|
"Chúng ta không bao giờ thực sự hiểu được chúng ta là ai cho đến khi chúng ta biết được tại sao vũ trụ lại được dựng nên trong một phương cách để bao gồm những gì sống động."
Lee Smolin, The Life of the Cosmos
opernicus đã chết. Phải, tôi biết nhà thiên văn nổi tiếng này đã chết vào năm 1543. Đó không phải là điều tôi muốn nói. Tôi cũng không muốn nói giả thuyết của Copernicus—trái đất xoay chung quanh mặt trời, chứ không phải ngược lại—là đã chết. Nhưng thuyết tâm mặt trời của Copernicus không chỉ là một biến đổi khoa học. Nó còn trở nên một biến đổi tri thức từ chối vị trí đặc biệt của loài người trong vũ trụ. Tuy nhiên, nhiều khám phá mới đã đảo ngược bài học của Copernicus. Dường như chúng ta sống trong một vũ trụ mà trong đó chúng ta có một vị trí quan trọng đặc biệt. Cuộc nghiên cứu khoa học mới nhất cho thấy chúng ta đang sống trong một thế giới được đặc chế cho chúng ta.
Nơi các người vô thần nổi tiếng chúng ta thấy các diễn đạt tương tự về sự khôn ngoan thông thường về vòng xoay của Copernicus. Trong cuốn sách mới nhất của vật lý gia Victor Stenger, God: The Failed Hypothesis, ông viết, "Thật khó để kết luận rằng vũ trụ này được dựng nên với một mục đích rộng lớn và đặc biệt cho loài người." Vật lý gia Steven Weinberg viết, "Giống người đã lớn mạnh đáng kể trong năm trăm năm qua để đối diện với sự kiện là chúng ta không đáng kể trong kế hoạch vĩ đại của sự vật." Nhà thiên văn Carl Sagan viện dẫn vòng xoay của Copernicus để không thừa nhận "các tư thế, hình ảnh cho mình là quan trọng, một ảo tưởng rằng chúng ta có ít nhiều vị thế ưu tiên trong vũ trụ."
Tuy các phát biểu này không có tính cách khoa học, chúng được viện dẫn với thẩm quyền đầy đủ của khoa học. Điều chúng ta có ở đây là một câu chuyện siêu hình về khoa học mà nó có ảnh hưởng đến cách tiếp cận với thế giới của nhiều khoa học gia và phương cách mà trong đó nền văn hóa của chúng ta hiểu những gì khoa học đã biểu lộ. Vòng xoay Copernicus có thể hiểu là đã lập ra quy tắc tầm thường. Quy tắc này nói rằng loài người chúng ta không có gì đặc biệt. Chúng ta sống trong một hành tinh nhỏ xíu tầm thường trong một ngân hà không rõ rệt trong một khu vực thật xa của một vũ trụ rộng lớn không thể tưởng được.
Quy tắc tầm thường, xuất xứ từ vòng xoay Copernicus, có quan hệ mật thiết với thần học. Vòng xoay tâm mặt trời không có tính cách mạng bởi vì nó đối nghịch với điều Kinh Thánh cho rằng trái đất là tâm của vũ trụ. Kinh Thánh không nói như vậy. Kitô Hữu thời trung cổ cũng không tin rằng trái đất chiếm vị trị quan trọng nhất trong sự tạo dựng. Với Kitô Hữu, không nơi nào quan trọng hơn thiên đàng. Trái đất được coi như chiếm vị trí trung dung, với thiên đàng ở trên và hỏa ngục ở dưới. Đây là chân dung của vũ trụ được tìm thấy trong Divine Comedy của Dante. Tôi nhắc đến quan điểm vũ trụ này không để bảo vệ nó, nhưng đúng ra để chối bỏ giả thuyết sai lầm rằng Copernicus đã làm suy yếu một số học thuyết căn bản của Kitô Giáo về vị trí đặc biệt của trái đất trong vũ trụ.
Tuy nhiên, trong một ý nghĩa sâu xa hơn, quan điểm vũ trụ của tôn giáo bị đe dọa bởi vòng xoay Copernicus. Nói cho cùng, đó là một điều tin tưởng căn bản của các tôn giáo chính trên thế giới--nhất là Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo--là con người chiếm một vị thế đặc biệt trong sự tạo dựng của Thiên Chúa. Theo quan điểm này, vũ trụ được tạo dựng với sự lưu tâm đến chúng ta, ngay cả có lẽ vì chúng ta. Làm thế nào điều tin tưởng truyền thống này có thể hài hòa với sự khám phá rằng chúng ta sống trong một vũ trụ bao la với hàng hà sa số các hành tinh khác, biết bao giải ngân hà, và hàng trăm tỉ tinh tú, mà một số tinh tú quá xa đến độ chúng đã cháy tiêu tan trước khi ánh sáng của chúng đến được trái đất? Khi nhìn qua viễn vọng kính, chúng ta cảm thấy sợ hãi cái trống rỗng của không gian và cảm giác vô cùng xa cách. Thật khó để tránh né thắc mắc: nếu loài người là chủ yếu cho mục đích của Thiên Chúa trong thiên nhiên, sao chúng ta lại sống trên một phần đất nhỏ bé trong một vũ trụ quá mêng mông?
Trong những năm gần đây, các nhà vật lý đã có câu trả lời nổi tiếng cho thắc mắc này mà nó đã lật đổ quy tắc tầm thường và xác nhận vị thế đặc biệt của con người trong vũ trụ. Thì ra là kích thước đồ sộ và tuổi lâu đời của vũ trụ chúng ta không phải là tình cờ. Chúng là những điều kiện không thể thiếu cho sự sống được hiện diện trên mặt đất. Nói cách khác, vũ trụ phải lớn như hiện thời và phải lâu như hiện thời để duy trì cư dân sống động như bạn và tôi. Toàn thể vũ trụ với tất cả các quy tắc của nó dường như là một âm mưu để tạo nên chúng ta. Các nhà vật lý gọi sự khám phá kinh khủng này là quy tắc hướng nhân (anthropic), nó khẳng định rằng vũ trụ phải đúng bản tính như thế để có thể có sinh vật. Câu chuyện Copernicus bị đảo ngược và con người được phục hồi vị trí cao cả xưa như người con được sủng ái, và có lẽ ngay cả là lý do tồn tại, của tạo vật.
Các vật lý gia tình cờ tìm ra quy tắc hướng nhân bởi thắc mắc đơn giản: tại sao vũ trụ lại hoạt động theo các quy tắc như hiện nay? Hãy suy nghĩ về điều đó: vũ trụ dường như tuân theo một bộ quy tắc rất đặc biệt, và tuy vậy nó không phải có những quy tắc này. Vậy tại sao lại là những quy tắc này chứ không phải các quy tắc khác? Hãy lấy một thí dụ đơn giản, nhiều lực khác nhau trong vũ trụ, tỉ như trọng lực, hoạt động trong nhiều phương cách có thể đo lường được. Tại sao trọng lực lại chỉ mạnh như thế này mà không mạnh hơn hay yếu hơn? Hoặc hãy nghĩ đến vũ trụ đã có khoảng mười lăm tỉ năm với kích thước tối thiểu mười lăm tỉ năm ánh sáng. Điều gì sẽ xảy ra nếu vụ trụ già hơn và lớn hơn, hay trẻ hơn và nhỏ hơn?
Các vật lý gia đặt các câu hỏi này, họ đi đến một kết luận đặc biệt. Để sự sống được tồn tại--để vũ trụ có các quan sát viên nhận biết nó--trọng lực phải chính xác như hiện thời. Đại Thanh (Big Bang) phải xảy ra đúng như nó đã xảy ra. Nếu các giá trị căn bản và những tương quan của thiên nhiên khác đi một chút thôi, vũ trụ này đã không hiện hữu và chúng ta cũng vậy. Dường như không thể tưởng được, vũ trụ được điều chỉnh một cách thật tỉ mỉ để loài người sinh sống. Chúng ta sống trong một vũ trụ thần tiên mà trong đó các điều kiện "vừa đúng" cho sự sống được phát sinh và nẩy nở. Như vật lý gia Paul Davies viết, "Tôi tin rằng, chúng ta được viết vào các quy luật của thiên nhiên trong một phương cách sâu xa và có ý nghĩa."
Quy tắc hướng nhân hiện giờ được chấp nhận rộng rãi trong các vật lý gia, và có một vài cuốn sách thật hay giải thích quy tắc ấy một cách chi tiết. Cuốn "The Anthropic Cosmological Principle" của John Barrow và Frank Tipler là cuốn mô tả chi tiết và thấu đáo. Trong lời giới thiệu cuốn sách ấy, vật lý gia John Wheeler viết rằng "nhân tố đem-lại-sự-sống nằm ở trung tâm của toàn thể bộ máy và hoạch định thế giới." Nếu bạn muốn sách ngắn hơn và dễ đọc hơn với cùng loại lý lẽ, hãy thử cuốn "Just Six Number" của Martin Rees. Rees lý luận rằng sáu số này làm nền tảng cho đặc tính vật lý chủ yếu của vũ trụ, và mỗi số là một giá trị chính xác cần có để sự sống tồn tại. Nếu bất cứ số nào trong sáu số này (tỉ như hằng số hấp lực, hay lực hạt nhân) khác đi "chỉ ở mức độ nhỏ xíu", Rees nói, "sẽ không có tinh tú, không có các nguyên tố phức tạp, không có sự sống." Tuy ông chối bỏ sự dính líu đến tôn giáo, Rees không ngần ngại gọi các giá trị dính liền với các con số này là "do ý trời."
Nhà thiên văn Lee Smolin tưởng tượng ra Thiên Chúa như một tổ sư kỹ thuật ngồi trước bảng kiểm soát với hàng loạt nút bấm và các vòng quay số trước mặt. Một vòng số xác định khối lượng của proton, một vòng khác là điện tích của âm điện tử, vòng thứ ba là hằng số hấp lực, và cứ như thế. Thỉnh thoảng Chúa lại xoay các vòng ấy. Smolin tự hỏi, xác suất của sự xoay vòng ấy là gì để có thể tạo nên vũ trụ với các tinh tú và hành tinh và sự sống? Ông trả lời, "Xác suất này thì nhỏ không thể tưởng được." Nhỏ như thế nào? Smolin ước lượng là một phần mười lũy thừa 229. Điểm Smolin muốn nói được củng cố bằng một thí dụ của vật lý gia Stephen Hawking: "Nếu ngay sau biến cố Đại Thanh, tỉ lệ bành trướng nhỏ hơn theo tỉ lệ một phần trong một trăm ngàn tỉ tỉ, vũ trụ này sẽ co sụp lại trước khi nó đạt được kích thước như hiện thời." Do đó, cơ may để chúng ta hiện hữu thì vô cùng nhỏ. Và tuy vậy, chúng ta có mặt ở đây. Ai chịu trách nhiệm cho sự kiện này?
Trong Thánh Vịnh 19:1 chúng ta đọc, "các tầng trời công bố vinh quang của Chúa và không trung cho thấy những kỳ công tay Người." Trong thư gửi tín hữu Rôma câu hai mươi, Phaolô viết "từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, bản chất vô hình của Người, có thể nói là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, đã được nhận thấy rõ ràng nơi các tạo vật được dựng nên." Quy tắc hướng nhân dường như khẳng định các đoạn Kinh Thánh nói trên. Quy tắc này không chỉ gợi ý về đấng tạo hóa dư đầy tài nguyên và hiểu biết không ai sánh được, nhưng còn ám chỉ một tạo hóa thường lưu tâm đến chúng ta. Đây là một tạo hóa có ngôi vị, không phải là nhân vật trừu tượng nào đó "gây ra chuyển động đầu tiên" và không lưu tâm gì đến các sinh vật đang cư ngụ trên hành tinh của chúng ta. Nhờ khoa học chúng ta có một bằng chứng hùng hồn rằng định mệnh của loài người dường như là một phần thực chất của hoạch định Thiên Chúa. Chúng ta không còn phải sợ hãi trước không gian mênh mông của vũ trụ. Trong một ý nghĩa, chúng hiện hữu là vì chúng ta. Trái với quy tắc tầm thường, chúng ta sống trong một vũ trụ đầy ý nghĩa và có mục đích. Quy tắc hướng nhân ám chỉ rằng loài người là một phần của kỳ công Thiên Chúa.
Các khoa học gia hàng đầu đã nhận thấy các gợi ý có thể áp dụng rộng rãi của quy tắc hướng nhân. Nhà thiên văn Fred Hoyle viết, "Một sự giải thích các dữ kiện này theo lương tri cho thấy một Người tài-trí-siêu-đẳng đã chạm đến các quy tắc vật lý." Vật lý gia Freeman Dyson nói, "Càng khảo sát vũ trụ và nghiên cứu các chi tiết cấu tạo của nó bao nhiêu, tôi càng tìm thấy chứng cớ rằng, trong một ý nghĩa nào đó, vũ trụ biết là có chúng ta xuất hiện." Nhà thiên văn Owen Gingerich viết rằng quy tắc hướng nhân "có nghĩa chấp nhận các quy luật của thiên nhiên được dựng nên không chỉ hậu thuẫn cho tính cách phức tạp hay chỉ thuận lợi cho sự sống, nhưng còn thuận lợi cho sự hiểu biết. Nói một cách mạnh mẽ, nó ám chỉ rằng sự hiểu biết được viết thành luật thiên nhiên trong một phương cách căn bản." Nhà thiên văn Robert Jastrow nhận xét rằng quy tắc hướng nhân "là một kết quả rất hữu thần xuất phát từ khoa học."
Như bạn ước đoán, quy tắc hướng nhân đã gây nên một cuộc tranh luận lớn và một phản ứng dữ dội. Trong cuộc tranh luận này có ba lập trường, mà để đơn giản hóa tôi gọi là "Chúng Ta May Mắn", "Nhiều Vũ Trụ", và "Vũ Trụ Được Hoạch Định". Hãy khảo sát chúng theo thứ tự. Phản ứng thứ nhất, "Chúng Ta May Mắn", cho rằng vũ trụ tân kỳ này là do sự tình cờ lạ thường. Vật lý gia Victor Stenger viết trong cuốn "Not By Design" , "Vũ trụ là một sự tình cờ."
Một sự tình cờ? Steven Weinberg và Richard Dawkins không thấy cảm kích với điều không chắc chắn này. Theo Steven Weinberg, "Bạn không phải nêu ra một thiết kế gia nhân từ để giải thích tại sao chúng ta lại ở trong một phần của vũ trụ là nơi có sự sống: trong tất cả mọi phần khác của vũ trụ không có người để nêu lên câu hỏi này." Richard Dawkins đồng ý. "Không phải tình cờ khi sự sống của chúng ta được tìm thấy trên một hành tinh mà nhiệt độ, lượng mưa, và đủ mọi thứ khác rất đúng như vậy. Nếu hành tinh này thích hợp cho một loại sự sống khác, chắc chắn nó đã phát sinh ở đây." Trong khoa học điều này được gọi là "hiệu quả lựa chọn". Vì một khi chúng ta ở đây, chúng ta biết rằng—bất kể tỉ lệ sống còn như thế nào—sự vận hành của vũ trụ phải thuận lợi cho chúng ta.
Với lý luận này có một vấn đề mà tôi muốn bi thảm hóa qua việc đưa ra một thí dụ của triết gia John Leslie. Hãy thử tưởng tượng một người bị kết án tử hình và đứng trước tiểu đội hành quyết gồm mười xạ thủ. Họ nổ súng. Bởi cách nào đó tất cả đều bắn trật. Sau đó họ bắn thêm và một lần nữa lại hụt. Họ lại bắn và lại hụt. Sau cùng, viên cai tù đến trước mặt tù nhân và nói, "Tôi không thể tin rằng tất cả đều bắn hụt. Hiển nhiên là có âm mưu gì đây." Nhưng tù nhân cười lớn và nhận xét, "Điều gì trên trần gian này khiến ông nghĩ là có âm mưu? Chẳng có gì quan trọng. Hiển nhiên các xạ thủ bắn hụt vì nếu họ bắn trúng thì tôi đâu còn đứng đây để thảo luận với ông." Một tù nhân như vậy thì ngay lập tức, và rất đúng, để thuyên chuyển sang nhà thương điên.
Thí dụ này cho thấy bạn không thể giải thích một sự không chắc chắn với tầm mức lớn lao này bằng cách đơn giản hướng về sự hiện diện của chúng ta trong hiện trường để suy nghĩ về điều ấy. Vẫn còn một sự không chắc chắn lớn lao cần được giải thích. Nên nhớ rằng quy tắc hướng nhân không nói rằng, với hàng triệu tinh tú trong vũ trụ, thật khác thường khi sự sống xuất hiện trên hành tinh của chúng ta. Thật ra, nó nói rằng toàn thể vũ trụ với mọi tinh vân và ngôi sao trong đó được hình thành theo một phương cách nào đó để vũ trụ có thể có sự sống. Thật khó để bất đồng với kết luận của triết gia Antony Flew. Ông là một người vô thần nổi tiếng từ lâu—là một trong những nhân vật thường được trích dẫn trong văn hóa vô thần—Flew sau cùng kết luận rằng sự hòa hợp tinh vi của vũ trụ tại mọi cấp bậc thì quá tuyệt hảo để cho là kết quả của sự tình cờ. Flew nói, để phù hợp với điều ông quyết tâm là "đi đến bất cứ đâu mà chứng cớ đưa đẩy," giờ đây ông tin vào Thiên Chúa.
Flew xác nhận rằng quy tắc hướng nhân đòi hỏi một sự giải thích tốt hơn là "Chúng Ta May Mắn". Nhà thiên văn Lee Smolin cũng vậy, ông viết "chắc chắn sự may mắn không có ở đây. Chúng ta cần một loại giải thích hữu lý nào đó về việc làm thế nào một điều không chắc chắn lại trở nên chắc chắn." Sự chênh lệch giữa tỉ lệ không hiện hữu và hiện hữu quá kinh khủng đến độ phải có một sự giải thích nào đó. Người ta cho rằng, thật sâu xa, Weinberg và Dawkins biết điều này.
Hậu quả là nhiều người vô thần chạy sang sự giải thích thứ hai của quy tắc hướng nhân: Nhiều Vũ Trụ. Thực sự, một vô tận vũ trụ. Mỗi một vũ trụ vận hành theo các quy tắc của nó. Hậu quả là một vũ trụ có thể có căn bình phương về trọng lực và vũ trụ khác có thể có căn bậc ba về trọng lực. Thật vậy, dưới các điều kiện thực sự vô tận, chúng ta có thể cho rằng bất cứ điều kiện vật lý nào, bất cứ sự sắp xếp nào của vật chất và năng lực thì cũng đều có thể thực hiện. Bất cứ gì có thể xảy ra thì sẽ xảy ra. Trong hoàn cảnh đáng chú ý này—nếu lý luận tiếp—sau cùng chúng ta phải chịu trách nhiệm cho vũ trụ ưu tiên của chúng ta. Vì có một con số bất tận vũ trụ, rất có thể rằng một vũ trụ được hình thành theo một phương cách nào đó để cho phép có những quan sát viên như chúng ta.
Lý thuyết Nhiều Vũ Trụ có một vài kiểu giải thích. Một kiểu cho rằng chúng ta sống trong một vũ trụ dao động qua một chu kỳ bất tận, trong đó biến cố đại thanh được tiếp theo sau bằng đại vỡ nát. Nếu trạng thái bất biến của thiên nhiên thay đổi sau mỗi chu kỳ, ở một thời điểm nào đó một sự kết hợp đặc biệt sẽ xảy ra cách tình cờ, tỉ như các con số trúng trong máy chơi bài (slot machine). Kiểu giải thích thứ hai cho rằng biến cố Đại Thanh sinh ra nhiều vũ trụ, mỗi vũ trụ có quy luật riêng. Các vũ trụ này giống như trái bong bóng đang bành trướng một cách riêng biệt, không liên hệ với nhau. Mỗi vũ trụ có quy luật riêng. Kiểu giải thích thứ ba, đôi khi được gọi là thuyết thế giới song song, cho rằng tại mỗi một hành động bành trướng lượng tử, thế giới sẽ chia ra thành một chuỗi vũ trụ song song. Thật vậy, các vũ trụ đang sinh sôi nẩy nở khi bạn đọc câu này. Đừng hỏi ở đâu; các vũ trụ này tách biệt nhau và chúng ta chỉ có thể biết đến vũ trụ của mình. Một ý tưởng khác, do Smolin đề nghị, là vũ trụ của chúng ta phát sinh từ một lỗ đen (black hole) trong một vũ trụ có từ trước, và thật vậy ngay cả các lỗ đen trong vũ trụ chúng ta cũng đang phát sinh ra vũ trụ khác. Smolin áp dụng cả thuyết chọn lựa tự nhiên của Darwin cho vũ trụ, trong đó một số vũ trụ nào thích ứng thì tồn tại trong khi những vũ trụ khác thì không. (Không ngạc nhiên khi những người tôn thờ Darwin như Dawkins và Dennett vội vã ca ngợi lý thuyết này). Trong tất cả những kiểu giải thích này cả một chuỗi vô tận của những tình trạng khả dĩ đã được nêu ra để cho rằng vũ trụ chúng ta có thể phát sinh thuần túy bởi sự tình cờ.
Điều gì khiến người ta nói như vậy? Như với mọi tất cả lý thuyết khoa học, chúng ta khởi sự bằng việc đòi dẫn chứng. Vậy đâu là bằng cớ thực nghiệm cho các vũ trụ dao động và song song và sinh sôi nẩy nở? Thực sự, không có bằng cớ nào cả. Như Weinberg thú nhận, "Đây là những ý tưởng hoàn toàn suy đoán… mà không có thực nghiệm nào hỗ trợ." Smolin thì thật thà hơn. Ông gọi ý tưởng của ông "một ý nghĩ kỳ quặc… Rất có thể là tất cả những gì tôi làm ở đây là vá víu một chuỗi tư tưởng lầm lạc mà dường như chúng có liên hệ với nhau chút đỉnh… Các ý tưởng này rất có thể không thành công." Tôi cảm ơn sự thật thà này, và tôi nhớ đến cách cứu chữa của nhà toán học Ptolemy xưa khi gặp dữ kiện mơ hồ: "chỉ cần cho thêm các ngoại luân (epicycle)". Bây giờ chúng ta đang trong lãnh vực "chỉ cần cho thêm các vũ trụ."
Ở đây cũng có giá trị để vạch ra điều mà nhà thiên văn của Harvard là Owen Gingerich nhận xét dường như đầu tiên: ai tin có nhiều vũ trụ thì phải tin có thiên đàng và hỏa ngục. Chỉ nghĩ đến chúng như các vũ trụ khác, hoạt động bên ngoài thời gian và không gian theo các quy luật mà các quy luật ấy không có hiệu quả trong vũ trụ của chúng ta. Ngay cả người vô thần giờ đây phải có thể tưởng tượng ra một lĩnh vực mà trong đó không có sự dữ và đau khổ và cư dân không bao giờ già đi. Các quan niệm truyền thống này, từ lâu bị bác bỏ là phi lý, dựa trên các quy luật của thế giới chúng ta, bây giờ phải thực sự có thể tin được và có lẽ ngay cả bó buộc những ai cho rằng có một số bất tận vũ trụ trong đó mọi khả dĩ đều có thể xảy ra.
Có một quy tắc hợp lý, được khoa học chấp nhận rộng rãi, được gọi là quy tắc dao cạo Occam. Nó có nghĩa rằng khi có nhiều loại giải thích khác nhau, hãy đi theo sự giải thích không cần nhiều giả định. Nói cách khác, nếu bạn muốn đi từ điểm A đến điểm B, hãy tránh con đường ngoằn ngoèo. Áp dụng quy tắc dao cạo Occam, Carl Sagan khuyên rằng "khi đối diện với hai giả thuyết cùng giải thích một dữ kiện, hãy chọn cái đơn giản." Nhà sinh vật học E. O. Wilson viết rằng điều khó khăn của quy tắc này đối với nhiều người là "nó không thỏa đáp giấc mơ của giới New Age… nhưng nó làm thế giới rõ rệt hơn."
Hãy tưởng tượng nếu tôi tìm thấy một đồng kẽm và chơi trò sấp ngửa khi búng lên cao, và lần nào nó cũng đều ngửa mặt hình lên. Tôi thử búng mười ngàn lần và không bao giờ nó ngửa mặt chữ. Có hai điều có thể xảy ra. Thứ nhất và hiển nhiên là đồng kẽm này bị gian lận cách nào đó; ai đó đã "cố định" mặt hình trong mọi lần. Còn có điều khả dĩ thứ hai. Có thể có một số bất tận đồng kẽm lưu hành, và với số búng bất tận với thời gian bất tận, một chuỗi búng lên cao buộc phải đi đến kết quả này. Vậy, một người hợp lý phải chọn sự giải thích nào? Quy tắc dao cạo Occam nói rằng hãy chọn sự giải thích đầu tiên.
Đó là một sự trái ngược trầm trọng với mọi lý thuyết về thuyết vô số vũ trụ mà chúng vi phạm quy tắc dao cạo của Occam. Họ sáng chế ra một loạt hoàn cảnh phức tạp quái dị để giải thích cho một trường hợp độc nhất trong khi đã có một giải thích đơn giản hơn, hiển nhiên hơn. Phải, tôi muốn ám chỉ đến sự giải thích thứ ba đối với quy tắc hướng nhân. Nó nói, thật đơn giản, là vũ trụ chúng ta được thiết kế cho sự sống bởi vì ai đó đã hoạch định như vậy. Phương cách Vũ Trụ Được Hoạch Định có lợi điểm này: bạn không phải bịa ra ý tưởng hàng trăm tỉ vũ trụ mà bạn không biết một chút gì để giải thích cho vũ trụ duy nhất mà bạn có thể cảm nghiệm. Tuy nhiên, cách giải thích thứ ba này dường như là sự ghê tởm đối với một số người, và ở đây chúng ta thấy các người vô thần hiện đại rất tin tưởng vào "ước mơ New Age."
Vật lý gia Stephen Hawking rơi ngay vào cái bẫy của New Age. Như chúng ta thấy trong chương trước đây, Hawking nhận biết rằng chứng cớ của biến cố Đại Thanh và quy tắc hướng nhân chỉ về một tạo hóa. Tuy nhiên, dường như ông thích có một cách giải thích khác. Mới đây ông đưa ra một đề nghị không kém kỳ dị như thuyết vô tận của vũ trụ. Giải pháp của Hawking bắt bầu với ý niệm toán học "thời gian tưởng tượng." Yếu tố đặc biệt của thời gian tưởng tượng là nó không đòi hỏi quá khứ, hiện tại, và tương lai. Thời gian được coi như một chiều kích của không gian. Trong cuốn sách của ông, A Brief History of Time, Hawking dùng thời gian tưởng tượng, cùng với dao động lượng tử mà trong đó có thể nói bất cứ gì cũng có thể xảy ra, để thừa nhận vô số vũ trụ, tất cả không có giới hạn không gian hay thời gian. Ông mường tượng ra các vũ trụ hiện hữu như các vũ trụ thơ ấu sinh ra từ các lỗ sâu trong các vũ trụ khác. Lý do mà không điều nào có thể quan sát được, như bây giờ bạn phỏng đoán, là vì tất cả xảy ra trong thời gian tưởng tượng. Hawking đắc thắng nhận xét rằng vì ông đã bỏ qua được chiều kích thời gian của vũ trụ thì ông cũng bỏ qua được ý niệm một khởi đầu, và vì không có khởi đầu, nên không cần đến tạo hóa.
Một lần nữa, chứng cớ cho lý thuyết này đâu? Hawking thú nhận là không có, và ông không hy vọng sẽ tìm thấy bất cứ chứng cớ nào. Thời gian tưởng tượng được nêu ra để quy định các vũ trụ tưởng tượng. Một cách tự nhiên, với quá nhiều tưởng tượng xảy ra, không cần phải đi xa và tưởng tượng ra đấng tạo hóa. Do đó, thay vì coi các lý thuyết này có tính cách khoa học, dường như thích hợp để gán cho chúng loại học thuyết tôn giáo. Hawking, Weinberg, Dawkins, và những người khác là thành viên của tổ chức "Church of Infinite Worlds" (Giáo Phái của các Thế Giới Vô Tận), trong đó các thế giới mới với các quy luật mới phải được sáng chế ra để tránh một sự thú nhận phiền phức. Với thành viên của giáo phái này, các giáo điều của các vũ trụ vô tận, vũ trụ thơ ấu, và tất cả những gì còn lại dường như phần lớn được thúc đẩy bởi ước muốn trốn tránh đấng tạo hóa siêu nhiên. Như vật lý gia Stephen Barr có nói, "Dường như để bãi bỏ một Thiên Chúa không thể nhận xét được, cần phải có vô số những thay thế không thể quan sát được."
Là một trong những cư dân lâu đời, tôi muốn đưa chúng ta trở về trái đất và kết luận với điểm sau cùng. Dù chúng ta tin ở thời gian tưởng tượng và vô số vũ trụ hay không, những điều đó chỉ là ý niệm. Ngay cả khi chúng định rõ vũ trụ của chúng ta, chúng không thể giải thích tại sao ngay từ đầu đã có một vũ trụ. Như chính Hawking đã từng hỏi, ai đốt lửa vào những công thức? Ai làm ra chúng, như hiện giờ, "đi vào sự sống"? Hơn thế nữa, quan điểm của người vô thần không thể giải thích tình trạng vô cùng đúng luật của thiên nhiên. Paul Davies viết, "Nếu lấy đi các quy luật của Thiên Chúa, sự hiện hữu của chúng trở nên một vô cùng bí ẩn. Chúng từ đâu đến? Ai gửi đi các ý nghĩa ấy? Ai đặt ra các quy tắc?"
Thật vậy câu hỏi này có thể được đưa ra trong một kiểu cách sâu xa hơn. Làm thế nào các vật thể vô sinh như điện tử lại tuân theo các quy luật? Loài người chúng ta cảm nghiệm rằng chỉ các tác nhân hợp lý và có ý thức mới tuân theo các hướng dẫn. Nó vẫn là một bí ẩn sâu xa làm sao các sự vật lại có thể thi hành bất cứ gì, đừng nói đến việc tuân theo các quy tắc toán học. Và biết bao quy tắc! Trong lịch sử khoa học, các khoa học gia tìm thấy những dị thường trong các quy luật đã được biết rõ, và chúng thường được dùng để giải thích cho các quy luật sâu xa hơn và mỹ miều hơn mà dường như làm nền tảng cho sự hoạt động của thiên nhiên.
"Vậy các quy tắc vật lý từ đâu đến?" Victor Stenger hỏi. "Chúng không đến từ đâu cả." Tôi cho rằng đây là một câu trả lời, nhưng là loại trả lời gì? Tuy nhiên, ngay cả các khoa học gia không phải là tín hữu cũng bàng hoàng với điều mà nhà sinh vật học Ursula Goodenough gọi là "vực thẳm thiêng liêng của tự nhiên," và thái độ của họ đối với điều đó gần như huyền bí. Tôi tin là ở đây, nhiều tín hữu cũng như người không tín ngưỡng tìm thấy một điểm chung, trong sự tôn kính chung về sự vĩ đại của công trình tạo dựng. Tuy nhiên khi suy nghĩ về thứ tự phức tạp của thiên nhiên người ta phải tự hỏi làm sao có thứ tự này. Tại sao thực thể lại được cấu tạo theo phương cách này? Trật tự thật đúng luật của thiên nhiên đòi phải có một sự giải thích chứ? Nếu vậy, sự giải thích tốt nhất về lý do tại sao vũ trụ lại quá thứ tự và có thể nhận thức được và thuận lợi cho sự sống, đó là một bản thể thông suốt đã dựng nên nó theo phương cách ấy.
Dinesh D'Souza
(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)
|