Cau Xin Me

BÍ TÍCH THÁNH THỂ VÀ ĐỜI SỐNG LINH MỤC

THÁNH THỂ LÀ BÍ TÍCH TÌNH YÊU TỰ HIẾN

Bí tích Thánh thể là trọng tâm đời sống của Hội Thánh, trọng tâm của đời sống linh mục, nhìn dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Chúng ta dừng lại một khía cạnh rất cơ bản và cổ điển, đó là khía cạnh hy tế của bí tích. Chúng ta nỗ lực nhìn khía cạnh này một cách cụ thể và sát gần với kinh thánh tân ước và cuộc đời của Chúa Giêsu.

1. Tình Yêu tự hiến của Chúa Giêsu:

Nói đến Tình Yêu Tự Hiến là động tới cốt lõi của mầu nhiệm Thánh thể và cũng là cốt lõi của đời sống linh mục.

Cử hành bí tích Thánh Thể là cử hành Tình Yêu tự hiến của Chúa Giêsu (Dt 9, 12-14). Đó là một tình yêu ở trong trái tim của Chúa, thấm nhuần cuộc đời của Người.

Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là một cuộc sống dâng hiến. Cuộc đời ấy là của lễ dâng lên Chúa Cha, của lễ làm đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng. Cuộc đời Chúa Giêsu là Hy tế. Nơi Chúa Giêsu, mọi sự đều là của lễ, từ lời giảng dạy đến các phép lạ, từ những hành vi cử chỉ và lời nói thông thường cho đến sự hy sinh lớn nhất là hy sinh mạng sống.

Mọi sự đều biểu lộ tình yêu, biểu lộ sự mật thiết với Chúa Cha, sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa Cha. Sự dâng hiến của Chúa Giêsu hoàn tất bằng cái chết và trong cái chết. Chết là dâng trọn bản thân, dâng cả cuộc sống. Chết là không giữ lại gì cả, là dâng hiến tất cả.

Hội Thánh luôn coi cái chết của Đức Giêsu trên thập giá là một hy tế. Hy tế ấy khác với hy tế Cựu ước, vì hoàn toàn là hy tế tình yêu, là sự dâng hiến bản thân. Chúa Giêsu không dâng hiến cho Chúa Cha điều gì bên ngoài, mà là chính mình. Không có sự dâng hiến nào so sánh được với sự dâng hiến này, dù đó là sự dâng hiến của toàn thể nhân loại từ thời đại này sang thời đại khác, vì không có gì ở trần gian là sự dâng hiến của Người Con.

Chỉ có hy tế của Đức Giêsu mới là sự dâng hiến của Người Con, nên đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng và có khả năng khoả lấp muôn vàn tội lỗi. Tình yêu khoả lấp muôn vàn tội lỗi không là tình yêu mong manh của con người, mà là Tình Yêu của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và đối với tất cả nhân loại.

Đức thánh cha Gian Phaolô II, trong thông điệp Ecclesia de Euchanstia, đã gọi bí tích Thánh Thể là một hy tế theo nghĩa đen. Sự dâng hiến trong tình yêu và vâng phục cho đến chết của Chúa Giêsu tiên vàn là sự dâng hiên cho Chúa Cha (xem số 13).

Nơi bí tích Thánh Thể, Tình Yêu Dâng Hiến cho Chúa Cha trở thành Tình Yêu tự hiến cho nhân loại. Chúa Giêsu yêu thương loài người chúng ta đến nỗi chấp nhận trở nên lương thực nuôi dưỡng chúng ta. Cái chết của chúa Giêsu là cái chết cứu chuộc, là cái chết mang lại sự sống. Người chết để cho chúng ta được sống.

Chúa Giêsu đã tự nguyện nộp mình chịu khổ hình (KNTT 2). Bí tích Thánh Thể là Thân Mình Chúa Giêsu bị nộp vì chúng ta, là Máu Giao Ước Mới đổ ra cho chúng ta và mọi người được tha tội. Nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh hoàn toàn giống như nơi bí tích Thánh Thể, tình yêu dâng hiến cho Chúa Cha trở thành tình yêu tự hiến cho chúng ta. Người yêu Chúa Cha đến cùng, Người cũng yêu nhân loại chúng ta đến cùng: Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu (Ga 15,13).

Không có gì nơi Đức Giêsu mà không có giá trị mạc khải, vì Người là Ngôi Lời của Chúa Cha, đã đến trần gian để mạc khải tình yêu của Chúa Cha. Sự tự hiến của Đức Giêsu nơi thập giá và trong bi tích Thánh Thể biểu lộ tình yêu tự hiến của Chúa Cha nơi Người Con. Ngày hôm nay, chúng ta không còn thấy Đức Ki tô Nhập Thể, mà chỉ thấy Chúa Ki tô Thánh Thể; và thấy Chúa Ki tô Thánh Thể là thấy Chúa Cha. Ngày nay câu nói của Đức Giêsu ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha (Ga 14, 9) vẫn ứng dụng đúng cho chúng ta.

2. Thánh Thể và sư tự hiến của Hội thánh:

Bí tích Thánh Thể làm nên Hội Thánh. Đó là một Hội Thánh biết yêu thương, vì đã học yêu thương, đã không ngừng cử hành Mầu Nhiệm Tình Yêu sâu thẳm nhất. Hội Thánh hiểu thế nào là yêu thương, vì có kinh nghiệm về tình yêu. Hội Thánh được Thiên Chúa yêu thương và sống nhờ tình yêu của Thiên Chúa. Nhờ Chúa Thánh Thần, Hội Thánh kinh nghiệm các khía cạnh khác nhau của tình yêu thần linh.

Khía cạnh mà Hội Thánh kinh nghiệm nhiều hơn cả là tình yêu tự hiến của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Ki tô, vì Hội Thánh không ngừng đón nhận và sống bằng sự tự hiến ấy. Hội thánh sống bằng Thân Mình bị nộp, bằng Máu đổ ra cho mọi người được tha tội.

Vì Tình Yêu của Thiên Chúa Tình Yêu tự hiến, yêu bằng tình yêu của Thiên Chúa là yêu bằng tự hiến. Chính vì thế bản chất tình yêu của Hội Thánh là tự hiến. Hội Thánh tự hiến chứ không chiếm hữu. Hội Thánh trở nên lương thực cho loài người, nên bánh bẻ ra để xây dựng một thế giới mới. Dù bên ngoài nhiều người có vẽ không cần, không thích Hội Thánh, Hội Thánh vẫn phải tự hiến không ngừng như Chúa Giêsu đã tự hiến cho Hội Thánh.

Hội Thánh không chỉ tự hiến cho con người, mà quan trọng và căn bản hơn, Hội Thánh tiên vàn phải cùng với Chúa Ki tô tự hiến mình cho Thiên Chúa. Trong thông điệp Ecclesia de Eucharistia, Đức thánh cha Gian Phao lô II nhắc lại: Giáo Hội đã được mời gọi tự hiến chính mình cùng với hy tế của Chúa Ki tô. Đó là lời của Công đồng Vaticanô II dạy, liên hệ đến các tín hữu: " Khi tham dự vào hy tế Thánh thể, nguồn suối và đỉnh cao của tất cả đời sống kitô hữu, họ hiến dâng lên Thiên Chúa tế phẩm và tự hiến chính mình với tế phẩm đó. (xem số 1 3)

3. Thánh thể và sự tự hiến của linh mục.

Đời sống linh mục thông phần mầu nhiệm dâng hiên của Chúa Giêsu, thể hiện tình yêu thiên của Hội Thánh. Đinh cao của sự dâng hiến của Chúa Giêsu là Hy Tế thập Giá. Mỗi lần cử hành Thánh lễ, Hội Thánh cử hành Hy Tế Thập giá của Chúa Giêsu.

Đời linh mục không kết hiệp với hy tế thập giá Chúa Giêsu thì không là đời linh mục đúng nghĩa nữa. Đối với người linh mục, mỗi lần cử hành Mầu Nhiệm Thánh Thể là một lần thể hiện sự kết hiệp hết sức cơ bản này. Kết hiệp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh là cùng với Ngài dâng hiến đời mình cho Chúa Cha và tự hiến bản thân cho nhân loại, đặc biệt cho những người nghèo và đau khổ.

Người linh mục phải là hiện thân cho Tình Yêu của Chúa Giêsu Ki tô, và là chứng nhân cho Tình Yêu của Thiên Chúa.

Chỉ có Tinh Yêu ấy mới chiến thắng được tội lỗi và sự chết, giải thoát con người khỏi mọi thứ xiềng xích, làm cho con người trở nên con cái tự do của Thiên Chúa, cho con người chia sẻ Sự Sống, Niềm Vui, Hạnh Phúc của Thiên Chúa.

Linh mục thánh hoá bản thân nhờ thánh lễ. Trước hết chính thánh lễ là nguồn ơn cứu độ cho linh mục. Trong thánh lễ linh mục cử hành mầu nhiệm thánh giá cứu độ. Linh mục tiếp cận với ân sủng mầu nhiệm thánh giá Chúa, và trở thành, theo kiểu nói của Phao lô, người phân phát các mầu nhiệm.

Linh mục phải trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Linh mục là tư tế và là của lễ giống như Chúa Giêsu (Sacerdos ét victima). Linh mục tự hiến mình cùng với Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu (in persona Christi). Lời truyền phép là lời của Chúa Giêsu và của linh mục: này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con; này chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu sẽ đổ ra vì các con và mọi người được tha tội...

Đỉnh cao của sự thánh thiện là nên một với Chúa Giêsu để được đưa vào lòng Ba Ngôi Thiên Chúa. Không có nơi nào mà linh mục được nên một với Chúa một cách triệt để như trong thánh lễ. Vì ích lợi của Dân Chúa là Dân tư tế, mà Chúa Giêsu muốn có một sự đồng hoá huyền nhiệm giữa linh mục với Người với tư cách là Thượng Tế. Dân tư tế chỉ có thể dâng thánh lễ, nhờ thánh lễ và trong thánh lễ mà linh mục cử hành.

Chính vì lý do quan trọng đó, mà điều 909 trong giáo luật nhắc: linh mục đừng quên cầu nguyện để dọn mình thích đáng cử hành Thánh lễ và cám ơn Thiên Chúa sau Thánh lễ.

CỬ HÀNH MẦU NHIỆM VƯỢT QUA

Cử hành Bí tích Thánh Thể là cử hành mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô. Mầu nhiệm ấy vừa là trọng tâm, vừa là chóp đỉnh của lịch sử cứu độ. Cử hành mầu nhiệm Vượt qua là loan truyền việc Chúa chịu chết, tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến. Muốn đi vào trọng tâm của Bí tích, phải suy tư về mầu nhiệm Vượt qua của Chúa.

Chúa Kitô vượt qua thế gian về cùng Chúa Cha. Người cũng vượt qua thế gian để đến với chúng ta. Vượt qua thế gian, Người mới có thể ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Đức Kitô phục sinh càng là Emmanuel hơn Đức Kitô tại thế. Việc Người ở lại cùng chúng ta thuộc lãnh vực Thần Khí, vì Đức Kitô phục sinh trở nên Thần Khí tác sinh (1Cr 15,45). Mắt phàm không trông thấy Người, nhưng ai tin sẽ thấy Người (Ga 16,16-19).

Chúa Kitô đi về cùng Chúa Cha nhưng vẫn ở giữa chúng ta. Cử hành mầu nhiệm Vượt qua là cử hành việc Chúa Kitô đến với chúng ta, là đón Chúa đến. Vì Người đến, Người mới hiện diện ở giữa chúng ta, và chúng ta sung sướng nhận ra Người, gặp gỡ, tiếp xúc với Người, rồi cùng đi với Người.

Bí tích Thánh Thể vừa là một cuộc gặp gỡ ở mức cao nhất với Chúa Kitô, vừa là một hành trình đi theo Chúa. Chúa Kitô đến trong mầu nhiệm Vượt qua, Người hiện diện, nên chúng ta thờ lạy, chiêm ngắm, nhưng quan trọng hơn cả là đón tiếp Người và cùng vượt qua với Người.

Trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, Đức thánh cha Gioan Phaolô II viết: "Nền tảng và nguồn gốc của Giáo Hội, chính là tất cả tam nhật Vượt Qua" (triduum pascal), nhưng tam nhật này như được chứa đựng, được thực hiện trước và cô đọng lại mãi mãi trong hồng ân Thánh Thể. Trong hồng ân này Chúa Giêsu đã trao cho Giáo Hội nhiệm vụ hiện tại hóa không ngừng mầu nhiệm Vượt qua. Nhờ hồng ân này, Người thiết lập tính đồng thời huyền nhiệm giữa tam nhật vượt qua và dòng thời gian. (xem số 5)

Cử hành Thánh Thể là cử hành mầu nhiệm Vượt qua, là đón Chúa đến với chúng ta trong mầu nhiệm Vượt qua của Người. Hội Thánh là Hiền Thê không ngừng đón gặp Đấng Hôn Phu. Chúng ta đón Chúa cách trọn vẹn ở trong trái tim ta, vì Người đã vượt qua thế gian. Sự hiện diện của Chúa ở trong chúng ta làm cho tâm hồn chúng ta trở nên Thiên Đàng.

Dưới một khía cạnh khác, sự kết hiệp của chúng ta với Chúa Kitô là một hành trình. Chúa Kitô luôn ở trong tư thế động: Về cùng Chúa Cha và đến với anh em. Cử hành Thánh Thể là thông phần hành trình Vượt qua ấy của Chúa Kitô. Sống Bí tích Thánh Thể là sống biện chứng giữa kết hiệp và hành trình: Kết hiệp với Chúa để hành trình với Người; hành trình với Chúa để kết hiệp với Người. Hành trình ấy luôn là xuất hành, là ra khỏi mình, rời bỏ mình.

Vượt qua là xuất hành mới. Chúng ta có ra khỏi mình mới nên một với Chúa, có nên một với Chúa mới ra khỏi mình. Cuộc xuất hành của chúng ta trước hết diễn ra trong nội tâm. Tâm hồn chúng ta trở nên Thiên Đàng khi ta yêu mến Chúa đến quên mình. Càng ra khỏi mình, chúng ta càng gặp lại chính mình. Đánh mất bản thân, chúng ta gặp lại bản thân.

Linh mục và mầu nhiệm Vượt qua:

Linh mục là người xuất gia, rời bỏ gia đình, rời bỏ quê nhà để được ở với Chúa. Nhưng quan trọng hơn hết là rời bỏ bản thân, rời bỏ chính mình. Linh mục là con người xuất hành, con người ra đi để phục vụ.

Xét là Kitô hữu, linh mục bước theo Đức Kitô trên con đường Vượt qua, nhưng xét là linh mục, ông tham gia vai trò dẫn đầu của Đức Kitô, ông thông dự vào mầu nhiệm Vượt qua cách đặc biệt hơn, với tư cách là đầu, là người anh trưởng giống Chúa Kitô. Ông có nhiệm vụ đưa dẫn đàn em đi vào mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô. Được hiến thánh làm linh mục, ông được Chúa Thánh Thần làm cho nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô thượng tế: "linh mục được một bí tích riêng in dấu đặc biệt làm cho các ngài nên giống Đức Kitô Linh mục, đến nỗi có thể thay mặt Đức Kitô là Đầu mà hành động." (LM 2)

Sự tham gia cương vị làm đầu của Đức Kitô được thể hiện rõ ràng và trọn vẹn nhất trong Bí tích Thánh Thể, việc cử hành mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô để mọi người thông dự vào. Trong huyền nhiệm Tử nạn Phục sinh, Đức Kitô đã trở thành Người Anh Trưởng, Anh của mọi người (Frère Premier-Né, Frère Universel). Khi cử hành Thánh Thể, linh mục trở nên người anh trưởng, người anh phổ quát của nhân loại. Vì thánh lễ tiên vàn là hành vi của Chúa Kitô, nên đó là việc cử hành của linh mục; trong và qua việc cử hành này Dân Chúa mới được cử hành và thông phần mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô.

Lúc cử hành Thánh lễ, linh mục hành động với cương vị làm Đầu của Chúa Kitô nhờ Thánh Thần đã lãnh nhận khi được truyền chức. Mọi người khác, dù là già trẻ lớn bé, có những địa vị khác nhau, đều là đàn em gắn chặt với Người Anh Trưởng trong mầu nhiệm Vượt qua. Linh mục là dấu chỉ hữu hình và hữu thanh của Đức Kitô Thượng tế vĩnh cửu đi xuyên qua các tầng trời để vào nơi cực thánh, đến trước Nhan Thiên Chúa. Có thể gọi linh mục là con người vượt qua (homo paschalis), đại diện và dấu chỉ của Đức Kitô vượt qua (Christus Paschalis), đang cử hành mầu nhiệm Vượt qua (Mysterium Paschale), là Thánh lễ.

Là con người vượt qua, linh mục phải là người bám rễ sâu trong mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô, được tháp nhập trọn vẹn vào Đức Kitô Tử nạn Phục sinh, không ngừng múc lấy sự sống mới từ Đức Kitô Tử nạn Phục sinh. Nếu mầu nhiệm Vượt qua là nguồn ơn cứu độ cho mọi người, thì càng phải là như thế đối với linh mục.

Linh mục không được bằng lòng với khía cạnh do sự (ex opere operato) của Bí tích Thánh Thể, mà phải chú trọng mỗi ngày nhiều hơn đến khía cạnh do nhân (ex opere operantis), và nên thánh nhờ mầu nhiệm mình cử hành. Linh mục phải cử hành với đức tin và lòng mến sâu xa nhờ Chúa Thánh Thần khơi dậy. Linh mục không những đồng hóa với Đức Kitô cách khách quan (in persona Christi), mà còn đồng hóa tất cả chủ thể của mình với Chúa, bấy giờ linh mục là hiện thân của Chúa theo nghĩa trọn vẹn nhất.

Nếu chú trọng nhiều đến khía cạnh do nhân (ex opere operantis) khi cử hành thánh lễ, linh mục sẽ đưa thánh lễ vào cuộc sống và dạy giáo dân đưa thánh lễ vào cuộc sống. Cuộc đời linh mục sẽ là một hiện hữu vượt qua, không bám víu vào trần gian, không dính bén với của ăn trần thế, nói theo kiểu thánh Phaolô, linh mục có của cải cũng như không có, hưởng thụ cũng như không, mua sắm cũng như không.

Linh mục không những là đầu, dẫn đầu Dân vượt qua (populus paschalis) trong việc cử hành thánh lễ, mà còn dẫn đầu hành trình vượt qua trong cuộc sống. Giáo dân sẽ tin vào linh mục và sống theo sự hướng dấn của linh mục, vì bước theo linh mục là bước theo Chúa Kitô trên con đường vượt qua đi về cùng Thiên Chúa.

Linh mục, khi cử hành thánh lễ và sống thánh lễ, hãy nhớ mình là linh mục, mà cũng là Kitô hữu, thì thánh lễ mới làm nên con người linh mục (sacerdos de Eucharistia), làm nên người Kitô hữu linh mục. Nhiều khi trong cuộc sống và công việc mục vụ của linh mục thiếu sinh động, thiếu sức sống, uể oải nặng nề, không có tác dụng thực tế trên giáo dân, đó là vì thánh lễ chưa làm nên con người linh mục. Linh mục không chịu chết, không muốn chết, nên không sống, không có sự sống, không có Thánh Thần Phục Sinh làm cho sống.

CỬ HÀNH MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG

1. Bí tích Thánh Thể là mầu nhiệm Hiệp thông:

Bí tích Thánh Thể có khi được gọi là bàn ăn của Chúa, Bữa Tối của Chúa, Bánh bẻ ra, Bẻ Bánh... tất cả những cách nói ấy diễn tả một khía cạnh quan trọng của mầu nhiệm Thánh Thể là Hiệp thông.

Hiệp thông tiên vàn là thông phần: Chén chúc tụng ta cầm lên mà đội ơn, lại không phải là thông phần Máu Đức Kitô sao? Bánh ta bẻ, lại không phải là thông phần Thân Mình Đức Kitô sao? (1Cr 10,16).

Hội Thánh được gọi là Thân Mình Đức Kitô, vì thông phần cùng một Bánh. Các chi thể làm thành một Nhiệm Thể vì sống bằng cùng sự sống. Sự sống ấy chính là Chúa Kitô. Bánh Thánh Thể chứa đựng kho tàng quý giá nhất của Hội Thánh là Chúa Kitô. Chúa Kitô là Sự Sống và là Lẽ Sống, là Niềm Vui và là Hạnh Phúc, là Tình Yêu và là Sức Mạnh của Hội Thánh. Có Chúa Kitô, Hội Thánh không cần gì, không mong gì khác. Hội Thánh chỉ ước mong nên một với Chúa. Chính trong Bí tích Thánh Thể và nhờ Bí tích Thánh Thể mà Hội Thánh nên một với Chúa.

Không có sự kết hiệp nào mật thiết cho bằng thông phần Mình và Máu Thánh Chúa, ăn Thịt và uống Máu Chúa như lời Người dạy. Thông phần Mình và Máu Thánh Chúa, chúng ta sẽ ở trong Chúa và Chúa sẽ ở trong chúng ta. Mỗi người Kitô hữu đều mang Chúa Kitô trong mình, nhờ thông phần Mình và Máu Thánh Chúa.

Sự sống của Chúa Kitô là sự sống lãnh nhận từ Chúa Cha (Ga 6,57), là sự sống Ba Ngôi cùng chia sẻ. Các Ngôi Vị Thiên Chúa chia sẻ cùng sự sống thần linh. Theo một nghĩa nào đó, có thể nói rằng sự chia sẻ này làm nên Ba Ngôi. Sự chia sẻ trong Ba Ngôi không là chia cắt hay chia phần, nhưng là hiệp thông trọn vẹn, vì là cho đi tất cả và lãnh nhận tất cả, là sự tự hiến trọn vẹn cho nhau. Cha là lương thực của Con; Con là lương thực của Cha; Thánh Thần là lương thực của Cha và Con.

Nếu muốn dùng chữ Chén Cứu Độ để chỉ Bí tích Thánh Thể theo từ ngữ phụng vụ, thì phải nhớ rằng Chén ấy vừa là Chén mà Thiên Chúa ban cho Hội Thánh, và cũng là Chén mà Hội Thánh dâng lên Thiên Chúa. Chén ấy là Máu Đức Kitô, Máu Tân Ước vĩnh cửu. Máu ấy vừa là hồng ân, vừa là của lễ. Là hồng ân vì đó là sự sống của Chúa Kitô mà Chúa Cha ban cho nhân loại làm của uống (Ga 6,55)... Là của lễ, vì là Máu đổ ra cho mọi người được tha tội (Mt 26,28), là lễ hy sinh vô tì tích dâng lên Thiên Chúa (Dt 9,14).

Chén Cứu Độ do Chúa Kitô mang đến trần gian chứa đựng sự sống Ba Ngôi. Đó là Chén Hiệp Thông, biểu tượng cho sự sống Ba Ngôi. Ba Ngôi kết hiệp với nhau mật thiết đến nỗi là một: Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, Thánh Thần ở trong Cha và Con, Cha và Con ở trong Thánh Thần.

Thông phần chén cứu độ là lãnh nhận sự sống Ba Ngôi, là được đưa vào lòng mầu nhiệm Ba Ngôi, là nên một với Ba Ngôi và trong Ba Ngôi (Ga 14,3; 17,21-23). Mục đích của Hội Thánh là Hiệp Thông Ba Ngôi, được thể hiện nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần.

2. Linh mục và mầu nhiệm Hiệp thông:

Trong cuộc lữ hành trần thế, Giáo Hội được kêu mời gìn giữ và phát triển sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi và giữa các tín hữu với nhau. Hướng về mục đích đó, Giáo Hội luôn có sẵn lời Chúa và các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, nhờ đó mà Giáo Hội luôn sống động và lớn mạnh, và đồng thời trong đó Giáo Hội tự diễn tả chính mình. (x. Ecclesia de Eucharistia số 34)

Bí tích Thánh Thể được xem như chóp đỉnh của tất cả các Bí tích, vì Bí tích Thánh Thể luôn thể hiện cách hoàn hảo nhất sự hiệp thông với Thiên Chúa Cha, nhờ sự đồng hóa với Chúa Con duy nhất bởi tác động của Chúa Thánh Thần. (x. số 34)

Sự hiệp thông vô hình, dù tự bản chất luôn luôn tăng trưởng, đòi hỏi đời sống ân sủng, nhờ đó chúng ta trở thành những người được tham dự vào bản tính Thiên Chúa (2P 1,4), và việc thực hành những nhân đức tin cậy mến. Quả thật, chỉ như thế mới thiết lập được sự hiệp thông đích thực với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. (x. Ecclesia de Eucharistia số 36)

Nói theo kiểu của Phaolô, linh mục là người quản lý các mầu nhiệm, người phân phát các ân sủng của Thiên Chúa, nói theo hình ảnh của các sách Tin Mừng nhất lãm, linh mục là gia nhân phân phát lúa thóc cho mọi người trong gia đình của Thiên Chúa là Giáo Hội. Linh mục là thừa tác viên phục vụ sự Hiệp thông.

Linh mục giống như người cha, mỗi lần cử hành thánh lễ, tập họp gia đình giáo xứ lại, để gia đình ấy đón Chúa Kitô trong mầu nhiệm Thánh Thể và nên một với Người. Hay cũng có thể nói cách đảo ngược lại, là để cho Chúa Kitô đến đón gia đình ấy và đưa vào trong Tình Yêu Hiệp thông Ba Ngôi.

Vai trò của linh mục là quy tụ con cái Thiên Chúa thành Giáo Hội (kahal), thành cộng đồng tư tế để tôn vinh Thiên Chúa. Linh mục thực hiện vai trò quy tụ này trong Chúa Thánh Thần, nhờ ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần.

Giống như Chúa Cha là đầu mối của mầu nhiệm Hiệp thông Ba Ngôi (principium Trinitatis, principium communionis), linh mục là đầu mối hữu hình của sự hiệp thông trong giáo xứ. Linh mục nào thường tạo ra sự chia rẽ trong giáo xứ thì hoàn toàn đi ngược với trách nhiệm quy tụ con cái Thiên Chúa và tư cách đầu mối hiệp thông của mình.

Hiệp thông tiên vàn là hiệp thông bí tích, nhưng còn là hiệp thông trong một đức tin, chia sẻ cùng một niềm hy vọng. "Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người" (Ep 4,4-6).

Linh mục dùng chính Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể mối giây liên kết đức ái (vinculum caritatis), để nối kết mọi người, làm cho mọi người nên một trong Chúa Kitô, như lòng Chúa mong ước, và nhờ đó được hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa.

Khi cử hành thánh lễ, linh mục quy tụ Dân Chúa quanh hai bàn tiệc: Lời Chúa và Thánh Thể. Cả hai bàn tiệc đều quan trọng, nên linh mục không được coi thường bàn tiệc Lời Chúa. Phải chuẩn bị hẳn hoi để bàn tiệc Lời Chúa thực sự bổ dưỡng, nuôi sống đức tin của mọi Kitô hữu. Có lúc, vì thiếu quan tâm, linh mục để cho người đến bàn tiệc Lời Chúa bị suy dinh dưỡng, có khi còn tệ hơn, bài giảng của linh mục có thể gây tác dụng chia rẽ, làm cho một số Kitô hữu cảm thấy khó hiệp thông ngay chính lúc cử hành Bí tích Hiệp Nhất (sacramentum unitatis, mysterium communionis).

Phao lô BÙI VĂN ĐỌC
Giám mục Giáo phận Mỹ Tho