Cau Xin Me

BÀI HỌC BÊN THÀNH GIẾNG

"H

ạnh phúc của đời sống là gì?” Một câu hỏi rất cũ kỹ nhưng câu trả lời lại rất mới, vì nó luôn luôn được tái thẩm định với từng cá nhân theo thời gian. Nếu Thiên Chúa tạo ra con người với mục đích để sống trong hạnh phúc, nhất định Thiên Chúa đã đặt vào tâm trí con người một động năng hướng về mục tiêu ấy. Vì vậy con người không ngừng đi tìm hạnh phúc. Đối với người vô thần, chắc chắn họ đi tìm hạnh phúc nơi những giá trị trong trần thế. Nhưng nhiều kinh nghiệm cho thấy con người đã phung phí cả đời đi mua hạnh phúc, rồi chấm dứt cuộc đời với cơn tận cùng tuyệt vọng. Bởi vì thành quả đạt được không bao giờ lấp đầy nỗi khát dục vọng. Những cái được xây dựng và chiếm hữu chỉ phục vụ cho cái tôi thể chất vô thường. Chính chúng cũng sẽ bị hủy hoại. Con người cảm nhận ra cái bản thể vật chất không thật sự là mình và cái hạnh phúc đang có chưa phải là hạnh phúc vĩnh cửu.

Khát Vọng Hạnh Phúc Đích Thực

Câu truyện bà Samaritan, mang bình đến giếng của tổ phụ Giacóp lấy nước, là câu trả lời về hạnh phúc mà con người đang đi tìm. Bà Samaritan ra giếng vì cơn khô cổ khát nước, nhưng khi gặp Đức Giêsu bà nhìn ra niềm khao khát đích thực của mình. Đó là cơn khát vọng một cuộc sống hạnh phúc. Bà đã tìm nó trong u mê qua năm đời chồng nhưng cả năm lần đều thất bại. Hiện tại bà đang ở với người đàn ông thứ sáu, không phải là chồng. Bà vẫn chưa thấy hạnh phúc.

Lúc ấy Đức Giêsu đang ngồi nghỉ mệt bên thành giếng. Người xin bà Samaritan chút nước uống. Bà kinh ngạc vì có ông Do Thái chịu nói truyện với phụ nữ nơi công cộng, hơn nữa lại nói với đàn bà xứ Samaritan - xứ vốn bị người Do Thái khinh rẻ. Bà còn lạ lùng hơn khi người ấy cho biết đáng lẽ bà phải xin nước uống từ ông ta. Ông có thứ nước khi đã uống vào thì vĩnh viễn không còn khát nữa. Lại còn kì dị hơn, khi vị khách lạ ra điều kiện nếu bà muốn uống nước ấy, bà phải cùng chồng đến nhận. Bà nhận ra số phận của mình, kẻ không thể uống nước, bà buồn rầu đáp, “Tôi không có chồng” (Gio 4:4-43). Từ điểm thành tâm thổ lộ ấy, bà thức tỉnh nhận ra khát vọng hạnh phúc mà bà tìm kiếm không thể lấp đầy bằng những thỏa mãn trần tục. Hạnh phúc không đến từ thế giới vật chất nhưng từ thế giới tâm linh.

Vấn đáp về khát và nước uống của Đức Giêsu và bà Samaritan là cuộc đàm luận thần học kỳ diệu. Ngôn ngữ của Đức Giêsu giản dị nhưng đầy biểu tượng. Cái Đức Giêsu muốn nói đến không phải là “nước uống”. Nhưng từ khởi điểm thực tại “nước uống”, Người đã hướng dẫn bà từng bước đi sâu vào mặc khải Thiên Chúa. Nhận thức của bà Samaritan khai triển từ ý thức ông khách lạ là “người Do Thái”, kế đến là một vị “lớn hơn tổ phụ Giacóp”, tiến sâu hơn nữa là “vị tiên tri”, rồi trở thành “Đấng Mêsia”. Cuối cùng ý thức lên tới tuyệt định của cảm nghiệm khi bà  nhận ra đây là “Đấng Cứu Thế” Người ban “nước hằng sống”. Sau phút được Đức Giêsu điểm đạo, bà tất tả chạy vào làng loan báo ầm ĩ cho mọi người biết Đấng Mêsia đã đến. Trong thế giới hỗn tạp u mê, chỉ có Đấng Mêsia mới có câu trả lời đích thực về hạnh phúc. Bà vui mừng đến nỗi quên cả chiếc bình chưa kịp múc nước bên thành giếng. Có lẽ bà là người đàn bà truyền giáo đầu tiên của Kitô giáo.

Câu truyện trên còn biểu lộ bản chất yêu thương của Thiên Chúa. Bà Samaritan ngạc nhiên vì Đức Giêsu biết rõ bà đã từng ở với sáu người đàn ông dù bà không nói ra. Người biết hết mọi sự nhưng không kết án bà. Người đối xử với bà rất thân mật, âu yếm, và từ tốn. Phong thái này cũng xảy ra khi Đức Giêsu gặp Natharaen, một kẻ hoang mang đi tìm chân sư. Natharaen chưa hề biết  Đức Giêsu và không tin có thể “có điều gì tốt ở Nazarét”. Nhưng khi gặp Người, ông sững sờ nhận ra Đức Giêsu đã biết rõ về mình. Tâm hồn xúc động, ông bừng tỉnh biết người trước mặt mình là ai. Ông thốt lên, “Thưa Thầy, Thầy là Con Thiên Chúa. Thầy là Vua của Israel” (Gio 2:45-51). Sự kiện Đức Giêsu biết rõ về họ chứng tỏ Người rất yêu thương họ. Người âm thầm đi với họ trong cuộc sống chua chát không lối thoát và kiên nhẫn chờ đợi ngày họ nhận ra Người. Như vậy, Đức Giêsu đã không đến với kẻ lành, nhưng lại chọn kẻ tội lỗi để ban nước hằng sống.

Ba Tầng Nhận Thức

Thần học ghi nhận hạnh phúc vật chất chỉ là một cảm giác thỏa mãn nhất thời. Con nguời thường xuyên nhàm chán vì đầy tham vọng. Con người không thể bền chặt thỏa mãn với những gì mình có. Vì thế hạnh phúc chỉ là một ảo ảnh. Chỉ những ai có khát vọng kết hợp với Thiên Chúa mới có hạnh phúc thật. Bởi vì không có cái gọi là hạnh phúc và bình an nằm ở bên ngoài Thiên Chúa. Hạnh phúc này sẽ bền chặt vĩnh viễn, vì ai uống “nước” ấy thì không bao giờ còn khát nữa. Tuy nhiên để có thể thực hiện điều này, câu truyện bà Samaritan cho biết, chúng ta phải bước qua ba tầng nhận thức: tự thức, Khát vọng tâm linh, và qui thuận Thiên Chúa.

Khả Năng Tự Thức

Tự thức là tự biết mình đang là gì và đồng thời ý thức có Đấng Siêu Việt toàn năng  và hằng hữu có thể giúp mình. Bà Samaritan nhận ra bà là kẻ tội lỗi. Đồng thời bà cũng nhận ra Đức Giêsu là Đấng Mêsia, Đấng cứu độ. Nhờ vậy mà bà được ơn giải tội và hoán cải.

Mình đang là gì? Người vô minh thường thấy hiện hữu của mình là một thực thể xác định bởi thân xác, trí thức, tài sản, danh vị, và quyền lực. Chúng thực sự chỉ là những dạng thể thuộc cơ hội tính của “cái tôi”. Vì vậy nhân vị của “cái tôi” ấy đóng khung trong thế giới bản vị vật chất (material ego-based world). Cũng có thể người đó cũng nhận ra họ là kẻ tội lỗi. Nhưng ý thức này vẫn chỉ nằm trong phạm vi luân lý xã hội trần thế. Hắn không đến với Thiên Chúa để được cứu độ. Hắn không có ý thức về chân thân siêu việt của mình nằm ngoài thế giới vật chất. Thất bại nhận ra chân thân, hắn cũng không nhận ra sự hiện hữu của Thượng Đế.

Tuy nhiên không phải hễ ai có tôn giáo là có tự thức về mình và về Thiên Chúa. Tự thức không thể đến từ kiến thức của người bên ngoài, hay từ Giáo Hội trao cho. Bà Samaritan có tôn giáo do tổ phụ Giacóp truyền lại, nhưng bà vẫn không biết giá trị thật của mình. Không ai có thể lấy sự sống của họ trao cho ta nếu ta không tự sống. Không có tự thức, chúng ta cũng không có đời sống tâm linh. Chỉ khi có thức tỉnh tâm linh, ta mới nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa vĩnh hằng. Câu hỏi của Đức Giêsu “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?” (Luc 9:20) vẫn luôn luôn chờ đợi chúng ta trả lời.

Khát Vọng Tâm Linh

Bước thứ hai là nhu cầu khát vọng tâm linh. Tự thức về bản thể của mình dẫn đến niềm khắc khoải khát vọng tiến hóa. Con người đến với Thượng Đế khi thất vọng và khi phá giới hạn của luật đạo đức. Khi ấy con người cảm nhận ra Nguồn Lực đứng đàng sau luật đạo đức. Con người đến với Nguồn Lực, tức Thượng Đế, vì con người cần sự tha thứ và hòa giải.

Khát vọng cao nhất của mọi linh hồn Kitô hữu là được hòa nhập vào Thiên Chúa vĩnh hằng. Thiên Chúa là nguồn mọi sự tốt lành và mọi ân sủng. Muốn tiến hóa con người phải hòa vào nguồn lực cực kỳ hoàn hảo thánh thiện của Thiên Chúa. Thông thường, những người có tôn giáo, ai cũng muốn có một đời sau siêu việt vĩnh cửu. Lòng mong muốn này chưa thể coi là khát vọng tâm linh nếu nó không có hành động đi kèm. Khi bà Samaritan khao khát nước hằng sống, Đức Giêsu nói với bà, “Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi lại đây.” Đó là điều kiện nhưng ẩn tàng một lời cảnh tỉnh rất nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về lối sống vô đạo. Muốn nhận lãnh nước hằng sống trước hết hãy sửa đổi nếp sống theo đạo lý. Bà không nên ở với người đàn ông khi chưa phải là vợ chồng.

Mâu thuẫn ở chỗ, có nhiều người, với cuộc sống ngắn ngủi nơi trần thế, không hề làm điều gì hướng về giá trị tâm linh. Ấy thế mà họ lại muốn có một đời sống tâm linh vĩnh cửu ở đời sau. Việc nhỏ không làm xong, ai trao cho họ việc khác vừa lớn hơn vừa khó làm hơn. Đức Giêsu răn họ, “Nếu các ngươi không đáng tin cậy trong việc sử dụng tiền bạc bất nghĩa, ai ủy thác cho các ngươi tiền của chân thật?” (Luca 16:11). “Tiền bạc bất nghĩa” là những dạng thể thuộc thế giới bản vị vật chất. “Của chân thật” là những hoa quả có giá trị đích thật của thế giới tâm linh. Muốn vào thế giới tâm linh, chúng ta phải thoát xác tái sinh vào một đời sống mới. Song hành với khát vọng tâm linh phải là cuộc cách mạng nhân cách.

Qui Thuận Thiên Chúa.

Bước thứ ba là sự qui thuận vào Thiên Chúa trong ý chí tự do. Nếu chỉ có ý thức sự hiện hữu của Thiên Chúa và khao khát suông một đời sống siêu việt, những điều đó chưa đủ để giải thoát chúng ta. Khi đó chúng ta vẫn còn ẩn nấp trong thế giới tính toán của trí óc. Chúng ta chưa thực sự bước ra khỏi “sự khôn ngoan thế gian” để an trú trong đức tin và đức trông cậy vào Thiên Chúa. Vì trí thức con người không thể tri giác về Thiên Chúa, nên đức tin không lệ thuộc vào trí thức. Khi không thể giải thích về Đấng Siêu Việt, ta không bị bắt buộc phải tin nếu ta không muốn. Vì vậy đức tin là một phẩm tính của ý chí tự do. Chỉ những người tin và sùng kính Thiên Chúa mới biết qui thuận vào Thiên Chúa. Như ma quỉ, hơn ai hết, chúng biết rất rõ có Thiên Chúa, nhưng chúng không qui thuận Chúa. Ta cũng sẽ như chúng nếu ta không khác chúng. Trong câu truyện, không những bà Samaritan mà cả dân làng của bà đều qui thuận Thiên Chúa. Họ nói với bà, “Nay chúng tôi đã tin, không phải vì lời nói của bà, nhưng chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Đấng ấy đúng là Chúa Cứu Thế.”

Qui thuận Thiên Chúa là phó thác con người toàn thể của ta cho Thần Khí ban sự sống nuôi dưỡng ta. Như bà Samaritan qui thuận Đức Giêsu, tâm hồn bà lãnh nhận cuộc tái sinh. Bà chuyển sự sống từ thế giới thể chất qua thế giới tâm linh. Từ đó “cái gì sinh ra bởi xác thịt là xác thịt, cái gì sinh ra bởi Thần Khí là Thần Khí” (Gio 3:6). Thần Khí là Thiên Chúa. Như vậy đời sống tâm linh là đời sống của Thiên Chúa và của những ai được trở thành con cái Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu đã chia sẻ với chúng ta bản chất siêu việt của Thiên Chúa. Người cầu nguyện cho chúng ta: “Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để họ hợp làm một, như Chúng Ta là một” (Gio 17:22).

Khi tất cả những tham vọng trần thế chỉ mang lại thành quả ác độc, ích kỷ, bệnh hoạn, và nỗi sợ hãi, Đức Giêsu cho chúng ta biết vẫn còn một lối thoát. Khi tự lực đi tìm hạnh phúc như bà Samaritan, hay như người con hoang đàng dùng hết phần tài sản Cha ban cho, phung phí cả đời đi mua hạnh phúc nơi trần thế, con người sẽ chỉ trở thành những tên nô lệ bị ngục tù trong những dục vọng. Lời dậy của Đức Giêsu bên thành giếng đã giúp chúng ta bừng tỉnh nhận ra:  khát vọng tâm linh là lối thoát duy nhất đưa con người ra khỏi giới hạn và ngục tù. Chính người đã lên tiếng mời gọi: “Ai khát hãy đến với Ta. Kẻ nào tin Ta thì hãy uống. Như Kinh Thánh nói: từ lòng Người sẽ tuôn chảy dòng nước hằng sống” (Gio 7:37-38).

Đỗ Trân Duy