Cau Xin Me

TUỔI TRẺ VÀ NIỀM TIN

Simon Solovietchilk

Một trong những khái niệm đạo đức quan trọng mà thiếu nó người ta không thể nào hình dung nổi việc giáo dục nhưng vẫn chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí còn bị nhiều người coi thường, đó là niềm tin, là sự cần thiết phải tin vào một cái gì và cũng là bổn phận luân lý của chúng ta phải tin vào một cái gì đó.

Thả vào trong xã hội một con người không tin vào gì hết, tức là tạo ra hoặc là một người khốn khổ hoặc là một tên nguy hiểm cho những kẻ sống chung quanh. Lý do đích thực, sâu xa của hầu hết các tội ác, nhất là trong giới trẻ, chính là vì thiếu hẳn niềm tin vào một cái gì đó. Không có niềm tin thì cũng không có nền tảng cho đời sống đạo đức và do đó người ta sẽ muốn là gì cũng được. Đó chính là ý kiến của văn hào Dostoievski. Thiếu niềm tin không có nghĩa là hoài nghi nhưng là "trống rỗng". Không phải một con người theo đúng nghĩa nhưng là một hình nộm được gắn thêm sức mạnh của con người và tính lưu manh của con người, bề ngoài là người nhưng vô tâm, vô hồn.

Bởi lẽ niềm tin là sức mạnh cốt yếu của tâm hồn. Niềm tin, hy vọng và tình yêu, tựu trung tâm hồn của con người là như thế và đừng mất công chờ đợi bất cứ tình cảm nào nơi một hình nộm, một hình bù nhìn bằng nhựa.

Trong bao nhiều năm dài, khoa sư phạm và nền đạo đức "chính thức" của chúng ta (Liên Xô cũ) đã giữ một thái độ nước đôi đối với khái niệm niềm tin (Foi). Trong những trường hợp bất lợi cho chế độ, thì nó bị khinh miệt, còn khi có lợi, nó lại được nâng lên tận chín tầng mây!

Một đàng, ngay từ tuổi thơ ấu, người ta nhét vào đầu trẻ em cái tư tưởng là trên đời này chỉ hiện hữu những gì đã được khoa học chứng minh. Họ nói: niềm tin là ngu dân, là chuyện điên rồ. Nghĩa là niềm tin thì mù quáng. Chỉ một mình lý trí mà thôi! Chỉ có khoa học mà thôi! Và hệ thống xã hội chúng ta thì không sai lầm vì được xây dựng trên nền tảng khoa học. Người ta cấm tin vào Thiên Chúa không phải vì niềm tin đó có hại (đó chỉ là cái cớ giả dối thôi) nhưng nhất là vì không được phép có cái gì có thể vượt trỗi hơn hệ thống ấy. Tiếng nói cuối cùng thuộc về hệ thống chứ không phải về lời Thiên Chúa. Tự bản chất nó, tự cơ cấu của nó, hệ thống ấy không thể có đối thủ cạnh tranh…

Niềm tin vô bờ bến có nghĩa là không bị giới hạn bởi những luận cứ của cái lý trí tồi, mà người ta hết lời đề cao trong các trường học!

Như thế việc giáo dục bị lật ngược, trên xuống dưới, dưới lên trên. Nơi mà niềm tin tỏ ra cần thiết thì người ta phủ nhận nó để dành chỗ cho lý trí. Và nơi lý trí là cần thiết người ta lại chối bỏ nó dành chỗ cho niềm tin.

Ngày nay sau khi xã hội đã trải qua nhiều thất vọng, mọi người bỗng nhiên bắt đầu đặt câu hỏi: phải tin vào cái gì? Mọi người đã cảm thấy sự cần thiết của niềm tin. Tuy nhiên, khái niệm về niềm tin như một cái gì khác với lý trí vẫn chưa được công nhận bởi nền luân lý, bởi khoa tâm lý, bởi môn sư phạm, ở trường học và nơi các bậc phụ huynh mà đa số đều có trình độ. Người ta vẫn coi công cuộc giáo dục là việc củng cố niềm tin vào lý trí mà không ai để ý rằng tin vào lý trí thì cũng vẫn là niềm tin.

Ơû đây tôi xin phát biểu một tư tưởng hơi khác thường so với các ý niệm chung mà chúng ta thường có: để tồn tại, để hành động, để có một thái độ nhân đạo đối với kẻ khác, để đạt tới những mục tiêu cao cả, để có sự quân bình nội tâm, dù là tạm thời, tóm lại để sống, con người trước tiên cần đến niềm tin, cái niềm tin mà chúng ta rất khinh dể ấy.

Còn lý trí, con người chỉ cần tới nó để có thể tin một cách hữu hiệu vào cái hiện thực (réalité), vào sự chân thực (authenticité) và sự công minh của cuộc đời mà người ta sống. Người ta bảo: hãy hoài nghi! Bạn hãy luôn sống trong sự hoài nghi! Nhưng để làm gì? Để cho cái gì chống lại nổi hoài nghi thì trở thành một niềm xác tín nghĩa là một nhận thức được củng cố bởi niềm tin vào sự đúng đắn của nó. Thiếu khả năng tin tưởng, thiếu niềm tin, tất cũng sẽ không có xác tín. Đời sống tinh thần của con người bắt đầu bằng niềm tin, tiếp theo là những mối nghi ngờ đầy sức hủy hoại do lý trí sinh ra, cuối cùng họ đạt tới một niềm tin mới, rồi đến lượt những nghi ngờ khác tấn công họ…

Nên lưu ý có hai loại niềm tin: một niềm tin "gần" và một niềm tin "xa". Niềm tin gần là lòng tin vào mình (tự tín), tín nhiệm vào những kẻ sống chung quanh, tin tưởng vào công việc đã bắt đầu. Nếu không tin vào sự thành công của một nhiệm vụ, tốt hơn là đừng làm nữa. Ai cũng biết điều đó. Niềm tin gần quy định tính cách của con người, ý chí của họ. Nhưng trí khôn của họ, đời sống đạo đức của họ được quy định bởi niềm tin xa, hay nói đúng hơn, niềm tin cao, niềm tin vào cái vô cùng.

Có người sẽ nói: đó là duy tâm! Kẻ khác nói: tất cả những điều nói trên có thể hiểu được, nhưng người vô tín ngưỡng, họ phải tin vào cái gì?

Người ta tin vào sự thật, vào tình yêu, cuộc sống, lao động, nghệ thuật, nhân phẩm, người ta tin rằng điều tốt không thể bị đánh bại, người ta tin vào thiên nhiên trường cửu. Bà mẹ nào cứ lặp đi lặp lại vơi con "rồi mày thấy, mọi chuyện sẽ tốt thôi", tức là bà ta làm một công việc to lớn vì bà gây cho con niềm tin vào tương lai.

Bài đăng trên tạp chí Temps Nouveaux, số 41-1989.

 (Lm Nguyễn Hồng Giáo phiên dịch)

Copyright © 2005 by Nguoi Tin Huu. Send any comment or question to Nguoi Tin Huu.