|
hi thu lượm tài liệu và văn phong để dùng trong các Phúc Âm, bốn Phúc Âm Gia--Máccô, Mátthêu, Luca và Gioan--đã trình bầy cho chúng ta bốn chân dung rất khác biệt của Ðức Giêsu. Ðược vẽ bằng lời văn thay vì bằng mầu sắc và đường nét của họa sĩ, các chân dung này đôi khi thật hấp dẫn, đôi khi thật khó hiểu. Làm thế nào bốn kiểu diễn tả khác biệt đó lại có thể áp dụng cho một người? Ðể dễ hiểu, chúng ta nên nhớ lại chính chúng ta, nhiều khi dưới con mắt của những người thân thuộc, chúng ta cũng rất khác biệt. Ngoài ra, chân dung của các nhân vật nổi tiếng trên thế giới cũng được trình bầy một cách khác nhau bởi các nhà danh họa trên thế giới.
Khi diễn tả Ðức Giêsu, các tác giả Phúc Âm phải đối diện với một thử thách độc đáo: Làm thế nào để diễn tả một người vừa thực sự là con người vừa thực sự là thần linh? Trong lịch sử, cũng có nhiều giải thích đi từ thái cực này sang thái cực khác. Thí dụ, trước thời Công Ðồng Vatican II, nhiều tác giả Kitô Giáo nhấn mạnh đến thiên tính của Ðức Giêsu trong khi thời hậu Công Ðồng, trọng điểm lại chuyển sang nhân tính của Người.
Các tác giả Phúc Âm cũng phải để ý đến thành phần độc giả của mình, y như chúng ta thường làm khi viết thư cho bạn hữu. Bốn phúc âm gia chọn những câu nói, những hành động của Ðức Giêsu mà họ cho là thích hợp với độc giả của họ. Thành phần độc giả này rất khác biệt về kiến thức tôn giáo, nguồn gốc văn hóa và sắc tộc.
Tất cả những điều này được phản ánh trong các chân dung của Ðức Giêsu mà các tác giả Phúc Âm đã phác họa lại. Phúc Âm nào đáng tin nhất? Cuốn nào phản ánh Ðức Giêsu trong lịch sử Giêsu đúng nhất? Tất cả bốn cuốn đều như vậy. Như một lăng kính vĩ đại, bốn cuốn cùng với nhau phản chiếu ánh sáng Ðức Kitô trong một phương cách mà mỗi một cuốn có một màu sắc riêng biệt và độc đáo. Như lăng kính phát tỏa ánh sáng trong tâm trí chúng ta khi đọc Phúc Âm, hình ảnh Ðức Giêsu xuất hiện từ mỗi một Phúc Âm cũng không thể nào đầy đủ, sâu xa và cao vời cho bằng cả bốn cuốn tổng hợp lại.
Một Giêsu Khuấy Ðộng, Vội Vàng của Máccô
Ða số các học giả Kinh Thánh ngày nay đều cho rằng Máccô là tác giả Phúc Âm đầu tiên. Người ta thường cho rằng Máccô sáng tác trong khoảng năm 65 đến 70 AD, một ít lâu sau khi rất đông Kitô Hữu, kể cả thế hệ chứng nhân đầu tiên, bị bỏ mạng dưới sự bách hại của hoàng đế Nero. Hai người nổi tiếng trong danh sách các vị tử đạo tiên khởi này là Phêrô và Phaolô. Có lẽ vì sự qua đời của quá nhiều vị lãnh đạo trong Giáo Hội mà Máccô thấy cần phải ghi lại cuộc đời Chúa Giêsu: người là ai, đã làm gì, giảng dạy những gì. Việc lan tràn mau chóng của Kitô Giáo ở vùng Ðịa Trung Hải là một yếu tố khác cho thấy cần phải có một trình thuật về cuộc đời Chúa Giêsu.
Chúng ta biết rất ít về căn tính của vị tác giả Phúc Âm này. Ông không phải là một trong Mười Hai Tông Ðồ. Trong ba danh sách các người thân quen với Chúa Giêsu mà chúng ta được biết (Mt. 10:2-4, Mk 3:14-19, Lk. 6:13-16), không thấy có tên Máccô. Hầu như ông cũng không phải là một chứng nhân. Ngoài ra, Máccô là một tên gọi phổ thông trong thế kỷ thứ nhất thời đế quốc La Mã. Tuy nhiên, theo truyền thống, Máccô này có liên hệ với "Gioan Máccô" được nhắc đến trong Tông Ðồ Công Vụ ba lần (12:12, 12:25, 15:37). Qua đó, ông là một người bà con với Barnabas (Col. 6:10) và, một người đồng hành với Phaolô (TÐCV 12:25).
Một truyền thống khác nói rằng, sau này, Máccô tháp tùng Phêrô đến Rôma. Ðiều này rất có thể là vị Ngư Phủ ấy trở thành nguồn chứng nhân tuyệt vời về Ðức Giêsu mà Máccô đã ghi lại trong trình thuật của mình. Thực sự, Giêsu của Máccô rất giống với Giêsu của Phêrô.
Giêsu của Máccô là một người rất vội vàng. Nếu kịch hóa Phúc Âm thì Ðức Giêsu là người không bao giờ ngừng một khi lên sâu khấu. Người ta nói rằng, trong phần diễn tả đầu tiên về Ðức Giêsu, có lẽ Máccô đã quên không đề cập đến những lần Ðức Giêsu ngồi nghỉ. Cũng không thấy Máccô đề cập đến sự sinh hạ hay thời niên thiếu của Ðức Giêsu. Lúc mở màn, Máccô giới thiệu ngay một Gioan Tẩy Giả ngang tàng đã làm phép rửa cho Ðức Giêsu trước khi Người vào sa mạc 40 ngày--tất cả những điều này được tóm lược vỏn vẹn trong 13 câu của chương một. Trước khi chấm dứt chương một, Ðức Giêsu đã gọi các môn đệ đầu tiên, đã thi hành một vài việc chữa lành và lên đường đến Capernaum.
Ðọc Phúc Âm Máccô khiến người ta muốn hụt hơi. Muốn có ấn tượng đúng về Ðức Giêsu theo kiểu của Máccô thì người ta phải đọc một hơi cho đến hết 16 chương. Ðừng để ý đến các chú thích ở cuối trang hay tài liệu tham khảo. Chỉ cần đọc một hơi hết cuốn, và bạn sẽ được giới thiệu với một Giêsu mà có lẽ chưa bao giờ gặp.
Bạn sẽ gặp một Giêsu trần tục và dễ làm quen, một Giêsu mà hầu hết chúng ta cảm thấy yên tâm, một Giêsu rất dễ tiếp xúc miễn là bạn có thể theo kịp Người, một Giêsu luôn bị đám đông bao quanh: "Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người. Cả thành xúm lại trước cửa" (Mk 1:32-33); "Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông đè bẹp" (Mk 3:9); "Người trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được" (Mk 3:20). Chữ "đám đông" được dùng trong Phúc Âm Máccô đến 42 lần (theo bản dịch New American Bible).
Trong Máccô, chúng ta gặp gỡ một Giêsu rất nhân bản. Chúng ta dễ đồng hóa với Người vì tâm tình của Người thì rất giống với chúng ta. Khi một người phong cùi, bị xã hội khai trừ, đến với Ðức Giêsu, "Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: 'Tôi muốn anh được sạch!'" (Mk 1:41). Nhưng nếu Người trở nên mềm lòng trước sự đau khổ thì Ðức Giêsu của Máccô cũng có thể ném ánh mắt đanh thép đến những người thiếu lòng thương xót, như trường hợp những người Pharisiêu thường bắt bẻ Ðức Giêsu về việc chữa bệnh ngày sabát. "Ðức Giêsu giận dữ rảo mắt nhìn họ và thấy buồn vì lòng họ chai đá. Người bảo anh bại tay: 'Anh giơ tay ra!' Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường" (Mk. 3:5).
Khi sắp sửa chấm dứt cuộc đời trần thế, Ðức Giêsu và các môn đệ tụ tập ở Giệtsêmani, "Người đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo và bắt đầu cảm thấy hãi hùng xao xuyến. Rồi Người nói với các ông: 'Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.'" (Mk 14:33-34). Những chuỗi tâm tình này khiến Ðức Giêsu trong Phúc Âm Máccô trở nên dễ thân thương với chúng ta, là những người cũng có tâm tình tương tự.
Thầy Giêsu, Một Môisen Mới của Mátthêu
Nếu Máccô sáng tác Phúc Âm là dành cho các tín hữu ở Rôma, hầu hết từ ngoại giáo trở lại Kitô Giáo, thì Mátthêu lại có thành phần độc giả hoàn toàn khác biệt. Có lẽ đó là những người ở Antiôkia, Syria, một trung tâm đầy sinh hoạt trong thời Kitô Giáo tiên khởi ("... chính ở Antiôkia mà các môn đệ được gọi là Kitô Hữu" [TÐCV 11:26]). Phúc Âm của Mátthêu có sau Máccô đến khoảng một thập niên, được sáng tác khoảng năm 80 của thế kỷ thứ nhất. Vì Syria ở ngay phía bắc của Palestine, nên thành phố này là nơi cư ngụ của rất đông người Do Thái, và từ chính số dân này mà cộng đoàn của Mátthêu được thành hình. Mátthêu tận dụng gốc gác đạo Do Thái của giáo đoàn để nói với họ rằng, Ðức Giêsu chắc chắn là Ðấng Messiah (Thiên Sai) được trông đợi từ lâu, sự hoàn mãn tất cả các điều ấy đã được viết trong Sách Thánh Do Thái.
Ðức Giêsu ở đây xuất hiện như một Môisen mới. Không như Máccô, Mátthêu rất để ý đến nguồn gốc của Ðức Giêsu và ông đã khởi đầu câu truyện bằng gia phả của Ðức Giêsu, một gia phả với các tên tuổi nổi tiếng như Abraham, Isaac, Jacob, Judah, Ruth, David, Solomon và Giuse. Nói cho đúng, đây là gia phả của cha nuôi Ðức Giêsu được kê khai để phù hợp với khuynh hướng của Mátthêu là biến Giuse thành nhân vật chính trong quãng đời thơ ấu của Ðức Giêsu.
Với câu truyện giáng sinh của Ðức Giêsu, Mátthêu bắt đầu so sánh giữa Messiah và Môisen. Chỉ có Mátthêu mới nói về sự đố kị và căm thù của vua Hêrôđê khiến Giuse phải đưa gia đình sang Ai Cập lánh nạn. Từ đó, Mátthêu muốn nói rằng, cũng như xưa Pharaô sợ và không thích nói đến dân Do Thái trong thời Môisen, thì Hêrôđê cũng đối xử với gia đình Ðức Giêsu như vậy. Vì lo sợ, Hêrôđê đã làm đổ máu các bé trai vô tội ở Bêlem trong một tình tiết chỉ có ở Mátthêu, đó là các anh hài bị giết (Mt. 2:14-16). Cũng như các bé trai Do Thái bạc mệnh dưới thời Pharaô xưa (Xh. 1:15-22) thì nay các trẻ Do Thái cũng là nạn nhân của Hêrôđê. Hài nhi Giêsu, cũng như Môisen, được cứu thoát khỏi cơn thịnh nộ của nhà cầm quyền và, vào đúng lúc, sẽ xuất hiện, cũng như Môisen xưa ở Ai Cập.
Trong cộng đoàn Mátthêu cũng có mặt của những người không phải là dân Do Thái, do đó tác giả đã dọn đường trong cộng đoàn mình bằng câu chuyện các Ðạo Sĩ, là những người chắc chắn là Dân Ngoại (Mt 2:1-12), cùng với nhận định của Ðức Giêsu, "... từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Abraham, Isaac và Jacob trong Nước Trời..." (Mt 8:11).
Sự so sánh Ðức Giêsu với Môisen lại được tiếp tục trong trình thuật về bài diễn từ nổi tiếng của Ðức Giêsu, Bài Giảng Trên Núi. Khi trình thuật bài giảng này, Mátthêu đóng dấu hiệu thần tính lên Ðức Giêsu, đưa Người lên trên Môisen, bằng cách để Người trích dẫn từ Luật Môisen được đem xuống từ núi Sinai và khai triển ý nghĩa của luật bằng chính thẩm quyền của Người cũng từ một ngọn núi: "Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: 'Chớ giết người. Ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà.' Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình, thì phải bị đưa ra toà..." (Mt. 5:21-22).
Nếu Phúc Âm Máccô là một Phúc Âm đầy hoạt động, trình bầy một Ðức Giêsu luôn di chuyển và những gì Người làm, thì Phúc Âm Mátthêu nhiều suy tư hơn, nêu bật những điểm suy tư của Ðức Giêsu và những điều Người nói. Ðể dễ nhớ lời giảng dạy của Ðức Giêsu, Mátthêu chia làm năm phần chính. Sự phân chia này rất thành công đến nỗi Phúc Âm Mátthêu đôi khi được coi như một cuốn giáo lý. Ðạo Công Giáo thường dùng Phúc Âm Mátthêu trong các giảng dạy, có lẽ hơn bất cứ cuốn phúc âm nào khác. Hầu như mỗi một trang, chúng ta đều gặp gỡ Ðức Giêsu, một vị thầy, một giáo sĩ.
Trong năm phần chính, Mátthêu thu thập những gì Ðức Giêsu nói về một đề tài đặc biệt và đưa ra một diễn từ về đề tài ấy. Mỗi một phần được dẫn trước bằng một đoạn kể nhắm đến cùng chủ đề, và mỗi một bài diễn từ được kết luận một cách gọn gàng bởi một vài thay đổi trong câu "Khi Ðức Giêsu chấm dứt những lời này..." (Mt. 7:28, 11:1, 13:53, 19:1). Khi kết thúc phần thứ năm và diễn từ sau cùng, phần kết có chút khác biệt: "Khi Ðức Giêsu chấm dứt tất cả những lời này..." (Mt. 26:1). Các bài giảng có thể chia ra như sau:
- Bài Giảng Trên Núi (Mt 5:3--7:27)
- Bài Giảng về Sứ Mệnh Truyền Giáo (Mt 10:5-42)
- Bài Giảng bằng Dụ Ngôn (Mt. 13:3-52)
- Bài Giảng về Giáo Hội (Mt 18:3-35)
- Bài Giảng về Thời Cánh Chung (Mt. 24-4--25:46)
Trong Phúc Âm Mátthêu, Ðức Giêsu thường được đề cập đến như một vị Thầy (8:19, 9:11, 12:38, 19:16, 22:16, 22:24, 22:36, 26:18). Thông thường, hình thức này được dùng bởi những người chống đối. Ðức Giêsu dạy bảo toàn thể cộng đồng như Môisen đã làm xưa, nhưng Người không phải lên núi để lãnh nhận thẩm quyền; đôi khi Người giảng dạy từ trên núi bằng chính thẩm quyền của mình. Trong khi Ðức Giêsu của Máccô có nhiều điều trưng cho chúng ta thấy, Ðức Giêsu của Mátthêu lại có nhiều điều để nói với chúng ta. Ðức Giêsu của Luca lại có cả hai điểm này, nhưng từ một quan điểm khác biệt.
Một Giêsu Nhân Hậu, Hay Tha Thứ của Luca
Chân dung của Ðức Giêsu mà có lẽ rất nhiều người hay mường tượng là từ Phúc Âm Luca. Luca, giống như Máccô, cũng dò hỏi từ những người khác để hình thành một chân dung của Ðức Giêsu, vì chính ông cũng không phải là một trong Mười Hai Tông Ðồ. Ông mở đầu phúc âm bằng lời thú nhận rằng ông không phải là một nhân chứng (Lc 1:1-3). Luca là một người Hy Lạp tòng giáo viết cho thành phần độc giả Dân Ngoại giống như ông. Có lẽ ông viết Phúc Âm ở Achaia, một tỉnh phía nam của Hy Lạp ngày nay, và có lẽ cùng thời gian với Mátthêu khi sáng tác ở Syria. Trong Luca, chúng ta gặp một tác giả lão luyện nhất của Tân Ước--có người còn cho rằng, của toàn bộ Kinh Thánh. Nhờ tài năng đó, ông đã quân bình tính cách đa dạng của các chủ đề mà không làm người đọc lẫn lộn.
Các tiêu đề mà Luca đã thuật lại cuộc đời và sứ vụ của Ðức Giêsu gồm:
1. Phúc Âm của Phụ Nữ: Trong Luca, người phụ nữ có một vai trò nổi nang, ngang hàng với nam giới. Luca thích đặt song song hai nhân vật, nam và nữ, trong một vài tình tiết: Ðức Maria và ông Zechariah trong đoạn truyền tin (Lc. 1:5-38); bà Anna và ông Simêon trong đoạn dâng hài nhi vào đền thờ (Lk. 2:22-38); người đàn ông mất chiên và người phụ nữ mất đồng bạc (Lk. 15:1-10).
2. Phúc Âm của Chúa Thánh Thần: Ngôi Ba Thiên Chúa được chú trọng trong Luca hơn bất cứ phúc âm gia nào khác. Ðoạn dâng hài nhi Giêsu vào đền thờ là một thí dụ trong Phúc Âm Luca, và có lẽ, Chúa Thánh Thần đóng vai trò quan trọng hơn nữa trong sáng tác thứ hai của Luca, cuốn Tông Ðồ Công Vụ.
3. Phúc Âm của Sự Cứu Ðộ Chung: Viết cho Dân Ngoại, Luca nhận định về sự cứu độ của Ðức Giêsu là cho mọi người, chứ không chỉ người Do Thái: "... và mọi người phàm sẽ được nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa" (Lc 3:6).
4. Phúc Âm của Sự Thương Xót và Tha Thứ: Chính trong Phúc Âm Luca mà chân dung của Ðức Giêsu được rõ nét nhất. Luca coi Ðức Giêsu như một người bạn và người bênh vực những ai bị xã hội ruồng bỏ: người nghèo, người tật nguyền, người tội lỗi và tất cả những ai cảm thấy mình bị bỏ rơi bên lề cộng đoàn. Ðức Giêsu của Luca có lòng nhân hậu lớn lao đối với những người ấy. Không ai chịu đau khổ vì bị khai trừ bằng người Samaritan. Trong gần một ngàn năm, họ bị người láng giềng Do Thái hắt hủi vì cho rằng máu huyết và tôn giáo của người Samaritan bị ô uế bởi người vô đạo. Người Samaritan lại được coi là anh hùng trong hai dụ ngôn của Ðức Giêsu. Chỉ có trong Phúc Âm Luca chúng ta mới nghe câu chuyện Người Samaritan Nhân Hậu (Lc. 10:30-37) và khi 10 người phong cùi được sạch thì chỉ có người Samaritan trở lại để cám ơn Ðức Giêsu (Lc. 7:11-19).
Ai ai cũng biết về dụ ngôn nổi tiếng nhất của Ðức Giêsu về sự tha thứ đến nỗi chúng ta lầm tưởng là tất cả các phúc âm gia đều đề cập đến. Tuy nhiên, chỉ có Phúc Âm Luca mới có Dụ Ngôn Người Con Hoang Ðàng (Lc. 15:11-32), và dụ ngôn ấy lẽ ra phải được đổi tên thành Dụ Ngôn Người Cha Tha Thứ, vì trong dụ ngôn này lòng thương xót của Thiên Chúa được trình bày một cách thật sống động.
Khi Phúc Âm Luca gần kết thúc, và Ðức Giêsu đang bị treo trên thập giá, chúng ta nghe Người cầu xin, "Cha ơi, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc. 23:34). Và khi tên trộm cũng bị treo trên thập giá ở gần đấy nài xin, "Ông Giêsu ơi, xin hãy nhớ đến tôi khi ông vào vương quốc của ông," thì Ðức Giêsu đã trả lời, "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng" (Lc 23:42-43). Những biến cố thương cảm này chỉ được ghi nhận trong Phúc Âm Luca.
Một Ðức Giêsu hiền lành, hay tha thứ, đầy lòng nhân hậu xuất hiện từ những trang Phúc Âm Luca lại được nổi bật hơn nhờ văn phong riêng của Luca. Không thích sự bạo động, lời lẽ mạnh bạo, và cảm xúc sống sượng, Luca thường làm dịu bớt các điều đó khi ông dùng Máccô như nguồn tài liệu cho mình. Nhờ giảm bớt kiểu cách văn phong thẳng thừng của Máccô mà Phúc Âm Luca lan tỏa nét nhân từ và bình an ngay ở giữa các biến cố đầy xáo động, như khi Ðức Giêsu bị khổ hình thập giá và từ trần.
Một Giêsu Quý Phái, Uy Nghi, Thần Linh của Gioan
Ba trình thuật đầu về cuộc đời, lời giảng dạy của Ðức Giêsu có một điểm chung, khiến ba cuốn Phúc Âm này được gọi là Phúc Âm Nhất Lãm, có nghĩa "được nhìn cùng lúc," nhưng Phúc Âm Gioan thì như một thế giới riêng biệt. Không còn một Giêsu mệt mỏi và đầy mồ hôi của Máccô, luôn luôn bị đám đông vây quanh. Trong vị thế của mình, Gioan đưa ra một Giêsu thật quý phái, chỉ tiếp xúc với các cá nhân: ông Nicôđêmô (Gn 3:1-21); người phụ nữ Samaritan (Gn 4:4-42); người mù bẩm sinh (Gn 9:1-41); và ông Lagiarô (Gn 11:1-44).
Ngay từ câu đầu của chương một, Ðức Giêsu của Gioan đã làm người đọc kính sợ. Trong Gioan không có những câu chuyện máng cỏ và mục đồng, ngôi sao và các đạo sĩ. Gioan muốn độc giả nhìn thấy nguồn gốc Ðức Giêsu là thần linh, cùng hiện hữu với Chúa Cha: "Từ ban đầu [gợi lại phần mở đầu Sáng Thế Ký] đã có Ngôi Lời [Ðức Giêsu], và Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa" (Gn 1:1). Từ điểm này trở đi, Gioan muốn nói rằng ông ta đang đề cập đến một người có nhân tính rõ ràng, nhưng cũng có một bản tính cao trọng hơn, đó là bản tính Thiên Chúa. Sự hợp nhất giữa Ðức Giêsu và Cha Người là một chủ đề được lập đi lập lại trong Gioan. Ở một chỗ, Ðức Giêsu nói với người Pharisiêu, "Các ông không biết tôi cũng chẳng biết Cha tôi. Nếu các ông biết tôi, thì hẳn cũng biết Cha tôi" (Gn 8:19). Và với ông Philíp ở bữa Tiệc Ly, "Ai thấy Thầy thì thấy Chúa Cha" (Gn 14:9).
Nhân vật uy nghiêm này được trình bầy bởi Gioan thì luôn luôn hoàn toàn làm chủ tình thế, ngay cả cái chết của chính mình: "Tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Không ai lấy được mạng sống của tôi, nhưng tự ý tôi hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy" (Gn 10:17-18). Biết rõ tư tưởng và hoạch định của người khác, một cách oai nghiêm Ðức Giêsu gọn gàng né tránh hay thách thức họ: "Nhưng Ðức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình" (Gn 6:15); "Ðức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: "Các người tìm ai?" Họ đáp: "Tìm ông Giêsu Nadarét." Người nói: "TA ÐÂY" [I AM] (Gn 18:4-5).
Khi trả lời với hai chữ ngắn gọn nhưng đầy quyền thế, một lần nữa Ðức Giêsu lại công bố về thiên tính của mình. Hai chữ "TA ÐÂY" được thấy rải rác trong Phúc Âm Gioan nhằm nhắc nhở độc giả về sự gặp gỡ giữa Môisen và Thiên Chúa trong bụi gai cháy lửa. Khi Môisen hỏi Thiên Chúa Ngài là ai, câu trả lời phát ra từ bụi gai là, "Ta Là Ta" (I am who am=Ta là đấng tự hữu)
Trong phiên tòa, thiên tính của Ðức Giêsu lại được tỏ lộ. Bị lúng túng vì Ðức Giêsu không trả lời, Philatô nói: "Ông không trả lời tôi ư? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao?" Ðức Giêsu đáp lại: "Ông không có quyền gì đối với tôi nếu ở trên không ban cho ông" (Gn 19:10-11). Một cách uy nghi cho đến tận cùng, lời cuối của Ðức Giêsu trên thập giá được Gioan ghi lại chỉ vỏn vẹn, "Thế là đã hoàn tất" (Gn 19:30).
***
Chúng Ta Chọn Chân Dung Nào? Có thể nào tất cả những khía cạnh trên tượng trưng cho cùng một nhân vật? Rất có thể và đúng như vậy. Giêsu, Thần-nhân, là một nhân vật không thể nào diễn tả được cho đủ. Do đó, chúng ta hiểu được lý do khi mỗi phúc âm gia chỉ chọn đưa ra một vài đặc tính nào đó của Người. Mỗi phúc âm gia đều ý thức về các khía cạnh của cá tính, lời giảng dạy và hành động của Ðức Giêsu mà nhờ đó cộng đồng của ông tin tưởng sâu xa hơn vào Ðức Kitô, Ðấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa. Và như thế, các trình thuật trong Phúc Âm tạo thành một lăng kính, một môi giới trong sáng mà qua đó ánh sáng tinh tuyền của Ðức Kitô có thể khúc xạ trong các phương cách đa dạng và mỹ miều.
Bốn khuôn mặt của Ðức Giêsu--có phải đó là tất cả chân dung của Người? Không thể nào được. Mọi Kitô Hữu đều được mời gọi để vẽ ra một chân dung của Ðức Giêsu trong chính cuộc đời mình, để họ trở nên các phúc âm sống động: là các khía cạnh của một lăng kính vĩ đại mà qua đó ánh sáng Ðức Kitô chiếu tỏa trên thế giới đang trông đợi./.
Virginia Smith
(PT Giuse TVNhật lược dịch)
|