Cau Xin Me

PHẢN BIỆN

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Gần đây người ta đưa ra ý kiến nên giao cho Mặt trận Tổ quốc vai trò làm phản biện xã hội cho các cơ quan chính quyền. Phản biện xã hội, theo tôi hiểu, là đứng theo quan điểm của xã hội, của người  dân để lý luận, phân tích, bày tỏ những lý lẽ, những khía cạnh ngược lại với những dự định, quyết định hay hành động của một cơ quan nắm quyền mong chính quyền cân nhắc kỹ càng hơn, thậm chí xem xét lại quan điểm của mình. Anh định cắt một phần công viên giữa lòng thành phố cho một công ty nước ngoài xây một toà nhà năm chục tầng, tất nhiên anh đã có quan điểm, có lý lẽ riêng của anh, nhưng đã đủ chưa, đã toàn diện chưa?  Quan điểm đó phải chăng chỉ là quan điểm kinh tế, không muốn biết tới những quan điểm chính đáng khác như môi trường, nhu cầu giải trí của nhân dân, cảnh quan? Đó là chưa nói tới trường hợp nhà cầm quyền thông đồng móc ngoặc với nhà đầu tư, một hiện tượng còn phổ biến. Chúng ta đã thấy vô số những quyết định sai do các cấp chính quyền tự ý vội vàng đưa ra, không "được" phản biện hay không thèm nghe phản biện! Việc xây dựng một cơ cấu phản biện là nhằm tránh tính độc chiều, độc thoại, độc đoán, và cuối cùng là sự tùy tiện vốn là những cám dỗ rất lớn đối với những kẻ nắm quyền hành trong tay. Quyền hành càng lớn, cám dỗ độc đoán càng mạnh. Việc xây dựng  cơ cấu phản biện cũng cho thấy một ý thức và một đòi hỏi mới về dân chủ đang lớn dần trong xã hội.

Chấp nhận phản biện như một sinh hoạt bình thường hẳn là rất khó khăn cả đối với người cầm quyền lẫn người dân. Mặc cho các nhà tuyên truyền trước đây ( trước thời Đổi mới) cứ lặp đi lặp lại rằng chỉ trong xã hội ta mới có dân chủ thực sự--"dân chủ tập trung"--còn tư bản chỉ có "dân chủ hình thức", thì ngày nay hầu như mọi cán bộ, đảng viên cộng sản cũng nhất trí rằng con đường xã hội ta phải đi để tiến tới dân chủ thực sự còn rất dài và gay go. Người ta đã "dày công" đào tạo nên những con người không dám có ý kiến riêng và có suy tư phê phán, không dám có sáng kiến và lãnh trách nhiệm--những con người thụ động, rập khuôn, sợ đấu tranh, chỉ biết lặp lại và cúi đầu vâng theo chỉ đạo của "trên" đưa xuống, cho nên không dễ gì mà ngưới có chức có quyền ngày hôm nay lại sẵn sàng nghe những ý kiến khác thậm chí trái ngược của của kẻ dưới quyền, còn người bề dưới cũng không thể một sáng một chiều làm quen với tư duy và sinh hoạt phản biện được. Trước mắt, họ lại còn sợ bị trù dập và thực tế vẫn không ít người bị trù dập khi dám "có ý kiến" với cấp trên. Nói tóm lại cả chính quyền lẫn nhân dân còn phải học tập nhiều để tư duy và hành động trong tinh thần tự do dân chủ căn cứ trên luật pháp.

Tôi đang nói tới xã hội nhưng tôi cũng đã nghĩ tới Giáo Hội. Giáo Hội là một thực tại vừa hữu hình vừa vô hình. Là thực tại vô hình, Giáo Hội là một mầu nhiệm phát sinh từ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng đồng thời là thực tại hữu hình giữa trần gian, Giáo Hội cũng là một xã hội có cơ cấu tổ chức và bao gồm những con người cụ thể như mọi người, do đó Giáo Hội cũng mang bộ mặt nhân loại như các xã hội bình thường. Công đồng Vaticanô II, tuy rất "hiện đại", vẫn không hề đề cập tới "dân chủ" trong Giáo Hội, nhưng  những gì công đồng nói về mối quan hệ giữa các thành phần dân Chúa, đặc biệt giữa chủ chăn và giáo dân, cũng như về quyền lợi và bổn phận của các thành phần trong Giáo Hội, trong thực chất còn nhắm xa hơn các thứ dân chủ trong xã hội và chính trị. Theo tinh thần công đồng, tôi thiết tưởng các vị chủ chăn không có gì phải ngại ngùng khi giả sử có nghe ai nói tới quyền phản biện trong Giáo Hội. Thực ra Vaticanô II cũng đã gián tiếp bàn tới và tiên liệu những cơ cấu thực hiện quyền này. Xin trích dẫn hai bản văn quan trọng:

Hiến chế tín lý về Giáo Hội: "Như con cái Thiên Chúa và như anh em trong Chúa Kitô, giáo dân cũng sẽ trình bày với các chủ chăn những nhu cầu và khát vọng của mình cách tự do và tín cẩn. Nhờ sự hiểu biết, khảnăng chuyên môn và uy tín của họ, họ có thể và đôi khi còn có bổn phận phải bày tỏ cảm nghĩ của mình về những việc liên quan tới lợi ích của Giáo Hội. Họ nên thực hiện điều đó, nếu cần, nhờ vào các cơ quan đã được Giáo Hội thiết lập nhằm mục đích ấy; và họ hãy luôn chân thành, can đảm và khôn ngoan, kính trọng và yêu mến những người thay mặt Chúa Kitô vì nhiệm vụ thánh của các ngài (…). Phần các chủ chăn có chức thánh, các ngài phải nhìn nhận và nâng cao phẩm giá và trách nhiệm của giáo dân trong Giáo Hội, các ngài nên sẵn sàng chấp nhận những ý kiến khôn ngoan của họ, tín cẩn giao cho họ những công tác để họ phục vụ Giáo Hội, cho họ tự do và quyền hạn để hành động; hơn nữa các ngài nên khuyến khích họ tự đảm lấy trách nhiệm. Với tình cha con, các ngài hãy cẩn thận xem xét, trong Chúa Kitô, những kế hoạch, thỉnh cầu và nguyện vọng của họ. Đàng khác, các chủ chăn phải nhìn nhận và tôn trọng sự tự do chính đáng của mọi người trong lãnh vực trần thế" (số 37).

Sắc lệnh Chức vụ và đời sống linh mục: "Các linh mục phải thành thật nhìn nhận và khích lệ phẩm giá và vai trò riêng của giáo dân trong sứ mệnh của Giáo Hội. Các ngài cũng phải thành thật kính trọng sự tự do chân chính mà mọi người có quyền được hưởng trong xã hội trần gian. Các ngài phải sẵn lòng lắng nghe giáo dân, cứu xét các nguyện vọng của họ trong tinh thần huynh đệ, nhìn nhận kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của họ trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động nhân sinh, để cùng với họ, có thể nhận biết những dấu chỉ của thời đại" (số 9).

Đọc những đoạn văn mạnh mẽ trên đây và một vài văn kiện khác của công đồng, tôi có mấy nhận xét như sau:

Trước hết, tôi không thấy nói tới dân chủ nhưng nhấn mạnh đặc biệt tới tự do và phẩm giá của giáo dân. Tự do và phẩm giá còn quan trọng hơn, sâu xa hơn dân chủ nhiều. Tiếp đến tôi thấy công đồng nhìn Giáo Hội không như một tổ chức pháp lý nhưng như một gia đình--gia đình của các con cái Thiên Chúa--trong đó các mối tương quan giữa chủ chăn và giáo dân vừa là tương quan anh em vừa là tương quan cha con. Ngoài những qui định "lạnh lùng" của luật lệ, còn có những đòi hỏi "ấm áp" và sâu xa hơn của tình nghĩa gia đình để mọi người ra sức góp phần xây dựng ích chung tùy theo vị trí và khả năng riêng, trong sự tôn trọng và yêu mến nhau. Tôi cũng nhận thấy rằng công đồng không những nhắc nhở các vị chủ chăn hãy để cho người giáo dân góp ý kiến và hơn nữa hãy thật lòng và sẵn sàng lắng nghe họ, mà còn nên khuyến khích họ tự đảm nhận lấy trách nhiệm đó. Thực tế, trong cộng đoàn giáo xứ cũng như trong cộng đoàn tu sĩ, người ta thường thích những thành viên ngoan ngoãn dễ bảo hơn những người có cá tính mạnh và hay thắc mắc, hay góp ý, coi đó như biểu hiệu của tính cứng đầu, ít tinh thần vâng phục, nhẹ nhất cũng là "lắm chuyện". Nhưng người lãnh đạo giỏi thì biết cách và tạo điều kiện cho mọi thành viên có thể nói lên ý kiến của mình và đưa ra những sáng kiến liên quan tới đời sống và công việc chung.

Xây dựng được cách thức tương quan trong cộng đoàn Giáo Hội như Vaticanô II mong muốn, thật là khó khăn, nhất là đối với Giáo Hội Việt Nam ta. Khó khăn đối với cả chủ chăn lẫn đoàn chiên. Đã có những bước tiến kể từ công đồng, nhưng chưa đồng bộ, thậm chí nhiều nơi dường như còn biết quá ít, thậm chí không biết hay không muốn biết đến những lời dạy của Vaticanô II và bộ giáo luật mới. Chúng ta vẫn còn phải nổ lực nhiều. Trong thực tế Việt Nam, thiển nghĩ phần nổ lực chính sẽ không phải là từ người giáo dân, nhưng từ chính hàng lãnh đạo. Các vị phải mở đường, phải đi bước trước, phải khuyến khích và tạo điều kiện. Và có lẽ phải giáo dục giáo dân bằng một phong trào học tập công đồng rộng khắp để họ biết rõ và ý thức hơn về "phẩm giá", quyền lợi và trách nhiệm của mình trong Giáo Hội. Biết rõ hơn giáo lý công đồng liên quan tới mình, có thể rất nhiều giáo dân sẽ cảm thấy được "giác ngộ".

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.