|
||||||
*SỐNG ĐẠO TRONG MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊLm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô Tôi thường có dịp đi từ Thủ Đức và nội thành vào buổi sáng sớm. Từ khoảng 6 giờ đến 6 giờ 30 phút, trên đoạn đường từ ngã tư Bình Thái, nhất là từ ngã ba Cát Lái đến Hàng Xanh, là cả một dòng người đổ xô vào thành phố. Họ là dân ngoại thành đi làm việc. Tuyệt đại đa số là thanh niên, thiếu nữ. Nhìn họ đi xe đạp và ăn mặc rất giản dị, bình dân, ta có thể đoán chắc họ là những người lao động tay chân đơn giản. Tôi nhận thấy từ năm 1993 đến nay số dân đi trên đoạn đường này vào thành phố làm việc không ngừng gia tăng. Hình như đó là xu hướng không thể đảo ngược được. Trong thế kỷ XX trên bình diện toàn thế giới, số thành phố có trên 1 triệu dân gia tăng gấp 18 lần và số thành phố trên 2 triệu tăng 28 lần. Theo dự kiến đầu thế kỷ XXI, 19 trên 25 thành phố lớn nhất hoàn vũ sẽ nằm trong thế giới thứ ba. Cuộc sống đô thị đã tạo ra một mẫu người đặc thù mệnh danh là "người đô thị" (homo urbanus), tương tự như người ta nói: "con người lao công" (homo faber), "người suy tư" (homo sapiens), "người kinh tế" (homo economicus) và "người tôn giáo" (homo religiosus)... để chỉ những chặng phát triển hoặc những thái độ sống căn bản của loài người. Từ xóm làng lên thành phố, người thôn quê cảm nghiệm được sự tự do, ở đây họ sống trong bầu khí "vô tên tuổi": không ai biết mình, không ai "dòm ngó" mình, các áp lực nặng nề ở quê nhà, làng xóm không còn nữa, họ cảm thấy nhẹ nhõm, thoải mái..., cho đến ngày họ chợt thấy mình đơn độc giữa một môi trường bất nhân ... Người thôn quê lên thành phố khám phá ra một thế giới hoàn toàn mới mẻ. Bỗng chốc họ phải phản ứng lại những thái độ thành thị xa lạ với họ, đồng thời xem xét lại những quan niệm mà nơi làng xóm trước kia không đặt ra vấn đề gì cả. Sự dằng co giữa môi trường văn hoá nông thôn và môi trường văn hoá đô thị xảy ra đôi khi rất dữ dội nơi bản thân họ. Và họ có thể " đánh mất chính mình" trong cuộc xung đột này khi chạy theo những mặt hời hợt hoặc tiêu cực nhưng đầy hấp dẫn của cuộc sống đô thị thay vì hấp thụ lấy những giá trị đích thực của cuộc sống ấy. Cuộc sống thôn quê thì đơn điệu, ít thay đổi, diễn tiến sát với nhịp tuần hoàn của bốn mùa thiên nhiên, do đó người thôn quê thường bảo thủ, cố chấp, thiếu bao dung. Trái lại cuộc sống nơi đô thị luôn luôn năng động, đa dạng, thay đổi hướng về cái mới. Người đô thị chỉ phát huy mình trong sự giao lưu, trao đổi, cạnh tranh và sáng kiến, quen sống trong một môi trường văn hoá "đa nguyên" với nhiều quan niệm và chọn lựa khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau, họ dễ dàng có thái độ cởi mở và bao dung và cũng dễ rơi vào tương đối chủ nghĩa, coi mọi quan niệm và lối sống đều ngang nhau tùy theo chọn lựa của từng cá nhân và từng nhóm. Sống trong đô thị người ta không có nhiều điểm tựa và những cái khung bảo vệ vững chắc cho sự phát triển thể lý, tâm lý và đạo đức như ở thôn quê; muốn đứng vững người ta phải có "bản lĩnh" hơn, có ý thức và tự chủ hơn để đương đầu với nhiều mời mọc cám dỗ hơn, chẳng hạn ai cũng biết là hôn nhân và gia đình được bảo vệ dễ dàng ở thôn quê hơn ở thành thị. Hoặc ngày chủ nhật trong các xứ đạo vùng quê người ta có thể làm gì khác khi mà cả nhà và cả xóm đều đi nhà thờ dự lễ? Ở thành phố thì khác. Ví dụ vừa nêu cho chúng ta đoán thấy những khó khăn cho đời sống đạo mà một người Kitô hữu phải đương đầu khi bỏ làng mạc vào thành phố sinh sống hoặc làm việc. Biết bao thanh thiếu niên, và ngay cả người lớn tuổi không đứng vững trong lối sống đô thị và nếp sống đạo quen thuộc của xóm làng! Nếp sống này thường rất đơn giản, ít thắc mắc, nặng tính hình thức và xã hội. Đạo, trước hết là những điều phải tin mà người ta đón nhận không thắc mắc, và đạo cũng là những điều luật phải tuân giữ và những việc phải làm, nói chung là những việc trực tiếp liên quan tới tôn giáo. Như thế đạo là cái gì rõ ràng, rất dễ nhận diện và hầu như là có thể "đo lường" được vì thiên về các tiêu chuẩn hình thức. Người ngoan đạo thường là những người siêng năng làm các việc tôn giáo như đọc kinh, đi lễ, rước lễ, tham gia và đóng góp vào các sinh hoạt cộng đoàn. Nói theo các nhà xã hội học, đạo trong nền văn hoá nông nghiệp thường nặng tính quy ước (conventional) và xã hội. Nó khó đứng vững hơn trong môi trường văn hoá đô thị, một nền văn hoá "đa nguyên" và tự bản chất là "trung lập" xét về mặt niềm tin tôn giáo. (Ở Việt Nam ta cũng may là trong một số đô thị vẫn có nhiều xứ đạo sầm uất, và nếp sống đô thị nói chung đang mang những dáng dấp thôn quê cả nơi khung cảnh lẫn nơi con người). Cũng như đối với đời sống "tự nhiên" nói chung, nơi đô thị đức tin phải được nội tâm hoá nhiều hơn song song với sự giảm sút của những biểu hiện bề ngoài của nó. Đức tin cũng phải trở thành riêng tư hơn; nó là của tôi vì tôi có xác tín và chọn lựa ý thức chứ không phải chỉ vì gia đình hay xã hội tin như thế. Nơi đô thị, đức tin sẽ bị phê phán và thử thách nhiều hơn, đòi hỏi người tín hữu phải có trình độ hiểu biết về đạo cao hơn và một đời sống nội tâm và cầu nguyện sâu hơn; họ bắt buộc phải mở rộng đời sống đạo ra, từ "thuần tuý" tôn giáo và giáo hội đến toàn bộ của cuộc sống. Hơn cả những việc làm, đức tin là một thái độ sống và một động lực cho toàn bộ đời sống. Nói tóm lại người tín hữu phải trưởng thành hơn. Nếp sống đô thị (và dĩ nhiên là não trạng đô thị) không chỉ giới hạn cho những dân cư thành thị mà thôi. Với các phương tiện truyền thông hiện đại, nó cũng sẽ thâm nhập vào các làng xóm thôn quê Việt Nam. Xã hội ta mới chập chững bước vào hiện đại hoá thôi. Nhìn xa một chút, liệu chúng ta có thể hài lòng với đường lối giáo dục đức tin của Giáo Hội và đời sống đạo còn được coi là "sốt sắng" và yên ắng của người giáo dân hiện nay không? (1996) |
||||||
|
Copyright © 2007 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu. |