Cau Xin Me

NGHĨ TỪ MỘT LỄ TANG

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

200 phái đoàn ngoại quốc với 10 vị vua chúa, 59 nguyên thủ quốc gia, 17 người đứng đầu chính phủ, 4 chủ tịch quốc hội, 12 ngoại trưởng, 13 bộ trưởng khác, 24 đại sứ, 10 chủ tịch, tổng giám đốc và tổng thư ký của các tổ chức quốc tế (trong đó có ông Kofi Annan) v. v. , đã đến tiễn đưa Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đến nơi an nghỉ cuối cùng: đó là một cảnh tượng chưa từng thấy, một biến cố có lẽ chưa từng xảy ra trong lịch sử nhân loại ở tầm mức như thế. Người ta đã không khỏi thắc mắc: tại sao như thế? tại sao đông đảo giới lãnh đạo chính trị thế giới, những con người đầy quyền lực nắm vận mệnh các quốc gia và thế giới trong tay lại có mặt bên quan tài của một vị giáo hoàng, tuy đứng đầu 1 tỉ 2 người công giáo, nhưng chỉ có quyền "tinh thần" còn "thực quyền vật chất" thì hoàn toàn không đáng kể, - lãnh thổ Vatican chỉ 0, 44km2, dân số chính thức khoảng 1. 000 người, không quân đội, không cảnh sát, không tài nguyên hay quyền thu thuế nào ...? Người ta đã nói nhiều tới lòng ngưỡng mộ, niềm thương tiếc và tri ân đối với vị Giáo Hoàng đã hoạt động không mệt mỏi cho hoà bình thế giới, cho sự hoà hợp giữa các dân tộc và cho các quyền của con người. Điều này là hiển nhiên. Nhưng sự kiện trên còn nói lên điều gì khác nữa không?

Nhà lãnh đạo tinh thần toàn cầu.

Trong khi tìm hiểu, tôi tình cờ đọc được ý kiến khá giống nhau và rất đáng suy gẫm của hai người đến từ hai môi trường rất khác nhau. Người thứ nhất là ông Brzezinski (Bơ-dê-den-xki), cựu cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Jimmy Carter, ông nói trong một bài phỏng vấn của tờ báo Newsweek rất uy tín, số 15 tuần lễ 11-18. 4. 2005: "Điều làm tôi chú ý trong triều giáo hoàng này là ngài được hoan hô khắp nơi -không phải chỉ như người đứng đầu Giáo Hội công giáo, nhưng như nhà lãnh đại tinh thần của thế giới (...) Tôi coi ngài như là vị lãnh đạo tinh thần toàn cầu đầu tiên" (the first global spiritual leader) (tr. 100).

Người thứ hai là ông Trịnh Văn Thảo, giáo sư chuyên ngành xã hội học tại Pháp. Trong cuộc trò chuyện với báo Thể Thao và Văn Hoá (x. số 36, ngày 23. 4. 2005) nhân dịp về nước chủ trì cuộc hội thảo "Các nghiên cứu xã hội về giới trí thức Việt Nam thế kỷ 19-20" tại Hà Nội mới đây, ông phàn nàn rằng trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay vai trò của các nhà "đại trí thức" suy giảm; và ông giải thích đại trí thức là "những người dẫn đường về tư tưởng cho xã hội, nhất là cho giới trẻ; không có họ giới trẻ sẽ mất đà, mất phương hướng. Nhưng qua sự việc Đức Giáo Hoàng Jean-Paul II mất vừa qua, tôi mới thấm thía thêm một điều là đối với con người, đời sống vật chất không thôi chưa đủ, con người ta vẫn cần một bồi dưỡng tinh thần nào đó. Vì thế, tôi vẫn tin trong tương lai, xã hội sẽ lại xuất hiện những đại trí thức giúp cho trước tiên là giới trẻ, có một sự cân bằng trở lại trong tư tưởng sống" (tr. 41).

Nhận định của hai nhân vật trên đây đã gợi ý cho tôi rằng sự hiện diện đông đảo khác thường của giới chính trị toàn cầu trong buổi lễ tang của Đức Gio-an Phao-lô II ngày 8. 4. 2005 tại quảng trường Thánh Phê-rô có ý nghĩa như một sự thừa nhận vai trò lãnh đạo tinh thần của ngài đối với thế giới, đồng thời nói lên một cách gián tiếp vàtrong chừng mực nào đó - sự trống rổng tinh thần của thế giới hùng mạnh hiện đại. Nhưng phải hiểu chữ "tinh thần" ở đây theo nghĩa nào?

Thế nào là lãnh đạo tinh thần?

Theo giáo sư Trịnh Văn Thảo, thế giới hiện nay là một thế giới mất quân bình vì quá chú trọng vào sự phát triển vật chất mà lơ là sự phát triển tinh thần khiến cho xã hội và nhất là giới trẻ mất phương hướng. Ông đưa ra một bằng chứng trong phạm vi chuyên môn của mình, đó là: các ngành khoa học xã hội và nhân văn (thường thiên về tư tưởng, về lý thuyết) đã bị coi nhẹ vì cho là không mang lại lợi ích thiết thực trước mắt, hậu quả là không còn những "đại trí thức" tầm cỡ như triết gia Jean-Paul Sartre bên Pháp sau thế chiến lần thứ hai hay như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, Hồ Chí Minh ở nước ta trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ đến những năm 60 của thế kỷ 20. Ông nói đó là " những người mà tư tưởng của họ vượt qua được rào cản của chính trị và giai cấp, đã trở thành đại diện cho cả một thời đại" (báo đã dẫn, tr 41) và mang lại ý nghĩa sống cho nhiều thế hệ. Ông phàn nàn: "(Bây giờ) cái gì cũng theo chủ trương fast-food, sách triết học còn được viết lại sao cho sáng sủa, dễ đọc hơn để người ta đọc cho nhanh vì không có thời gian. Như thế thì chỉ có thể qua được các kỳ thi nhưng không giúp người ta có tri thức thực sự được. Các công trình nghiên cứu thực sự thì có rất ít người đọc, chủ yếu phục vụ lại cho giới nghiên cứu và tra cứu thôi. Ngay trong gia đình tôi, ba đứa con đều không theo nghề của tôi, chúng cũng học về Sử hay Xã hội học nhưng sau đó chuyển sang làm chuyên gia về những vấn đề thực tiễn hơn như nghiên cứu thị trường hoặc địa dư thành thị". (Nhân đọc ý kiến của giáo sư Thảo, tôi xin thêm một nhận xét riêng: ở nước ta hiện nay, triết học Mác-Lênin được dạy ở nhiều cấp, nhiều ngành kể cả những ngành chẳng liên quan gì tới khoa học xã hội-nhân văn cả, với một thời lượng lớn và phí phạm, nói phí phạm vì kết quả thực sự không đáng kể, và nếu theo tiêu chuẩn của vị giáo sư thì hầu như là con số không).

Như vậy, "tinh thần" mà nhà nghiên cứu nói tới trên đây trước tiên là "tư tưởng", và người dẫn đường "tinh thần" chính là nhà "đại trí thức" như ông đã giải thích trên kia. Nhưng ông nói thêm, cái chết của Đức Gio-an Phao-lô II đã làm cho ông thấm thía thêm một điều là con người cần đến " một bồi dưỡng tinh thần nào đó". Theo thiển ý tôi, xét trong mạch văn, chữ "tinh thần" lần này có thể được hiểu là đời sống "tâm linh" (cái gì đó liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo) hay ít nhất là "đạo đức, đạo lý", --điều mà Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô đã rao giảng không mệt mỏi.

Còn với Brzezinski thì thiết tưởng không cần phải giảng giải thêm, chính ông nói rõ trong bài phỏng vấn, tôi chỉ tóm tắt: vai trò của Đức Gio-an Phao-lô theo ông, không phải là vai trò chính trị như Gorbachev chẳng hạn, nhưng còn hơn nữa, ngài chỉ cho thấy đâu là câu trả lời thật sự cho những vấn đề cơ bản mà con người vào lúc nào đó của đời mình luôn luôn đặt ra, chủ yếu là: tại sao chúng ta sống trên đời? Và chúng ta là ai? Ngài chủ trương con người là trung tâm, là một huyền nhiệm và con người cần phải đi ra xa hơn chính mình để vượt qua được những giới hạn thể lý của đời sống hầu đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Brzezinski giải thích lời kêu gọi "Đừng sợ!" của Đức Thánh Cha lúc mới lên ngôi như sau: "(Nghe thế) bạn phải tự hỏi ngài muốn nói gì? Tôi nghĩ rằng ngài nói tới một cái gì rất cơ bản. Chủ yếu là: nếu anh chị em không vượt ra khỏi giới hạn mình, và nếu anh chị em không nghĩ tới cái gì đó gắn liền với cái phổ quát (chung cho hết mọi người), rốt cục là gắn liền với Thiên Chúa thì cuộc sống thật là đáng kinh đáng sợ. Bởi lẽ nếu không thì chúng ta sống để mà làm gì chứ? Điều đó đụng chạm tới mỗi người."

Nói tới dẫn đường là nói tới hướng đi và cùng đích. Quyền bính chính trị chỉ có một lý do tồn tại là phục vụ công ích, và nói cho cùng là phục vụ con người, không phải một ý tưởng, một học thuyết, một cơ chế... Muốn thế, phải có một quan niệm đúng về con người là ai và phải đi về đâu để thể hiện được khát vọng sâu xa nhất của mình. Thế giới hiện đại hầu như nhất trí lấy con người làm trung tâm (thuyết nhân bản) nhưng lại bất đồng sâu sắc trong quan niệm về con người, về cứu cánh đời người, và cuối cùng đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho con người, như lịch sử thế kỷ 20 và hiện nay cho thấy.

Một quan niệm cao cả về con người.

Tựu trung, cả Brzezinski lẫn Trịnh Văn Thảo đều chống lại việc giản lược con người vào chiều kích thuần vật chất và đề cao khía cạnh đạo đức và siêu việt của nó. Nhưng đó cũng chính là cái cốt lõi trong nhân sinh quan của Đức Cố Giáo Hoàng, là quan điểm từ đó ngài phê phán sự phát triển của nền văn minh hiện đại hoặc đánh giá các ý thức hệ, các cơ chế và chính sách. Con người của thế kỷ 20 đã giàu có hơn, nhiều tiện nghi hơn, nhiều tự do hơn trước rất nhiều, nhưng không thấy hạnh phúc hơn. Là vì người ta không sống chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn hơn nữa bởi tình yêu, tình liên đới, lẽ phải, điều thiện, cái đẹp, phẩm giá, tự do và hoà bình, hoà hợp. Chính những của ăn "tinh thần" đó mới đem lại hạnh phúc thật và một "lẽ sống đáng sống" cho con người. Con người thiết yếu là một chủ thể đạo đức. Đó là sự thật về con người. Dĩ nhiên đối với Đức Thánh Cha, chiều kích đạo đức đó đặt nền tảng cuối cùng trên Thiên Chúa. Nhưng người ta có thể không chia sẽ đức tin của ngài, thậm chí kết án ngài là kẻ "chống lại thời đại chúng ta"ù mà vẫn có thể hiểu và tán thành cái nhìn cao cả trên của ngài về con người. Bởi vì con người ngày nay, tuy bị thu hút mãnh liệt bởi vật chất nhưng tận đáy lòng vẫn ấp ủ một niềm khát vọng thầm kín về nhưng giá trị tinh thần bền vững. Họ có thể phê phán Đức Gio-an Phao-lô là con người đầy nghịch lý (dĩ nhiên theo quan điểm của họ) nhưng khó có thể không thán phục ngài về tính kiên định, lòng dũng cảm và tính nhất quán trong việc rao truyền các xác tín của mình, đặc biệt là bảo vệ con người trong một thế giới mất phương hướng.

Để kết luận, tôi xin mượn tư tưởng sau đây của nhà thần học George Weigel, tác giả của một cuốn tiểu sử ĐGH Gio-an Phao-lô II rất có giá trị, xuất bản năm 1999. Theo ông, khi lên ngôi giáo hoàng, chủ điểm ngài chọn là đem thuyết nhân bản Kitô giáo làm câu trả lời cho cuộc khủng hoảng đang xảy đến với nền văn minh nhân loại trước thềm thế kỷ 21. Ngài cho rằng nhiệm vụ của Giáo Hội không phải là uốn nắn thế giới chính trị khuôn theo chế độ cai trị thần quyền như xưa kia, mà là truyền giảng chân lý về phẩm giá bất khả nhượng và giá trị của con người, nhờ đó uốn nắn chính trị bằng cách kiến tạo một nền văn hoá nhân bản.

Tôi nghĩ chúng ta có thể coi vai trò lãnh đạo tinh thần của ngài đối với thế giới thiết yếu nằm ở chỗ đó.

(29. 6. 2005)

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.