể chờ đợi báo chí làm thay đổi tận gốc mọi tình hình xã hội.

Cách nay mới năm ngày thôi, tôi có hai đứa cháu gọi tôi bằng chú ruột ở Nghệ An vào thăm. Khi nói tới đòi sống bà con ngoài ấy, chúng nó cũng nói ngay tới đủ loại phí mà người dân phải đóng góp cho địa phương, không kể nhiều khoản đóng góp cho nhà trường vì có con đi học. Chúng kể lể với giọng phàn nàn nhưng ... an phận, như thể đó là những chuyện không cách nào và "đời nào" tránh khỏi.

Tôi nhớ lại ngày xưa mỗi lần đề cập tới chế độ thực dân người ta thường nói tới sưu cao thuế nặng do chính quyền đặt ra để bóc lột người dân. Rồi qua thời chiến tranh chống Pháp, người dân vẫn phải tiếp tục đóng góp hết sức nặng nề. Tôi không thể quên những năm kháng chiến dành độc lập ở Thanh-Nghệ-Tĩnh-Bình (Liên khu IV), rất nhiều các gia đình nông dân phải bán trâu bò, ruộng vườn hay của cải khác để đóng thuế vì mức thuế do cán bộ áp đặt cho mỗi loại ruộng là "trên trời dưới đất", không căn cứ vào đâu cả, đem toàn bộ lúa thóc thu hoạch được để nộp thuế vẫn không đủ. Thôi thì lúc đó còn có lý do "toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến", không thể nói là nhân dân bị bóc lột được. Vào thời chống Mỹ, miền Bắc đã được hợp tác hoá hết, thuế má ra sao tôi không biết nhưng chắc chắn phần đóng góp của nhân dân về mọi mặt phải là vô cùng to lớn. Tình trạng này cũng có thể biện minh được và dễ đuợc người dân chấp nhận khi mà người cầm quyền cũng đồng cảnh ngộ với toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh hô hào rằng giải phóng xong, đất nước sẽ được xây dựng giàu mạnh hơn gấp nhiều lần để cho nhân dân bớt khổ. Đến nay, hơn 30 năm sau khi hoà bình trở lại, tuy đời sống nhân dân đã khá hơn lên nhiều nhờ chính sách mở cửa, nhưng sự chênh lệch giàu nghèo lại cũng tăng thêm, và người dân, nhất là nông dân vẫn cứ là tầng lớp chịu thiệt thòi hơn cả trong hoạch định các chính sách và phân phối của cải. Nói không còn đấu tranh giai cấp nữa là nói theo lý thuyết, còn trên thực tế rõ ràng vẫn còn giai cấp trên, giai cấp dưới, giai cấp trên thì đầy quyền lực và của cải, giai cấp dưới vẫn là thấp cổ bé miệng, bị "hành" đủ cách. Có vẻ như khi cần đến thì người ta đề cao nhân dân, nhưng khi đã nắm quyền và đụng tới quyền lợi thực tế, người ta lơ là với những người đã hy sinh cho đại sự của dân tộc.

Tôi lại nhớ tới thái độ Chúa Giêsu đối với đám quần chúng lầm than cơ cực ở Palestin xưa. Các sách Tin Mừng nhiều lần nói tới lòng thương xót Người dành riêng cho dân chúng. Tác giả Matthêu viết: "Đức Giêsu thấy đám đông, Người chạnh lòng thương vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt" (Mt 9, 36). Giai cấp lãnh đạo thời bấy giờ khinh miệt họ, coi họ là đám dân ngu khu đen, chất lên vai dân những gánh nặng nề là đủ thứ luật lệ và không màng chi tới quyền lợi của họ. Ngược lại Chúa Giêsu đứng hẳn về phía họ, bênh vực họ, chăm sóc, an ủi, khích lệ họ. Người mời gọi: "Tất cả những ai đang đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường" (Mt 12, 28-29). Và dân chúng đã nhận ra ai là người của họ nên họ thường kéo đến quanh Đức Giêsu nghe Người giảng dạy và xin Người cứu giúp phần hồn phần xác.

Những ngày tháng sau 30.4.75--và trong thời gian dài sau đó--người dân công giáo ở phía Nam cảm thấy bơ vơ lạc lõng trong một xã hội còn xa lạ với họ và chắc chắn là không có cảm tình với họ. Lòng họ mang nặng nhiều mặc cảm và lo sợ. Lúc bấy giờ, tôi nhớ rất rõ, chính Giáo Hội, chính những cộng đoàn giáo xứ, cộng đoàn tu trì là những nơi rộng mở đón nhận họ, những nơi họ cảm thấy mình còn được yêu thương, tin tưởng, tôn trọng, nên họ rất thích tìm đến. Thời bấy giờ họ thấy rõ Giáo Hội là của mình, cho mình. Đối với họ, Giáo Hội đóng vai trò tương tự như Chúa Giêsu xưa đối với đám quần chúng lầm than và bị hất hủi, bỏ rơi. Thời bấy giờ tôi hiểu rõ thế nào là một Giáo Hội cho người nghèo.

Bây giờ, hơn 30 năm sau, còn có thể nói được như thế nữa không? Hay có thể nói tới mức nào?

(27. 9. 06)

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.