Cau Xin Me

CÔNG ÁN THIỀN
“GHÉT CHA MẸ VÀ MẠNG SỐNG”

Công Án Thiền

V

ới những bạn chưa quen với thiền, bài này xin tạm dùng chữ chiêm niệm để dễ thông cảm. Như đã có lần thưa với quí bạn về thiền Kitô, trí thức không giúp ích gì cho thiền, nếu không muốn nói trí thức còn cản trở thiền. Vì vậy để giúp đệ tử chứng nghiệm đạo, tôn sư thường đưa ra những lời kỳ dị để đập tan óc trí thức của đệ tử. Họ hy vọng khi cái vỏ trí thức bị vỡ thì chân thân lộ ra, như đập vỡ vỏ trứng để gà con bước ra ánh sáng. Những mẩu lời kỳ dị ấy đặc ngữ thiền gọi là công án thiền. Công án là đề tài chiêm niêm được đặt ra để giúp người tu đạo tỉnh thức đạt chứng nghiệm. Nó có công dụng hủy bỏ trí thức và kích thích tâm thức. Đệ tử một khi đã nhận công án, sẽ chiêm niệm mãi về nó. Sự ám ảnh không ngừng về công án sẽ tạo nên một định lực rất mạnh trong tâm ta. Đến một mức vượt quá nào đó, đùng một cái, tâm thức bừng tỉnh, và chủ đề công án bật ra. Ta vượt thoát thế giới ý niệm để trực giác chân l‎ý của thực tại.

Chúng ta hãy chiêm niệm một công án sau đây: Ðức Giêsu đi trên đàng. Dân chúng đi theo sau rất đông. Người quay lại bảo họ: “Kẻ nào theo ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, và cả mạng sống của mình, ắt không thể làm môn đồ của ta” (Luc 14:25-26).

Gợi Ý Để Chiêm Niệm

Trong bối cảnh một đám đông lếch thếch, bầu đoàn thê tử, chen chúc đi tìm một lãnh tụ chính trị, Ðức Giêsu đã dùng cách nói nghịch lý để cản họ và mặt khác để bóp nát trí thức trong tâm hồn tín đồ. Ai nghĩ rằng muốn theo Ðức Giêsu phải ghét bỏ cha mẹ anh em và mạng sống mình, bước chân họ sẽ chùn lại. Trí óc của họ không thể chấp nhận điều vô lý ấy.

Nếu một Người đã từng dậy “Hãy yêu kẻ thù của mình” thì không thể nói “Hãy ghét người”. Huống chi chính Người ấy lại phán “Hãy ghét cha mẹ mình”. Như vậy chắc chắn điều Thầy nói ra không phải là cái Thầy muốn nói. Cách nói phủ định này phải mang đầy tính khảng định “Hãy yêu cha mẹ, yêu anh em và mạng sống mình”. Tuy nhiên chỉ những ai nhìn ra những cái đáng ghét mới thấy cái còn lại đáng yêu. Phải vượt qua thử thách “ghét” mới biết ý nghĩa sâu đậm của yêu. Có lẽ không đệ tử nào diễn tả điểm nghịch lý tuyệt diệu này bằng Thánh Phanxicô: Chính lúc quên mình là lúc tìm được bản thân mình. Chính lúc chết đi là lúc mình sinh ra trong vĩnh cửu.

Chiêm Niệm Công Án

Như chúng ta đã biết công án để tự chứng nghiệm. Một kinh nghiệm rất riêng tư. Khi ta bị đau vì đứt tay, ta trực tiếp thấy đau chứ không suy niệm về cái đau. Cũng vậy công án không phải là đối tượng của trí thức để suy niệm. Tuy nhiên đối với những vị chưa quen với thiền, tôi mạn phép khai triển một ít điều trong phạm vi trí óc. 

Quan hệ “cha mẹ” và “mạng sống” đang diễn ra ở hiện trường nên Đức Giêsu nhân đó mà nêu ra. Cách lập công án là nói ngay tới những gì đang có ở trước mặt. Nhưng “ghét cha mẹ và mạng sống” không phải là điều kiện ắt có và đủ để theo Đức Giêsu. Chúng ta trực giác thấy ngay chủ đề của công án này nói về sự buông xả. Nói đúng ra, muốn buông xả thì còn phải bỏ rơi và ghét nhiều thứ hơn nữa. Buông bỏ cho đến khi “Chồn còn có hang, chim còn có tổ, chứ Con Người không có chỗ ngả đầu” (Mat 8:20). Nhưng nói ngắn gọn, hãy ghét cho đến ngay cả mạng sống của mình. Thế là cùng tuyệt của tâm hồn buông xả, không còn gì phải nói thêm.

Bàn về gia tộc, nó có hai hình thái. Thứ nhất, gia tộc là một đơn vị cạnh tranh sinh tồn trong xã hội. Thứ hai, gia tộc là một liên đới của tình yêu. Trong hai hình thái này, có một cái đáng ghét và một cái đáng yêu. Mọi Kitô hữu đều rõ, cuộc sống nơi trần gian chỉ là cuộc hành trình, trên con đường hẹp, đi về miền đất hứa. Mọi ơn ích nơi trần gian chỉ là những phương tiện. Chúng được thiết lập để giúp con người tiến hóa đạt cứu cánh của Đạo. Phương tiện nào trở thành ngục tù giam hãm chúng ta, phương tiện ấy không còn giá trị nữa, vì đã đi sai mục đích của Thánh Ý. Khi bị giam trong phương tiện, ta không thể nhìn ra chân lý tối thượng nằm ngoài phương tiện. Gia tộc chẳng hạn là một phương tiện giúp ta sinh tồn và để ta cảm nghiệm hương vị của tình yêu. Đức Giêsu lấy điểm tựa liên hệ gia tộc để cho biết tình yêu không bao giờ ngừng ở đó nhưng còn hướng về đại đồng. Người đệ tử chính danh phải vượt xa hơn. Qua mùi vị của tình yêu gia tộc, hắn phải mở mắt phóng qua cái giới hạn cục bộ, để nếm mùi vị tình yêu đại gia tộc siêu việt vô vị kỷ và trọn lành.

Thông thường khi ta yêu “cha mẹ và anh em ruột thịt”, tức thời ta đối nghịch với “người dưng”. Gia tộc và người dưng thường là một tranh chấp mù quáng sặc mùi gươm giáo. Thân nhân luôn luôn gắn chặt với lợi nhuận núp trong dục vọng “danh giá dòng tộc”. Khi danh giá bị xúc phạm, người “gia tộc chí khí” có thể trả thù cho đến ba đời. Khi đã mê man ôm chặt tình yêu gia tộc mà tưởng là chân lý, nếu tình yêu đích thực của chân lý hằng sống có đến, kẻ vô minh cũng không còn sáng suốt để chấp nhận tình yêu đích thực này.

Ý tưởng thăng tiến hoá tình yêu gia tộc thành tình yêu vô vị kỷ đã được Đức Giêsu giảng dậy ba lần. Một lần Người nói, Ai muốn theo ta thì phải biết ghét cha mẹ, vợ con, anh em, và cả mạng sống của mình (Mat 10:37). Một dịp khác Người nói, Ta đến để chia rẽ mọi người trong gia tộc. Con chống cha, nàng dâu chống mẹ chồng (Mat 10:34-35). Lần khác Người tự đặt câu hỏi, “Ai là mẹ ta và anh em Ta?” Rồi Người nhìn mọi người xung quanh và tự trả lời, “Đây là mẹ Ta và anh em Ta. Ai theo Ý Thiên Chúa thì người ấy là mẹ Ta và là anh chị em của Ta.” (Mat 12:46-50). Cả ba lần Người đều vận chuyển một ý tưởng. Nhưng chỉ có ai vượt qua cái vỏ đắng của lời dậy, mới thấy sự thâm sâu cốt lõi bên trong. Nếu tâm huyết của ta chỉ qui chiếu vào gia tộc, cuối cùng ta chỉ yêu cái tôi của mình. Cái tôi chỉ biết yêu những gì mình có và tranh đấu cho gia tộc mình hơn người. Cái tôi ấy tách biệt và đối nghịch với tha nhân.

Xin được cố gắng cắt bỏ những cái ích kỷ u mê cho đến khi tình gia tộc chỉ còn lại những cái đáng yêu. Khi ấy chúng ta sẽ yêu nhau hơn và tình yêu sẽ vươn ra rộng rãi đến “người dưng” xung quanh. Sự vươn ra này không phải là mối liên kết chủng tộc, hoặc sự liên đới thuộc xã hội tính, hay thế liên hệ nhân quả về kinh tế. Đây chính là điểm vượt quá của độ căng thẳng trong nội tâm, giữa bản tính phàm tục và mức độ tiến hóa tâm linh. Thánh Phanxicô Xavie và thánh I-nhã là những mẫu điển hình. Họ đã đoạn tuyệt với truyền thống quí tộc tách biệt, để mở lòng đón nhận một gia tộc gồm toàn những “người dưng”. Cuộc chiến đấu nội tâm của họ đáng để cho hậu thế suy ngẫm. Họ là công dân Nước Trời và đã làm cho quốc gia ấy hiển hiện trong thế gian. Thánh Phao lô nói với dân thành Galát, “Bao lâu còn có dịp, hãy làm lành với mọi người, nhất là với người cùng một gia đình đức tin.” (Gal 6:10). Theo thánh Phaolô, những người có cùng một đức tin là những người trong cùng một gia tộc.

Nếu chúng ta có thể coi trọng người dưng tương đương như đối với cha mẹ anh em trong nhà, ta sẽ có lòng nhân với tất cả mọi người. Bình thường ta không thể làm được như vậy, nhưng nếu ta kết hợp với Chúa Thánh Linh, với tình yêu “vâng Ý Cha”, ta có thể làm được. Rồi cái tôi cao thượng sẽ có lòng nhân với cả kẻ hãm hại mình, tức “yêu cả kẻ thù”. Đức Giêsu dậy, “Các ngươi là con của Đấng Tối Cao. Vì Người nhân lành cả với kẻ vô ơn độc ác, nên các ngươi hãy biết thương xót, như Cha các ngươi là Đấng thương xót.” (Luc 6:35-36). Nếu ta không yêu Cha, ta cũng không thể yêu người dưng.

Mối bận tâm của những ai theo Chúa không thể là vinh quang cho gia đình bộ tộc. Nó cũng không thể là vinh quang cá nhân. Đức Giêsu đã có lần khiển trách môn đệ Giacôbê và Gioan vì một vị xin được ngồi bên phải, một vị xin ngồi bên trái trong ngày vinh quang (Mac 10:35-45). Rất nhiều người chỉ thấy giàu sang và địa vị xã hội là mạng sống của mình. Có điều gì thánh thiện khiến chúng ta lại phải ghét cái “mạng sống” ấy? Thần học gia Thomas Merton trả lời, “Khi nói, tôi sinh ra trong tội lỗi, nghĩa là tôi vào đời với cái tôi giả tạo. Tôi sinh ra với những mặt nạ. Tôi tồn tại trong những danh hiệu mâu thuẫn để thành một người tôi không muốn. Vì vậy tôi hiện hữu nhưng cùng lúc cũng là không hiện hữu. Bởi vì ngay từ đầu tôi đã là một cái gì không phải thật là tôi. Bao lâu tôi sống xa cách với cái thật sự tôi phải sống, xa đến nỗi hiện hữu cũng chẳng khác gì không hiện hữu, sống như vậy chẳng thà không sinh ra còn hơn.”[1]

Cha Merton đã nói quá rõ về cái mạng sống giả tạo, cái tôi sống ngoài Thánh Ý. Cái ta tưởng là mạng sống thật chỉ là cái hư thể được phủ bởi chức vị, tiền bạc, quyền tước, kiến thức… Những thứ này chỉ có giá trị ngẫu nhiên và chúng bắt buộc phải tàn lụi. Ta đã u mê dựa vào chúng để có một thực tại chủ quan. Nhưng khi chúng mất đi, ta hiện nguyên hình là một hư thể trống rỗng, hay tệ hơn là một thực tại tội lỗi và ô uế. Cái mạng sống ấy không được Thiên Chúa chấp nhận, nên nó không có sự sống thật. Nó đầy những ảo ảnh của dục vọng. Chẳng lẽ tôi đi yêu cái mạng sống được xây dựng bằng dục vọng và ảo ảnh tội lỗi?

Tất cả những hệ lụy này sẽ được đảo ngược khi ta phục tòng Thánh Ý Thiên Chúa và sống đồng nhất với tình yêu ấy. Khi ta chỉ yêu có một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự, ta sẽ yêu tất cả mọi người Vì Thiên Chúa là tình yêu nên trong tình yêu ta thấy vinh quang Chúa rực rỡ trên vạn vật. Khi đó ta yêu vạn vật trong Thánh Ý Chúa hơn là yêu chúng bởi chính chúng. Không những ta yêu cha mẹ anh em, ta còn yêu cả những gì mắt thấy tai nghe mũi ngửi được xung quanh ta. Thiếu sự thiện hảo này, mọi sự trong vũ trụ đều có thể làm thiệt hại ta. Đức Giêsu cảnh cáo, ngay tình yêu cha mẹ anh em và chính mình cũng có thể kéo lùi ta càng ngày càng xa Thiên Chúa.

Chứng Nghiệm Buông Xả

Như đã nói chứng nghiệm là kinh nghiệm rất riêng tư của mỗi người. Nó vượt khỏi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ. Ở đây chỉ xin mạn phép đưa ra một hình ảnh làm biểu tượng. Buông xả là cởi bỏ những trói buộc để tâm được tự do. Nhưng ai trói buộc ta? Nếu không “ghét” cha mẹ và chính mình ta sẽ không thể mở con mắt thứ ba để thấy mình tự trói mình. Tất cả những oán giận dỗi hờn ganh ghét đều tự mình mà tồn tại. Vì vậy sự giải thoát cũng tự chính mình chứng nghiệm điều này. Ðiều kiện tiên quyết và dứt khoát để theo Thầy là buông xả. Nếu không tự cởi trói buộc, tôn sư cũng không thể làm gì được.

Có người lặn lội ra tận sa mạc để hỏi câu: “Phải làm gì để được cứu rỗi?” Cụ Già[2] đang bện dây thừng. Cụ không ngẩng mặt lên, tiếp tục làm việc, thủng thẳng đáp: “Ông đang thấy đó.”

Không lẽ câu trả lời “trống rỗng” của Cụ Già, chả đâu vào đâu, lại có thể là chìa khóa mở cửa chân lý hay sao? Bằng kỹ thuật “trống rỗng” Cụ Già đã trình bày, trong khoảng khắc, một cái tâm buông xả, bất vọng động và đầy an lành. Cái tâm thanh tịnh bình an ấy tuy ở nơi bất biến vĩnh cửu, nhưng lại hiện hữu trong cái động của cử chỉ làm việc. Ðiều này có nghĩa là tâm Cụ Già không nằm ở thế giới hiện tượng. Mọi hành động của Cụ Già - bậc thánh nhân - đều bắt nguồn từ tâm tự do. Nó được giải phóng khỏi mọi qui ước ràng buộc của xã hội. Nó rất đơn giản, đầy hứng khởi sáng tạo, không cần một hình thức trang trọng ầm ĩ nào hướng về Thượng Đế. Sự ôn nhu của Cụ Già bắt nguồn từ ánh sáng chân lý, từ Thánh Ý của Thượng Đế, và từ tình yêu Thiên Chúa đích thực trong trái tim trào ra. Chính trong cách thế này, Cụ Già đã vinh danh Thiên Chúa hơn bao giờ. Nhà thần học George Herbert diễn tả đầy đủ ý tưởng trên qua câu nói, “Ai quét nhà như đang vâng theo Thánh Ý Chúa. Hãy quét và thực hiện cho tuyệt hảo.”[3] Trong một thoáng giây yên tịnh trong tâm buông xả, người cầu đạo phải nắm bắt được sự hiện hữu vĩnh hằng của Thiên Chúa.

Sau cùng xin gửi bạn một hình ảnh khác của những ai muốn làm môn đồ của Chúa Giêsu.

Đức Giêsu gọi mười hai đệ tử đến, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế. Ngài phân họ ra mỗi nhóm hai người, rồi truyền họ đi giảng đạo. Ngài nói, “Hãy đi rao giảng: ‘Nước Trời đã đến gần’... Khi đi các ngươi đừng mang theo hai cái áo, không lương thực, không bị, không tiền dắt trong lưng. Chỉ có một đôi dép và cây gậy mà thôi.” (Mat 6:7-12)

Buông xả hay không buông xả. Chúng ta có hai lựa chọn. Hoặc đi theo sự khôn ngoan thế gian hoặc đi theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Đỗ Trân Duy



[1] New Seed of Contemplation, trang 33-34.

[2] Các vị tôn sư thiền Kitô ẩn cư trong sa mạc trong thế kỷ III. Vì họ là những vị ẩn danh, nên khi nói về họ người đời sau có truyền thống gọi họ bằng danh xưng thân mật là “Cụ Già”.

[3] Who sweeps a room as to Thy laws. Makes that and the action fine.