|
rong những ngày tháng gần đây, cộng đồng người Việt tại hải ngoại thật sôi nổi về những biến cố có liên hệ đến chính trị của một số nhà lãnh đạo tôn giáo trong nước. Ðã có những phản ứng mạnh mẽ về phía tín hữu cũng như giáo sĩ. Ðã có những cuộc biểu tình tại các thành phố lớn ở nhiều quốc gia trên thế giới để ủng hộ việc đấu tranh tự do tôn giáo. Riêng về phía Công Giáo, đa số giáo dân cũng đang trong tình trạng chờ đợi một lập trường nào đó khả dĩ chấp nhận được đối với hiện tình.
Nhìn về quá trình lịch sử của Giáo Hội Công Giáo nói chung, gần đây chúng ta thấy có hai biến cố lớn được coi là có liên hệ đến chính trị: thứ nhất là sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Ðông Âu, đặc biệt là ở Ba Lan vì có liên hệ đến đức giáo hoàng đương kim, thứ hai là phong trào Thần Học Giải Phóng (Liberation Theology). Tìm hiểu lập trường của Giáo Hội qua hai biến cố này, chúng ta có thể hiểu được thái độ của Giáo Hội Công Giáo khi có vấn đề liên quan đến chính trị
Sự Sụp Ðổ của Cộng Sản Ðông Âu
1. Liên Minh Thánh
Viết về sự sụp đổ của các đế quốc đỏ ở Ðông Âu và Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, có lẽ không cuốn sách nào hay hơn cuốn "His Holiness, John Paul II, And The HiÇen History of Our Time" của hai ký giả Carl Bernstein & Marco Politi mà Người Tín Hữu đã dịch bản tóm lược và đăng trong số báo NTH 3&4/1997 . Cuốn sách nổi tiếng vì tác giả Carl Berntein là người đoạt giải Pulitzer, và Marco Politi là ký giả chuyên theo dõi sinh hoạt của đức giáo hoàng trên hai mươi năm qua cho tờ La Repubblica và Il Messaggero ở Ý.
Một cách tổng quát, theo sự phân tích và giả thuyết của hai ông, đức giáo hoàng giữ vai trò chủ yếu trong cuộc tranh đấu dành tự do, được khởi đầu bằng việc thiết lập Công Ðoàn Ðoàn Kết, và chấm dứt bằng sự tan rã của đế quốc Sô Viết. Hai ông cho rằng chủ nghĩa cộng sản bị thất bại vì khối "Liên Minh Thánh" (Holy Alliance) được bí mật thành lập giữa Ðức Gioan Phaolô II và Tổng Thống Reagan trong cuộc hội kiến riêng vào tháng Sáu 1982 khi tổng thống Hoa Kỳ đến Rômå Sau đó, hai ông đưa ra những cuộc phỏng vấn các nhân vật trong chính phủ Reagan để hỗ trợ cho giả thuyết này.
Cho đến nay, tất cả những dữ kiện quan trọng về "Liên Minh Thánh" mà Bernstein/Politi đưa ra chưa được xác nhận. Nó vẫn còn là "lịch sử bí ẩn của thời đại chúng ta". Khi người ta tán dương công trạng của đức giáo hoàng trong việc lật đổ chế độ cộng sản, ngài chỉ nói: "Tôi không tạo nên điều này. Một cái cây đã mục, tôi lay mạnh là nó đổ" Sự mục nát của cộng sản là bởi đâu? Và đức giáo hoàng lay mạnh như thế nào?
Chủ nghĩa cộng sản không chỉ ngu dốt về kinh tế và tàn bạo về chính trị, trước hết và trên hết, nó còn là một chủ thuyết sai lầm về nhân văn. Thật vậy, những ngu dốt về kinh tế và những đàn áp chính trị của các chế độ cộng sản càng cho thấy rõ rệt hơn sự sai lầm căn bản của chủ thuyết cộng sản. Do đó, phương cách bài trừ hữu hiệu nhất mà đức giáo hoàng tin tưởng và thi hành, là đề cao các khái niệm và giá trị xứng hợp: chủ thuyết nhân văn chân chính hơn, các quyền căn bản của con người phải được coi như các thuộc tính không thể tách biệt khỏi con người. Ðó là đường lối hoạt động của đức giáo hoàng.
Trong chuyến tông du đầu tiên về quê hương Ba Lan năm 1979, qua đức giáo hoàng, Giáo Hội đòi hỏi sự tôn trọng quyền làm người cũng như tôn trọng những giá trị Kitô giáo, tôn trọng mọi người bất luận là đàn ông, đàn bà hay trẻ em. Những đòi hỏi này thay cho sự tấn công trực tiếp vào những gì mà lý tưởng Mác-xít thường rêu rao, mà bây giờ chỉ là cái vỏ rỗng vì mục nát.
Sự mục nát của chế độ cộng sản ở Ba Lan lại bị dòng nước ngầm sói mòn hơn nữå Ðó là một hệ thống liên lạc bí mật của Giáo Hội Công Giáo Ba Lan trong một quốc gia mà đa số dân là Công Giáo. Với các vị lãnh đạo giáo hội khôn ngoan trong thời Ba Lan bị Ðức Quốc Xã xâm lăng, như Ðức Giám Mục Sapieha, cho đến thời cộng sản thống trị, như Ðức Hồng Y Wyszynski, Giáo Hội Công Giáo Ba Lan là tiềm năng chính yếu mà Ðức Gioan Phaolô II biết rõ để tận dụng trong cuộc tranh đấu dành tự do cho người dân Ba Lan.
Với sự hậu thuẫn tinh thần của đức giáo hoàng, người dân Ba Lan đã vùng lên qua những cuộc đình công trên toàn quốc. Tất cả hình ảnh của các cuộc đình công đều được thế giới biết đến qua hệ thống truyền hình. Sau đó, chính quyền cộng sản phải nhượng bộ, cho phép thành lập một nghiệp đoàn độc lập đầu tiên là Công Ðoàn Ðoàn Kết do người thợ điện Lech Walesa cầm đầø Có thể nói, chính người dân Ba Lan là yếu tố quyết định cho cuộc tranh đấu dành độc lập.
Sau cùng, theo giả thuyết của Bernstein/Politi, "Liên Minh Thánh" đã được bí mật thiết lập giữa Ðức Gioan Phaolô II và TT Reagan. Hoa Kỳ đã can thiệp qua các biện pháp chế tài về kinh tế, ngoại giao và kỹ thuật đối với Ba Lan và cả Liên Bang Xô Viết, để ngăn cản Xô Viết đưa quân vào Ba Lan. Dần dà, sinh hoạt dân chủ tại Ba Lan được tái lập, và năm 1990, Lech Walesa, nguyên là người thợ điện và lãnh đạo Công Ðoàn Ðoàn Kết được bầu làm tổng thống.
Những chấn động ở Ba Lan đã làm rung chuyển khối Ðông Âø Ðầu tiên, Hung Gia Lợi mở cửa biên giới với Áo vào tháng Năm 1989. Rồi đến tháng Mười, hàng trăm ngàn người xuống đường phản đối chính phủ Ðông Ðức. Sau cùng, bức tường Bá Linh xụp đổ vào tháng Mười Một. Một ngày sau đó, 35 năm cầm quyền của nhà lãnh đạo Bulgari là Todor Zhivkov chấm dứt với sự tan rã của đảng, và ở Tiệp Khắc một chính phủ liên hiệp giữa Cộng Sản và thành viên cực hữu Tiệp được thành hình.
Vào tháng Tám 1991, Ðế Quốc Ðỏ kết liễu khi Boris Yeltsin, tổng thống Cộng hòa Nga đã triệt hạ được cuộc đảo chính do những thành viên bảo thủ cộng sản khởi xướng. Những quân cờ cộng sản bắt đầu rơi rụng.
b. Sự Can Thiệp của Ðức Maria
Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản đã làm nhiều người bàng hoàng vì không ai có thể ngờ rằng các chế độ bạo lực, đàn áp, lọc lừa đó lại có thể tiêu tan quá nhanh. Nhưng nếu cho rằng công trạng đó chỉ nhờ vào sức lực con người thì có lẽ chúng ta đã quên đi điều tiên đoán của Ðức Maria vào năm 1917.
Khi hiện ra ở Fatima với ba trẻ chăn chiên sáu lần, trong khoảng thời gian từ ngày 13 tháng Năm đến 13 tháng Mười 1917, Ðức Maria yêu cầu loài người hoán cải đời sống, cầu nguyện và hy sinh, nếu không "nước Nga sẽ gieo lầm lạc trên khắp thế giới, sẽ gây ra chiến tranh và bách hại Giáo Hội." Sứ điệp của Ðức Maria ban cho loài người gồm ba bí mật. Bí mật thứ nhất là hình ảnh ghê sợ của hoả ngục là nơi "các linh hồn tội lỗi phải đến" và ngài yêu cầu các tín hữu cầu nguyện và hy sinh để cứu vớt các linh hồn ấy. Bí mật thứ hai là lời tiên đoán về Thế Chiến II và ngài yêu cầu dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của ngài và Trái Tim Mẹ sẽ thắng. Bí mật thứ ba vừa được đức giáo hoàng Gioan Phaolô II cho công bố khi ngài đến Fatima ngày 13-5-2000 để phong chân phước cho hai trẻ được thị kiến là Francisco Martos và Jacinta Martos. Bí mật này tiên đoán rằng "một giám mục mặc áo trắng sẽ bị trúng đạn chết". Và chính Ðức Gioan Phaolô II là người bị ám sát hụt ở công trường Thánh Phêrô vào ngày 13 tháng Năm 1981. Và sơ Lucia, là một trong ba trẻ được thị kiến hiện còn sống, xác nhận rằng "vị giám mục mặc áo trắng" là Ðức Gioan Phaolô II.
c. Sự Hy Sinh của Tín Hữu
Ngoài bí mật thứ nhất chỉ có ba trẻ được nhìn thấy, còn hai bí mật kia đều đã thành sự thật. Là người Công Giáo, chúng ta phải tin rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản là nhờ sự trợ giúp của Ðức Maria. Nhưng sự trợ giúp của ngài có hữu hiệu hay không, sự cầu bầu của ngài có được Thiên Chúa nhận lời hay không là nhờ ở sự cầu nguyện và hy sinh của mọi tín hữu. Nói theo nghĩa rộng, tất cả chúng ta đều góp phần trong sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản qua sự hy sinh, cầu nguyện, hãm mình và thay đổi đời sống.
Nhìn vào đời sống của Ðức Gioan Phaolô II, ngài mồ côi mẹ khi lên tám. Khi 12 tuổi, ngài lại mất người anh ruột duy nhất. Sau khi xong trung học, Ba Lan rơi vào tay Ðức Quốc Xã và ngài phải làm việc lao động ở công trường Solvay sản xuất hóa chất ngoài trời lạnh, với nhiệt độ 22 độ dưới độ đông đá. Trong điều kiện sống tồi tệ của một xã hội bị trị, cha ngài từ trần khi ngài 20 tuổi. Với những bất hạnh ấy, rất có thể ngài đã trở nên một con người cay đắng, oán hờn và tuyệt vọng. Nhưng ngài vẫn bám víu lấy đức tin và hy sinh dâng mình cho Thiên Chúa.
Sau khi là linh mục, ngài được giao cho trông coi một giáo xứ ở vùng quê cách Krakow 30 dặm. Làng quê chỉ có 200 giáo dân và thánh đường gổ "Nhiều người trong làng còn nhớ ngày Cha Wojtyla, gầy gò trong cái áo chùng đen, tay xách hành lý trong một cái va-li xộc xệch, rảo bước trên con đường vào làng." Tinh thần khó nghèo của Ðức Gioan Phaolô II vẫn sống với ngài ngay cả khi là hồng y, "Có thể nói ngài không có gì làm của riêng ngoại trừ những cuốn sách, y phục tu sĩ, một ít kỷ niệm gia đình, quần áo đi núi và trượt tuyết." Ngay cả mới đây, trong cuộc họp báo ngày 7-7-2001, phát ngôn viên Tòa Thánh là Joaquin Navarro-Valls cho biết, "Ðức Gioan Phaolô II không biết đến và không bao giờ biết đến tiền lương là gì."
Sự hy sinh của Ðức Gioan Phaolô II là một trong biết bao hy sinh của người tín hữu KitoỈ Trong các hy sinh ấy, ít nhất 12,000 người được công nhận là các vị tử đạo của thế kỷ 20, theo như cuộc điều tra của "Jubilee New Martyrs Commission" (Ủy Ban Năm Thánh Về Các Vị Tân Tử Ðạo) do chính Ðức Gioan Phaolô II thành lập. Các "vị tân tử đạo" là ai? Theo câu trả lời của Cha Marco Gnavi, Tổng Thư Ký Ủy Ban, các "Vị Tân Tử Ðạo" được hiểu theo nghĩa rộng: "là những Kitô Hữu bị đau khổ vì đức tin--không quá nghiêng về phương diện cá nhân, nhưng là toàn thể các thế hệ bị bách hại. Tất cả các giáo hội, cộng đồng và gia đình phải đau khổ vì trung thành với Ðức Kitô, với Phúc Âm, và với Giáo Hội" dưới các chế độ cộng sản, Ðức Quốc Xã, và các cuộc chiến giữa các dân tộc.
Trong biết bao người đã hy sinh, cầu nguyện, thay đổi đời sống để có sự can thiệp của bàn tay Thiên Chúa trong việc chấm dứt chế độ cộng sản, đức giáo hoàng đương kim là người "được chọn" để "lay mạnh" và dứt điểm một chủ thuyết lầm lạc. Ngài được vinh dự ấy vì những điểm thuận lợi: ngài thuộc về một dân tộc mà đa số là Công Giáo; kỹ thuật hiện đại về truyền thông đã giúp toàn thế giới nhìn thấy sự thất bại của chủ thuyết cộng sản; và sau cùng, có sự hậu thuẫn của một quốc gia hùng mạnh là Hoa Kỳ.
II. Thần Học Giải Phóng
a. Những Ðiều Kiện Quá Quắt
Thần Học Giải Phóng được phát sinh từ Châu Mỹ La Tinh trong khoảng thập niên 1960 và 70 trước khi ấn bản Anh Ngữ "A Theology of Liberation" của Gustavo Gutierrez được phát hành năm 1973. Trong những người tích cực hỗ trợ cho hệ thần học này, nổi tiếng nhất là Leonardo Boff. Trước đây ông là một linh mục giáo sư của dòng Phanxicô và bây giờ ông là một thần học gia nổi tiếng của Châu Mỹ La Tinh với trên 30 cuốn sách và rất nhiều bài viết về thần học giải phóng.
Môt cách tổng quát, Thần Học Giải Phóng chủ trương hoạt động chính trị nhân danh đức ái Kitô Giáo. Phong trào được phát sinh từ sự oán hận về tình trạng của người nghèo trong các nước Châu Mỹ La Tinh. Ông Boff nói về chính quê hương của ông như sau:
Lấy một thí dụ, ở Brazil, 75% dân số hầu như sống bên lề kinh tế; 43% phải nhận số lương tối thiểu để sống còn... 40% dân Brazil sinh sống, làm việc và đi ngủ với cái đói thường xuyên; có đến 10 triệu người bị bệnh tâm thần vì suy dinh dưỡng; 6 triệu người bị sốt rét; 650,000 người bị lao và 25,000 người bị cùi.
Các thần học gia giải phóng tin rằng trong Phúc Âm phải có một điều gì đó đề cập đến tình trạng cơ cực này. Có thể nào khi cả triệu người phải sống trong nghèo khổ mà lại cho đó là thánh ý của một Thiên Chúa từ bi nhân ái? Hoặc đó là một lời kêu gọi của Kitô Giáo để tích cực hoạt động nhằm giảm bớt sự cơ cực này?
b. Các Cộng Ðồng Nền Tảng Giáo Hội
Ông Boff cho rằng thần học giải phóng không xuất phát từ sự suy xét của các thần học gia, mà từ cảm nghiệm của các Kitô Hữu khi họ cùng đến cầu nguyện chung và cùng suy niệm về Kinh Thánh. Những nhóm này khoảng từ 15 đến 20 gia đình và ông Boff gọi là communidades ecclesiales de base (các cộng đồng nền tảng giáo hội). Các cộng đồng này hiện đang lan tràn ở các quốc gia Châu Mỹ La Tinh. Trong các buổi họp, họ đọc Kinh Thánh và phân tích các nguyên do kinh tế và xã hội khiến đời sống khó khăn, từ đó họ được thúc giục tiến đến hoạt động chính trị có tổ chức. Mặc dù một số thần học gia giải phóng chủ trương dùng đến sự bạo động, nhưng hầu hết ủng hộ các sinh hoạt cách mạng bất bạo động.
Theo ông Boff, các cộng đồng nền tảng giáo hội có quan hệ đến bản chất của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ. Ông chỉ trích cách sinh hoạt trong Giáo Hội hiện nay vì quá nặng ở trên đỉnh và có tính cách quan liêu vì được phỏng theo cơ cấu phong kiến của La Mã hơn là dựa vào Phúc Âm. Ông nhìn thấy chính giáo hội ở quê hương ông là một giáo hội mà trong quá khứ thường đứng về phía người giầu chống lại quyền lợi của giới nghèo. Trái lại, các cộng đồng nền tảng giáo hội đại diện cho một xã hội lý tưởng, không có giai cấp mà trong đó mọi phần tử đều được tham dự cách trọn vẹn. Những cộng đồng này chăm sóc những người bị mất quyền sở hữu và tán dương ý nghĩa đích thực của sự giải phóng Kitô Giáo.
Ông Boff nêu lên sự tương phản này qua việc diễn tả hai loại thẩm quyền. Thẩm quyền thống trị là thẩm quyền của nhà cầm quyền đàn áp muốn tước đoạt quyền lợi của những người bị trị. Tương phản với thẩm quyền thống trị là thẩm quyền cho phép, thẩm quyền của Chúa Giêsu, sức mạnh của đức ái. Những người có thẩm quyền này thường muốn chia sẻ với người khác. Loại thẩm quyền này cho phép người khác có thể làm việc cho chính mình và vì lợi ích chung.
Theo quan điểm của ông Boff, các cộng đồng nền tảng giáo hội là khởi điểm cho sự tái sinh Giáo Hội Công Giáo từ dưới lên trên. Ðó là, ông nhìn thấy các cộng đồng nền tảng giáo hội phát triển trên toàn cầu mà nó sẽ thấm nhập trong khắp Giáo Hội một tinh thần mới về tình thương yêu công bằng. Ông đưa ra hình ảnh của bà Sara, vợ ông Abraham, là người đã già trăm tuổi và nghĩ rằng không thể sinh con. Giáo hội cổ xưa có thẩm quyền thống trị cũng tương tự như bà Sara; các cộng đồng nền tảng giáo hội là sự sống mới trong lòng giáo hội ấy.
c. Kinh Thánh Giải Phóng
Các thần học gia giải phóng coi Kinh Thánh Kitô Giáo như nguồn mạch đức tin. Họ chú trọng đặc biệt đến câu chuyện Xuất Hành mà trong đó Thiên Chúa đã đưa những người Do Thái nô lệ thoát khỏi sự áp bức của kẻ thống trị là Pharaoh người Ai Cập. Thiên Chúa đã nghe tiếng than van của họ, Ngài đã đưa ra một nhà lãnh đạo, và đã gieo tai họa trên kẻ thống trị cho đến khi dân Chúa được thoát khỏi cảnh nô lệ.
Các thần học gia giải phóng cùng với ông Môisen kêu lên rằng, "Hãy trả tự do cho dân tộc của tôi." Họ so sánh tình trạng nghèo đói của người dân Châu Mỹ La Tinh cũng như tình trạng nô lệ của người Do Thái. Họ coi sự cứu độ của Thiên Chúa không chỉ là vấn đề tinh thần liên can đến sự phán xét sau cùng của một cá nhân, nhưng còn là vấn đề có tính cách chính trị, kinh tế, và xã hội có quan hệ mật thiết với tình trạng ngay bây giờ và ngay tại đây.
Câu chuyện cuộc đời Chúa Giêsu cũng được các thần học gia giải phóng đặt biệt lưu ý. Họ nêu lên những lần Chúa Giêsu cảnh cáo người giầu, sự lưu tâm của Ngài đối với người nghèo và những người bị tước quyền công dân trong xã hội, những lần Ngài đụng độ với giới thẩm quyền chính trị cũng như tôn giáo, và quyền lực phục sinh của Ngài là sự giải phóng sau cùng khỏi sự chết. Chúa Giêsu giải thoát chúng ta không chỉ tội lỗi cá nhân mà Ngài còn cứu chúng ta ra khỏi một cơ cấu tổ chức tội lỗi đã làm hư hỏng tương giao giữa con người vì tổ chức ấy kềm kẹp con người trong các điều kiện nghèo khổ và tuyệt vọng.
d. Ưu Tiên Cho Người Nghèo
Các thần học gia giải phóng đã dẫn chứng từ Phúc Âm để đưa ra thành ngữ "ưu tiên cho người nghèo." Thành ngữ này được phát sinh từ kiểu cách mà Phúc Âm diễn tả về Thiên Chúa trong luật lệ Do Thái, trong giảng dạy của các ngôn sứ, cũng như trong con người và huấn đức của Chúa Giêsu người ta thấy có một lưu tâm đặc biệt đến người nghèo.
Một số người cho rằng chữ "nghèo" có thể chỉ về nhiều loại nghèo, không chỉ nghèo về vật chất, mà còn là sự cô đơn, sự ghét bỏ (nghèo tình thương), và sự chán nản (nghèo hy vọng). Theo kiểu cách này, người ta có thể nói rằng Thiên Chúa đặc biệt lưu tâm đến tất cả mọi người để đáp ứng với nhu cầu của họ. Nhưng các thần học gia giải phóng có khuynh hướng hiểu chữ "nghèo" theo nghĩa vật chất. Nếu như vậy, liệu rằng Thiên Chúa có còn lưu tâm đến tất cả mọi người hay không?
Một vấn đề khác về sự ưu tiên cho người nghèo là thành ngữ này có vinh danh sự nghèo khổ hay không. Qua các bài bản, các thần học gia giải phóng không đề cao sự nghèo khổ mà chủ trương sự công bằng. Họ yêu quý người nghèo không phải vì sự nghèo khổ mà là vì người nghèo tượng trưng cho diện mạo của Ðức Kitô, hiện diện trong những người nghèo túng. Các thần học gia giải phóng kêu gọi mọi người hoạt động để đảo ngược sự bất công đang góp phần cho sự suy thoái của con người.
e. Các Mô Hình Giáo Hội
- Cộng Ðồng Dân Chúa: Khi nhấn mạnh đến các cộng đồng nền tảng giáo hội và giáo hội địa phương, các thần học gia giải phóng nhấn mạnh đến một mô hình mà thần học gia Avery Dulles gọi là "sự hiệp thông huyền nhiệm" của Giáo Hội. Những người đề xướng mô hình này có thể chia làm hai nhóm, một nhóm ủng hộ hình ảnh "Thân Thể Ðức Kitô" và một nhóm ủng hộ hình ảnh "Dân Chúa." Ông Leonardo Boff, đại diện cho các thần học gia giải phóng khi nhấn mạnh đến giáo hội như "Dân Chúa." Ông coi sự xuất hiện của hình ảnh này như một biến cố quan trọng nhất trong Công Ðồng Vatican II với hai lý do sau.
Thứ nhất, mô hình "Dân Chúa" cho thấy một chuyển hướng từ giáo hội quá tập trung ở hàng giáo phẩm và cơ cấu tổ chức sang một giáo hội chú trọng đến giáo dân. Ông không chủ trương loại bỏ hàng giáo phẩm, nhưng ông cho rằng chức năng lãnh đạo của hàng giáo phẩm chỉ là một đặc sủng trong nhiều đặc sủng khác. Ðặc sủng ấy phải được quý trọng chứ không thể bị lạm dụng. Các vị lãnh đạo phải hành xử như những người phục vụ dân Chúa, chứ không thể coi mình cao hơn hay tốt hơn các Kitô Hữu khác. Mô hình "Dân Chúa" gợi nên một hình ảnh giáo hội với tinh thần quân bình triệt để, một giáo hội đang được tái sinh từ dưới lên trên.
Thứ hai, mô hình "Dân Chúa" có nghĩa Giáo Hội phải sẵn sàng thay đổi. Trong quan điểm của ông Boff, Giáo Hội được thành lập bởi các tông đồ qua sự linh ứng của Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Ngũ Tuần. Chúa Thánh Thần dẫn dắt các tông đồ trong việc xây dựng Giáo Hội để đáp ứng với nhu cầu của thời đại họ. Cũng chính Thánh Thần ấy vẫn ở với Giáo Hội ngày nay, giúp đỡ dân Chúa đáp ứng với những nhu cầu khác biệt của chúng ta. Những áp dụng thực tế theo quan điểm này là việc tấn phong phụ nữ, các linh mục được lập gia đình, v.v. Ông Boff lý luận rằng, chúng ta có thể trung thành với di sản của chúng ta chỉ khi nào chúng ta bắt chước các vị lãnh đạo trong quá khứ dể có những quyết định phù hợp với nhu cầu của mình; khi trói buộc chúng ta với những quyết định của quá khứ mà không phù hợp với nhu cầu của mình thì đó là tạo nên một giáo hội bất động không trung thành với truyền thống năng động của chúng ta.
- Tôi Tớ và Khí Cụ của Sự Giải Phóng: Ðối với các thần học gia giải phóng, quan trọng hơn mô hình "hiệp thông huyền nhiệm" là mô hình "tôi tớ" của Giáo Hội. Ở đây, một lần nữa, các thần học gia giải phóng lại đưa ra một mô hình rất đặc biệt của chính họ. Mô hình nguyên thủy của Avery Dulles nhấn mạnh đến sự phục vụ thế giới trong một cái nhìn lạc quan bởi nhắm đến những thành quả lớn lao hơn. Mô hình tôi tớ của thần học giải phóng coi thế giới này là một hệ thống đồi bại, được xây dựng trên sự đàn áp của biết bao nhiêu thế hệ người nghèo.
Ông Boff đưa ra hai phương cách bổ sung khi coi giáo hội như người tôi tớ. Thứ nhất, giáo hội là một "cộng đồng và dấu chỉ của sự giải phóng." Trong khuôn khổ nội bộ, giáo hội cố gắng trở nên một cộng đồng thân thiện và có tính cách gia đình. Giáo hội giúp đỡ các phần tử và cũng phục vụ xã hội rộng lớn hơn, như giáo dục và y tế.
Thứ hai, giáo hội này phải là một "ngôn sứ và khí cụ của sự giải phóng". Ông Boff cảnh cáo về sự nguy hiểm khi quá nhấn mạnh đến khía cạnh cộng đồng của giáo hội. Những tiến bộ bên trong nhằm đem lại cho người dân một cảm giác êm ấm thì chưa đủ. Ông đưa ra thí dụ của những tù nhân trong một nhà tù mà điều kiện sống đã được thăng tiến. Sự thăng tiến này chỉ tốt đẹp đến mức độ nào thôi, nó không thể sánh với sự phóng thích tù nhân. Ðể dân chúng được tự do, giáo hội phải hoạt động nhằm thay đổi cơ cấu của xã hội.
III. Thần Học Giải Phóng và Các Chủ Thuyết
a. Thuyết Mácxít. Danh từ "thuyết Mácxít" có thể ám chỉ đến nhiều điều khác nhau. Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI, trong tông thư Octogesima Adveniens (1971) đã đề cập đến bốn ý nghĩa về chữ này:
1. Hoạt động tích cực đấu tranh giai cấp.
2. Sự tập quyền về chính trị và kinh tế dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất.
3. Một ý thức hệ xã hội dựa trên duy vật sử quan và từ chối bất cứ những gì là siêu việt.
4. Một phương pháp thẩm định khắt khe về thực thể xã hội và chính trị, nhằm đưa lý thuyết vào thực hành về sự thay đổi có tính cách cách mạng.
Hầu hết các thần học gia giải phóng không phải là người theo thuyết Mácxít theo định nghĩa 1. Rất ít thần học gia giải phóng là người Mácxít theo định nghĩa 2 và 3. Nhưng theo định nghĩa 4, thì hầu hết các thần học gia giải phóng đã có cảm hứng từ phương pháp phân tích xã hội và hành động thay đổi cụ thể có liên hệ đến thuyết Mácxít trong quá khứ. Tuy nhiên, sau những phân tích cặn kẽ, các thần học gia giải phóng khác xa với thuyết Mácxít ở niềm tin nơi Thiên Chúa, Kinh Thánh, sự siêu việt (đặc tính của Thiên Chúa), và ngay cả trong phương cách họ sử dụng các quan niệm và công cụ mà họ vay mượn.
b. Chủ Nghĩa Không Tưởng. Một phê bình chính xác về thuyết Mácxít đó là một chủ nghĩa "không tưởng," vì nó đem lại một quan điểm không thực tế về tương lai tuyệt hảo trong khi hy sinh những gì tốt lành hiện có. Công thức cổ điển được đưa ra để chống với chủ nghĩa không tưởng là đừng hy sinh một hoàn cảnh không hoàn hảo nhưng có thể chịu đựng được để đổi lấy một hoàn cảnh không thể chịu đựng nổi bởi cứ khăng khăng nhấn mạnh đến sự tuyệt hảo mà không thể nào có được.
Một số học giả, đáng chú ý nhất là Michael Novak, đã dựa vào công thức này để chỉ trích các thần học gia giải phóng. Dựa vào các dữ kiện về sự thịnh vượng trong các quốc gia tư bản và quốc gia xã hội chủ nghĩa, Novak quả quyết rằng bất cứ chương trình gì hỗ trợ chủ nghĩa xã hội đều không giúp kinh tế tiến bộ. Một cách tổng quát, Novak cho rằng một số biện luận xã hội của các thần học gia giải phóng không phù hợp với tiêu chuẩn hành động thực tế phóng khoáng.
IV. Phản Ứng của Vatican
Vào năm 1984, Thánh Bộ Tín Lý cho công bố chỉ thị "Instruction on Certain Aspects of the 'Theology of Liberation'". Chỉ thị này đưa ra lời cảnh cáo nghiêm khắc về sự liên hệ giữa thần học giải phóng và chủ nghĩa Mácxít, nhất là về sự nguy hiểm làm biến dạng các học thuyết truyền thống Kitô Giáo trong một phương cách khiến người ta hiểu lầm rằng các học thuyết Kitô Giáo chỉ liên hệ đến vấn đề chính trị thế giới. Một chỉ thị có liên can là "Instruction on Christian Freedom and Liberation" được công bố năm 1986. Văn kiện này có vẻ ôn hòa hơn. Dù chỉ thị này ít đề cập đến thần học giải phóng, văn kiện này xác định một cách tổng quát nhiều chủ đề căn bản liên quan đến tự do con người và phát triển xã hội làm nền tảng cho thần học giải phóng, và ám chỉ đến sự nguy hiểm của những tư duy tương tự trong một phương cách bớt khắt khe hơn.
Tòa Thánh xác nhận rằng thời đại này cần nhấn mạnh đến sự quan trọng của tự do con người, khởi đầu từ sự tự do thoát khỏi mọi tội lỗi nhờ Ðức Kitô, và kể cả sự tự do khỏi bị áp bức về chính trị và xã hội. Sự tranh đấu cho công bằng, kể cả thay đổi cơ cấu xã hội, không phải là một phần được thêm vào trong Phúc Âm, nhưng là phần căn bản của Phúc Âm. Việc ưu tiên cho người nghèo, mà trong đó chữ "nghèo" phải được hiểu là bao gồm mọi đau đớn và khổ cực, nói lên chiều kích chân thực của sứ điệp Kitô Giáo, nhất là được tìm thấy trong tinh thần Tám Mối Phúc. Các cộng đồng nền tảng giáo hội tượng trưng cho một nguồn hy vọng cho tương lai của Giáo Hội. Tình liên đới con người là một đức tính quan trọng của Kitô Giáo nhằm thúc đẩy con người nhớ đến bổn phận của mình là chia sẻ của cải cho nhau. Khi xác nhận những điểm này, Tòa Thánh đã mở ngỏ cho một vài động lực chính yếu của thần học giải phóng. Nói cách khác, nhiều điểm lưu tâm của thần học giải phóng có những giao điểm với những lưu tâm trong truyền thống lâu đời về giáo huấn xã hội Công Giáo.
Ðồng thời, Toà Thánh vẫn cảnh cáo về một số khía cạnh của thần học giải phóng. Mặc dù Giáo Hội phải rao giảng về một sứ điệp có quan hệ mật thiết đến chính trị, việc can dự vào đảng phái chính trị vẫn là công việc của giáo dân, chứ không phải tu sĩ. Các thần học gia được cảnh cáo là không nên quá liên kết với các hệ tư tưởng vô thần hoặc hỗ trợ cho việc bạo động cách mạng. Việc nhận biết nhu cầu cần phải thay đổi các cơ cấu bất công của xã hội không thể dẫn đến việc coi thường chân lý căn bản, đó là tội lỗi đã bắt nguồn từ tâm hồn và từ sự lựa chọn của mỗi một người.
Riêng với Ðức Gioan Phaolô II, từ ngày ngài lên giáo hoàng đến nay, giáo triều của ngài nổi tiếng là tìm cách đưa Giáo Hội cũng như các điều mà Giáo Hội tin là tốt đẹp trở lại với đời sống con người mà chủ nghĩa thế tục đang tìm cách loại trừ. Có thể nói, kẻ thù chính của Ðức Gioan Phaolô II là chủ nghĩa thế tục hiện đại. Ðối với đức giáo hoàng, thần học giải phóng là một phần của chủ nghĩa thế tục.
Ðức Gioan Phaolô II nói rằng, mọi hoạt động của con người phải hướng về ý nghĩa tối thượng của đời sống, đó là đời sống vĩnh cửu. Trong khi dồn mọi nỗ lực về đời sống hiện tại, con người thời nay thường quên đi chân lý nền tảng này.
Trong tông thư đầu tiên, Ðức Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng mọi chủ nghĩa nhân văn đích thực phải hướng về Ðức Kitô. Mọi thứ khác chỉ là dại dột (1979: đoạn 10). Sau đó không xa, ngài viết thêm: "hãy ý thức rằng hoạt động của con người là một góp phần trong hoạt động của Thiên Chúa được thấm nhập ngay trong sinh hoạt đời thường, như Công Ðồng đã dạy... Ngay cả trong sinh hoạt trần tục, [người tín hữu Kitô] phải hỗ trợ nhau để sống thánh thiện hơn" (1981: đoạn 25).
Chỉ một vài tuần sau khi lên ngôi giáo hoàng, Ðức Gioan Phaolô II đã đến Châu Mỹ La Tinh để khai mạc nghị hội các Giám Mục Châu Mỹ La Tinh (CELAM) ở Puebla. Trong diễn văn khai mạc, ngài nói:
Những cam kết mục vụ... phải được nuôi dưỡng bởi một quan niệm Kitô Giáo đúng đắn về giải phóng. [Giáo Hội] có nhiệm vụ loan truyền sự giải phóng trong một ý nghĩa sâu đậm hơn, đầy đủ hơn, đó là ý nghĩa đã được loan truyền và thực hiện bởi Chúa Giêsu. Sự giải phóng đầy đủ hơn là sự giải phóng khỏi mọi áp bức của loài người, nhưng nhất là sự giải thoát khỏi tội lỗi và ma quỷ (Quade, 1982: 66-67).
Bất cứ mưu toan nào nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất của con người, trong khi quên đi bản tính thiêng liêng của họ, tỉ như khuyến khích dân chúng khinh miệt người giầu, ăn cắp của cải người giầu hoặc bạo động chống lại họ, sẽ chỉ đưa con người lún sâu hơn vào vòng nô lệ cho tội lỗi. Chỉ có nền văn hóa vật chất mới coi đây là sự tiến bộ. Với người Công Giáo truyền thống, "Sự cứu độ là sự giải phóng trong ý nghĩa mạnh mẽ nhất của nghĩa chữ, vì đó là sự giải thoát khỏi tội lỗi" (Ratzinger, 1986: đoạn 3).
Các giám mục Châu Mỹ La Tinh cũng đã ca ngợi sự đóng góp của người giầu, cả về phương diện tài chánh lẫn công ăn việc làm. Các ngài đã kể ra các vị thánh Công Giáo giầu có, nhưng biết dùng của cải "theo kiểu Kitô Giáo" hoặc đã khước từ tài sản. Sau cùng, các ngài nhắc lại rằng khi người thanh niên giầu có đến với Chúa Giêsu, "Ðức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến " (Máccô 10:21). Các linh mục phải theo gương Chúa Giêsu. Ðức ái phải dẫn đến sự cảm thông, từ đó dẫn đến sự hòa giải, và dẫn đến sự hợp nhất xã hội. Sự hợp nhất này sẽ lần lượt tạo nên những thăng tiến về kinh tế và xã hội.
Ðức Gioan Phaolô II cũng cho rằng sự đòi hỏi "công bằng" của các thần học gia giải phóng thì không đủ để có thể coi đó là một hướng dẫn cho hoạt động xã hội, nhất là vì các thần học gia giải phóng nhìn thế giới này trong giới hạn về kinh tế. Trong một xã hội tệ hại vì khoảng cách biệt giữa giầu nghèo và địa vị, việc phát triển một xã hội hài hòa sẽ đòi hỏi người nghèo tha thứ cho những gì họ bị lạm dụng trong quá khứ, cũng như đòi hỏi sự hy sinh của người giầu. "Công bằng" phải nhường bước cho bác ái, là một mục tiêu nhiều thách đố hơn (Gioan Phaolô II, 1987: đoạn 40).
V. Kết Luận
Kể từ sau Công Ðồng Vatican II, khuynh hướng chung của Giáo Hội là tìm về sứ điệp Phúc Âm càng sát càng tốt để tìm ra phương cách sinh hoạt của Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Qua những tiến bộ của khoa học trong các thế kỷ gần đây, Giáo Hội cũng phải thay đổi nhiều cái nhìn, về Phúc Âm, về Giáo Hội, về tổ chức, về vai trò của giáo sĩ cũng như giáo dân, sự thay đổi ấy được tìm thấy trong các văn kiện của Công Ðồng Vatican II.
Trong đường hướng đó, hình ảnh của các cuộc Thập Tự Chinh thời Trung Cổ là một vết nhơ trong lịch sử Giáo Hội mà chúng ta không thể nào quên được. Ðức Kitô không phải là một chính trị gia mà là vị lãnh đạo tôn giáo thuần tuý. Vương quốc của Ngài không ở trần gian này mà là ở đời sau. Người theo Ðức Kitô không thể dùng võ lực để giải quyết vấn đề. Không có gì mâu thuẫn hơn khi chúng ta nhân danh Ðức Kitô chịu đóng đinh, chịu hy sinh tính mạng vì tình yêu để "mắt đền mắt, răng đền răng". Chính vì thế, vào ngày 12 tháng Ba 2000, Tòa Thánh Vatican đã cử hành một nghi thức có thể nói là biến cố quan trọng nhất trong Năm Thánh, đó là Ðức Giáo Hoàng đã long trọng xin lỗi về những lỗi lầm mà con cái Giáo Hội đã phạm trong quá khứ gồm: "những phương cách không phù hợp phúc âm" khi phục vụ đức tin; tội làm chia cách Kitô Giáo; tội "đối với dân tộc của Giao Ước" là Do Thái; tội đối với đức ái, sự hòa bình, các quyền lợi của người dân, sự tôn trọng văn hóa và tôn giáo; tội phạm đến phẩm giá của phụ nữ và sự hợp nhất của nhân loại; tội phạm đến các quyền căn bản của con người...
Con đường theo Ðức Kitô là một con đường hẹp, nhiều khó khăn. Trong khi bổn phận của người tín hữu Kitô là bênh vực quyền lợi của mọi giới, chúng ta phải tranh đấu cho công bằng, cho tự do, cho các quyền căn bản của con người trong một phương cách "khôn ngoan như con rắn" nhưng lại "hiền lành như chim bồ câu."
Ðã có những lúc Ðức Kitô phải "lẻn vào đám đông" để tránh cơn thịnh nộ của giới kinh sư và luật sĩ khi bị Người lên án. Nhưng khi đã đến giờ, Người cương quyết lên Giêrusalem để chịu chết chuộc tội cho thiên hạ theo như thánh ý Chúa Cha.
Ðiều quan trọng là phải biết đâu là thời điểm. Theo gương Ðức Kitô, chúng ta cần cầu nguyện và lắng nghe. Cầu nguyện để chúng ta bớt đi thành kiến, có một cái nhìn xác thực và khách quan trong nhận định. Lắng nghe vì Chúa sẽ nói với chúng ta qua người khác và nhờ đó chúng ta sẽ khôn ngoan hơn trong hành động.
Trong bất cứ cuộc tranh đấu nào, điều quan trọng không phải là trở nên anh hùng cá nhân, mà là anh hùng dân tộc. Anh hùng cá nhân có thể sống theo ý mình, nhưng anh hùng dân tộc phải biết hy sinh ý riêng cho ích lợi chung.
Trong khi chờ đợi đúng thời điểm, ngoài sự cầu nguyện và lắng nghe, người tín hữu cần học hỏi để nhận ra chân lý. Chỉ có chân lý mới có sức thuyết phục người khác chứ không phải sức mạnh của đàn áp, đe dọa, vu khống hay chụp mũ. Vì không có gì mâu thuẫn và trái ngược hơn khi chống đối các chế độ độc tài, áp bức chúng ta lại dùng các phương cách thiếu tôn trọng sự tự do của người khác.
Hy vọng rằng một vài nhận định trên sẽ giúp quý độc giả có một cái nhìn về sinh hoạt chính trị và Giáo Hội.
Tài Liệu Tham Khảo:
Dennis M. Doyle, The Church Emerging from Vatican II (Twenty-Third Pub. 1999)
Leonardo Boff, Church: Charism and Power (New York: Crossroad, 1985)
Edward Ạ Lynch, The Retreat of Liberation Theology in the February 1994 issue of "The Homiletic & Pastoral Review"
Các bản tin của hãng thông tấn ZENIT
|