|
"Chúng ta phải phục vụ lý lẽ nếu chúng ta thành công trong việc khám phá ra một con đường mà trên đó chúng ta có thể di chuyển một cách an toàn."
Immanuel Kant, Critique of Pure Reason
ừ trước đến nay chúng ta đã từng để ý đến khoa học và sự hiểu biết có tính cách khoa học. Bây giờ tôi sẽ nới rộng điều tra để xét đến lời khoe khoang kiêu hãnh nhất của tay quán quân hiện đại về chủ nghĩa thế tục: nói rằng họ là ông tổ của lý lẽ. Điều phân biệt người "độc lập tư tưởng," Susan Jacoby viết trong cuốn sách cùng tựa đề đó, là một "phương cách tiếp cận có tính cách duy lý đối với những câu hỏi căn bản về sự hiện hữu của trái đất." Coi lý lẽ như sao chỉ đường và địa bàn, người vô thần hợm hĩnh cho mình cao hơn những người dựa vào đức tin, sự dị đoan, và các hình thức phi lý khác. Sam Harris viết, "Nói với một Kitô Hữu đạo đức rằng vợ hắn đang lừa dối hắn, hoặc hũ da-ua (yogurt) đông lạnh đó có thể làm cho người ta trở nên vô hình, và có lẽ như bất cứ ai khác, hắn cũng đòi phải có chứng cớ và được thuyết phục theo mức độ chứng cớ mà bạn cung cấp. Nói với hắn rằng cuốn sách gối đầu giường được viết bởi một thần thánh vô hình là người sẽ phạt hắn với lửa đời đời nếu hắn không chấp nhận mọi điều không thể tin được về vũ trụ, và dường như hắn không đòi hỏi bất cứ chứng cớ gì cả."
Nhưng có một đề tài mà người vô thần không đòi hỏi chứng cớ: vấn đề có phải lý lẽ con người là phương cách tốt nhất—thật sự duy nhất—để hiểu được thực tại. Trong cuốn Free Inquiry, Vern Bullough tuyên bố rằng "tối thiểu, người theo chủ thuyết nhân văn có thực tại đứng về phía họ." Paul Bloom khẳng định trong tờ Atlantic Monthly, "Phải, các tổ chức và giả thuyết của chúng ta thì bất toàn và không xác thực, nhưng sự mỹ miều của khoa học là những ý tưởng này được trắc nghiệm đối với thực tại." Steven Weinberg viết rằng là một khoa học gia ông có "sự tôn trọng thực tại như điều gì đó bên ngoài chúng ta, mà chúng ta khám phá nhưng không tạo ra được." Khi theo đuổi sự hiểu biết, ông viết, "sự lôi kéo của thực tại là điều khiến chúng ta đi theo con đường hiện thời." E.O. Wilson viết "bên ngoài cái đầu của chúng ta là một thực tại độc lập" trong khi "bên trong cái đầu chúng ta là một sự khôi phục lại thực tại được dựa trên dữ kiện giác quan và tự tổng hợp các ý niệm." Khi nối kết hai điều này, Wilson hy vọng đạt được điều mà ông gọi "giấc mơ Khai Sáng" của "chân lý khách quan dựa trên sự hiểu biết khoa học."
Weinberg, Wilson, và những người vô thần khác có lẽ không nhận ra, nhưng cả một sự thừa nhận lớn lao ở đây. Những người này cho rằng phương cách tiếp cận hợp lý, khoa học của họ đem cho họ sự hiểu biết đầy đủ về thực tại ở bên ngoài. Chính sự thừa nhận này đem cho chủ thuyết vô thần đặc tính kiêu ngạo. Daniel Dennett và Richard Dawkins tự gọi họ là "những người sáng chói" bởi vì họ nghĩ mình thông minh hơn cộng đồng tín hữu. Trong chương này tôi sẽ cho thấy sự kiêu ngạo này thật sai lầm.
Phương cách tiếp cận với thực tại của người vô thần hay "sáng chói" phải được đọ sức với cách tiếp cận đối nghịch. Qua nhiều thế kỷ, các tôn giáo lớn của thế giới chủ trương rằng có hai mức độ thực tại. Đó là quan điểm nhân bản về thực tại, là quan điểm dựa trên kinh nghiệm—thực tại được cảm nghiệm bởi chúng ta. Sau đó có một quan điểm siêu việt về thực tại, có thể gọi là cái nhìn của Thiên Chúa về thực tại, là chính thực tại. Là một loại tạo vật, con người nhìn các sự vật trong một phương cách giới hạn và sái lệch, "qua tấm gương mờ đục", như Thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô 13:12. Thật vậy, một khi còn sống, chúng ta không bao giờ có được cái nhìn của Thiên Chúa và thấy được các sự vật đúng như bản chất của nó. Thay vào đó, chúng ta sống trong một thế giới hời hợt và nông cạn của bề ngoài, mà chúng ta chỉ có thể phân biệt chúng một cách tốt nhất theo bên ngoài. Tuy nhiên, chúng ta có thể hy vọng rằng sẽ có một đời sống sau cái chết mà trong đó chúng ta sẽ nhìn thấy mọi sự--kể cả Thiên Chúa—đúng như sự thật.
Trong hai quan điểm này—quan điểm vô thần và quan điểm tôn giáo—cái nào đúng? Dùng lý luận trên nền tảng được người vô thần sử dụng, nền tảng kinh nghiệm và chỉ có lý lẽ, tôi sẽ cho thấy rằng quan điểm tôn giáo là đúng. Có nhiều cách để thi hành điều này, nhưng tôi chọn cách được giải thích bởi Immanuel Kant. Kant dường như là một chọn lựa thích hợp vì ông là một triết gia hiện đại sáng chói. Kant là một nhân vật dẫn đầu của thời Khai Sáng, một người của khoa học và triết học, và ông cho thấy điều có thể được gọi là ảo tưởng Khai Sáng. Đây chính là ảo tưởng đã lừa bịp nhiều người vô thần và "sáng chói."
Trong cuốn The World as Will and Idea, triết gia Arthur Schopenhauer viết, "Sự giảng dậy của Kant tạo ra sự thay đổi cốt yếu trong mọi đầu óc mà đã thấu hiểu nó. Sự thay đổi quá lớn lao đến độ có thể được coi như một tái sinh trí thức… Trong hậu quả của điều này, tâm trí trải qua một sự tỉnh ngộ cơ bản, và sau đó nhìn đến sự vật dưới một ánh sáng khác." Sự vĩ đại của Kant là ông lấy những điều thừa nhận căn bản nhất của chúng ta và biến chúng thành câu hỏi. Chúng ta nghĩ mình ở trên sàn nhận thức, nhưng Kant cho thấy một mức độ thật khác biệt ở bên dưới mà chúng ta có thể khảo sát.
Trước thời Kant, hầu hết người ta chỉ cho rằng lý trí và giác quan giúp chúng ta đến với thực tại bên ngoài—thế giới bên ngoài—và chỉ có một giới hạn mà loài người có thể biết. Giới hạn đó là chính thực tại. Theo quan điểm này, vẫn còn được tán thành rộng rãi bởi nhiều người trong xã hội, con người có thể dùng lý lẽ và khoa học để tiếp tục tìm kiếm thêm nữa cho đến khi không còn gì khác để khám phá. Ảo tưởng Khai Sáng cho rằng, trên nguyên tắc, lý lẽ con người và khoa học có thể dần dà hiểu được toàn thể thực tại.
Trong cuốn Critique of Pure Reason, Kant cho thấy rằng những thừa nhận này thì sai lầm. Thật vậy, ông lý luận, còn có một giới hạn rộng lớn hơn nữa mà con người có thể biết. Nói cách khác, lý lẽ con người đưa ra câu hỏi mà nó không có khả năng trả lời—bản chất của lý lẽ là như thế. Và chính vì điều quan trọng nhất mà chúng ta quay về với lý lẽ và khám phá những giới hạn ấy là gì. Thật điên rồ khi khẳng định những điều rêu rao dựa trên lý lẽ mà không điều tra xem loại rêu rao gì mà lý lẽ có thể phân xử. Lý lẽ, để trở nên hợp lý, phải điều tra chính giới hạn của nó.
Kant khởi sự với một thừa nhận đơn giản: mọi hiểu biết con người được dựa trên kinh nghiệm. Chúng ta hiểu được thực tại qua năm giác quan. Dữ kiện thuộc giác quan này sau đó được tiến hành qua bộ óc và hệ thần kinh trung ương. Hãy suy nghĩ về điều đó: mọi ý nghĩ, ngay cả sản phẩm điên rồ của óc tưởng tượng, thì chỉ được dựa trên những gì chúng ta thấy, nghe, sờ, ngửi, hoặc nếm. Nếu chúng ta tưởng tượng và vẽ ra các tạo vật ở ngoài không gian, chúng ta có thể cho họ bốn con mắt và mười cái chân, nhưng thực sự không có cách chi chúng ta nhận thức và trình bầy họ theo kinh nghiệm con người. Đó là một dữ kiện do kinh nghiệm mà ngũ quan của chúng ta là các lăng kính duy nhất để tiếp nhận thực tại.
Bây giờ Kant hỏi một câu kinh ngạc: làm thế nào chúng biết rằng sự nhận biết thực tại của con người thì phù hợp với chính thực tại? Hầu hết các triết gia trước thời Kant chỉ chấp nhận nó như thế và sự tin tưởng này vẫn còn liên lỉ đến ngày nay. "Trực giác" này quá mạnh mẽ đến nỗi nhiều người trở nên thiếu kiên nhẫn, ngay cả phẫn nộ, khi câu hỏi của Kant được nêu lên cho họ. Họ hành động như thể câu hỏi này là một loại thủ đoạn đáng nghi, giống như hỏi người ta chứng minh rằng họ thực sự hiện hữu. Nhưng Kant thì không hồ nghi: ông coi chính mình như một sự chối bỏ chủ thuyết hoài nghi. Tuy nhiên, ông biết, để trả lời chủ thuyết hoài nghi người ta không được coi thường lý luận về sự hồ nghi. Phương cách để vượt qua chủ thuyết hoài nghi là phải công bằng với chân lý nằm trong đó. Mục đích của Kant là để dựng nên một dinh thự đáng tin cậy cho sự hiểu biết về nền tảng của chủ thuyết cực kỳ hoài nghi.
Câu hỏi của Kant về tính cách đáng tin cậy của nhận thức con người trở nên sự ám ảnh chính của triết học Tây Phương kể từ thời Descartes. Làm thế nào chúng ta biết được điều cho rằng đã biết? Locke đã nổi tiếng vạch ra rằng vật thể dường như có hai đặc tính, mà ông gọi là đặc tính chính và đặc tính phụ. Đặc tính chính là chính sự vật, trong khi đặc tính phụ thì ở trong chúng ta. Thí dụ, khi chúng ta nhận biết một trái táo, hình dạng và khối lượng của nó là phần của chính trái táo. Nhưng Locke thật xuất sắc vạch ra rằng mầu đỏ của trái táo và hương vị của nó thì không ở trong trái táo. Chúng ở trong người mà họ nhìn, ngửi và cắn trái táo. Điều này có nghĩa sự hiểu biết thực tại bên ngoài đến với chúng ta từ hai nguồn: sự vật bên ngoài và sự nhận biết bên trong chúng ta. Thực tại không trực tiếp đến với chúng ta nhưng được "tinh lọc" qua một lăng kính của chính chúng ta.
Triết gia George Berkeley cơ bản hóa kiểu thẩm tra này: "Khi chúng ta cố gắng hết sức để lĩnh hội sự hiện hữu của các vật bề ngoài, thực sự chúng ta chỉ trầm tư về chính ý nghĩ của mình." Lý luận của Berkeley là chúng ta không có kinh nghiệm về vật thể nằm bên ngoài sự nhận biết của tâm trí và giác quan của chúng ta. Cả hai đặc tính chính và phụ của các vật thể được nhận biết theo phương cách này. Chúng ta không cảm nghiệm được đại dương, chúng ta chỉ cảm nghiệm hình ảnh và âm thanh và cảm giác về đại dương. Berkeley lừng danh kết luận rằng chúng ta không có bảo đảm gì khi tin vào một vật thể hiện hữu độc lập với tâm trí chúng ta!
Vĩ nhân Samuel Johnson lừng danh "bác bẻ" Berkeley bằng cách đá ra một hòn đá. Đó! Hòn đá hiện hữu! Than ôi, điều này không bác bẻ được. Câu trả lời của Berkeley cho Johnson sẽ là toàn thể cảm nghiệm của ông, từ sự nhận biết hòn đá cho đến cái đau đớn khi giơ chân đá vào nó, xảy ra hoàn toàn bên trong tâm trí ông. Và Hume chu toàn lý luận có tính cách hồ nghi của Berkeley bằng cách áp dụng nó cho chính con người. Chúng ta không có kinh nghiệm gì về chính chúng ta hơn là các cảm giác và cảm xúc và tư tưởng. Trong khi chúng ta biết rằng các cảm giác, cảm xúc và tư tưởng thì hiện hữu, chúng ta không có nền tảng nào để mặc nhiên công nhận một loại "cái tôi" nào đó phía đằng sau để cho rằng đã có những phản ứng này.
Kant viết, chính Hume là người đã thức tỉnh ông thoát khỏi "giấc ngủ giáo điều". Kant thừa nhận điểm của Berkeley và Hume rằng điều đó thật vô lý khi thừa nhận rằng cảm nghiệm về thực thể của chúng ta tương xứng với chính thực thể ấy. Có những điều trong chính nó—mà Kant gọi là noumenon—và chúng ta không biết gì về chúng. Điều chúng ta có thể biết là cảm nghiệm của chúng ta về những sự vật ấy, điều Kant gọi là phenomenon (hiện tượng). Nếu bạn có con chó ở nhà, bạn biết nó như thế nào khi nhìn, nghe, ngửi, và đùa giỡn với nó. Đây là cảm nghiệm có tính cách hiện tượng của bạn về con chó. Nhưng là một con chó thì như thế nào? Loài người chúng ta không bao giờ biết được. Con chó, chính nó là một sự vật được giấu kín khỏi chúng ta. Như vậy, nhờ Kant chúng ta có được một nhận biết kinh ngạc rằng sự hiểu biết con người bị giới hạn không chỉ bởi thực tại nhiều ít ở bên ngoài, nhưng còn bởi sự nhận biết thuộc giác quan giới hạn của chúng ta đối với thực tại đó.
Hãy nghĩ đến máy thu băng (tape recorder). Chính nó là một loại dụng cụ chỉ có thể ghi nhận được một loại hay một khía cạnh của thực tại: âm thanh. Trong ý nghĩa này, máy thu băng có thể "nghe" nhưng không thể thấy hay sờ hay ngửi. Như vậy mọi khía cạnh của thực tại mà không thể ghi nhận bằng âm thanh thì ngoài lãnh vực của một máy thu băng. Kent nói, con người cũng giống vậy. Chúng ta chỉ có thể lĩnh hội thực tại qua năm giác quan. Nếu máy thu băng có thể lĩnh hội thực tại trong một kiểu, con người có thể nhận biết thực tại qua năm kiểu khác nhau: nhìn, nghe, ngửi, nếm, và sờ. Không còn cách nào khác để chúng ta cảm nghiệm thực tại. Tỉ như, chúng ta không thể lĩnh hội thực tại qua siêu âm như con dơi. Giác quan của chúng ta đặt những giới hạn tuyệt đối trên thực tại mà chúng ta có thể biết.
Hơn thế nữa, thực tại mà chúng ta lĩnh hội thì chính nó không phải là thực tại. Nó chỉ là cảm nghiệm của chúng ta hoặc chúng ta "có" trên thực tại. Điểm của Kant thường bị hiểu lầm. Nhiều người nghĩ rằng Kant đưa ra một điều chán ngắt là giác quan của chúng ta đem cho chúng ta một bản sao bất toàn hoặc một phỏng đoán thô sơ về thực tại. Tiểu thuyết kiêm triết gia Ayn Rand có lần đã tấn công Kant khi nói rằng tên đó có mắt nhưng không thấy, có tai nhưng không nghe—nói tóm, các giác quan của tên đó bị lừa dối một cách căn bản. Nhưng điểm của Kant thì không phải là các giác quan của chúng ta không đáng tin cậy. Thật vậy, giác quan có thể đánh lừa chúng ta, khi chúng ta nhìn một cành cây thẳng ra cong vì một phần nó chìm trong nước. Con người đã tìm ra những cách để chấn chỉnh các sái lệch về giác quan. Kant thực sự ý thức điều này, và đó không phải là điều ông theo đuổi.
Lý luận của Kant là chúng ta không có căn bản gì để cho rằng sự nhận biết thực tại của chúng ta thì giống với chính thực tại. Cảm nghiệm của chúng ta về sự vật không thể nào thấu suốt sự vật như chúng thực sự như vậy. Thực tại đó vẫn luôn giấu kín khỏi chúng ta. Để thấy sức mạnh điểm của Kant, hãy tự hỏi mình: làm thế nào biết rằng cảm nghiệm thực tại thì "giống" như chính thực tại trong bất cứ cách nào? Thông thường chúng ta trả lời câu hỏi này bằng cách nghĩ về hai điều khác nhau. Tôi có thể nói chân dung của bà giáo của con tôi có giống bà ấy không bằng cách đặt tấm hình bên cạnh chính bà và so sánh. Tôi thiết lập mức độ sự thật giữa bản sao với nguyên bản. Tuy nhiên, Kant nói rõ là chúng ta không thể so sánh cảm nghiệm thực tại với chính thực tại. Tất cả những gì chúng ta có chỉ là cảm nghiệm, và đó là tất cả những gì chúng ta có thể có. Chúng ta chỉ có bản sao, nhưng không bao giờ có nguyên bản. Hơn thế nữa, bản sao đến với chúng ta qua các giác quan, trong khi nguyên bản hiện hữu độc lập với sự lĩnh hội của chúng ta. Vì vậy, chúng ta không có căn bản gì để kết luận rằng cả hai có thể so sánh được, và khi chúng ta cho rằng cảm nghiệm của chúng ta phù hợp với thực tế, đó là một bước nhẩy vọt vô lý. Tuyệt đối không cách chi chúng ta biết được điều này.
Ở điểm này, thật quan trọng để biết rằng Kant không giảm bớt tầm quan trọng của cảm nghiệm hoặc của thế giới hiện tượng. Thế giới đó rất quan trọng, chỉ vì đó là tất cả những gì chúng ta có thể tiếp cận. Nó tạo nên toàn thể cảm nghiệm của con người và do đó là ý nghĩa quan trọng cho chúng ta. Thật hoàn toàn hữu lý để chúng ta tin ở thế giới hiện tượng, và dùng khoa học và lý lẽ để khám phá các nguyên tắc hoạt động của nó. Là một khoa học gia và toán học gia nổi tiếng, Kant không làm giảm giá trị của khoa học. Nhưng ông tin rằng khoa học phải được áp dụng đối với thế giới hiện tượng hơn là đối với thế giới noumenon (khác).
Nhiều phê bình gia còn cho rằng Kant từ chối sự hiện hữu của thực thể bên ngoài. Dứt khoát, điều này không phải là trường hợp. Kant không phải là người theo chủ thuyết hoài nghi trong nghĩa đó. Các triết gia khác, như Johann Fichte, đi theo con đường đó, nhưng không phải Kant. Với Kant, hiển nhiên noumenon hiện hữu bởi vì nó đã phát sinh ra hiện tượng mà chúng ta cảm nghiệm. Nói cách khác, cảm nghiệm của chúng ta là một cảm nghiệm điều gì đó. Hơn thế nữa, Kant đồng ý rằng có nhiều dữ kiện chắc chắn về thế giới này—tỉ như luân lý và tự do ý muốn—mà không thể hiểu được nếu không công nhận lãnh vực noumenon. Có lẽ cách tốt nhất để hiểu điều này là phải nhìn Kant đưa ra hai loại thực tại: thực tại mà chúng ta cảm nghiệm và chính thực tại. Điều quan trọng không phải là xác định cái nào thực hơn, nhưng là để nhận biết rằng lý lẽ con người chỉ hoạt động trong lãnh vực hiện tượng của cảm nghiệm. Chúng ta có thể biết rằng lãnh vực noumenon có hiện hữu, nhưng bên ngoài đó chúng ta không biết gì cả. Lý lẽ con người không thể thấu hiểu được chính thực tại.
Lý luận của Kant quá vững vàng đến độ những phê bình gia chỉ có thể trả lời ông điều mà chúng ta có thể gọi là sự chế diễu lẽ thường tình. Trong một bài của tờ Wall Street Journal, khi tôi thách thức Daniel Dennett hãy vạch trần lý luận của Kant, ông đã giận dữ phản ứng trong trang web của ông rằng một vài người trước đây đã bác bẻ lý lẽ của Kant. Nhưng ông không cho biết về sự bác bẻ ấy, và ông cũng không cho biết bất cứ tên tuổi nào. Căn bản, Dennett dựa trên argumentum ad ignorantium, lý luận dựa trên sự ngu dốt của độc giả. Ông hy vọng rằng những người tán dương ông sẽ tin rằng sự bác bẻ đó có ở đâu đó trong văn chương. Sự thật, không có sự bác bẻ nào.
Ý tưởng của Kant quá khác thường đến độ chúng tạo nên một sự chống đối không dựa trên lý trí. Nhận xét rằng thực tại có thể hoàn toàn khác biệt với cách nhận biết của chúng ta, điều đó dường như ngớ ngẩn, không thực tế, và không thể cho là quan trọng. Chúng ta chống đối Kant về phương diện cảm xúc, bất kể lý luận của ông có hấp dẫn đến thế nào. Thông thường, người có lý lẽ như ông Dennett sẽ phản ứng thiếu kiên nhẫn với Kant. Họ không thể trả lời lý lẽ của Kant, nhưng họ giả vờ rằng không cần thiết để trả lời. Thái độ này có thể gọi là "chủ nghĩa giáo điều" của lý lẽ. Chính lý lẽ quá chắc chắn đến nỗi nó từ chối để ý đến sự chỉ trích có tích cách hợp lý. Lý lẽ trở nên không hợp lý và bây giờ hoàn toàn dựa trên trực giác đơn giản hoặc "lẽ thường".
Tuy nhiên, lẽ thường không luôn luôn là một hướng dẫn bền bỉ đến chân lý. Lẽ thường nói với chúng ta rằng trái đất thì cố định và mặt trời xoay chung quanh nó. Lẽ thường nói với chúng ta rằng một vật thể thì tự nhiên sẽ ngừng lại và một vật chuyển động phải tự động ngừng lại. Lẽ thường nói với chúng ta rằng không gian và thời gian thì tuyệt đối. Tất cả những trực giác đơn giản này thì sai lầm. Thật vậy, những khám phá vĩ đại của khoa học hiện đai—từ Copernicus đến Galileo đến Newton đến Einstein đến Bohr đến Heisenberg—tất cả là những vi phạm lớn lao của trực giác. Đó là lý do trong một vài trường hợp những thiên tài đầu tiên đưa ra các ý tưởng đó đều bị coi là lập dị. Giờ đây, chúng ta biết những người lập dị đó thì đúng. Do đó, sự thật, chứ không phải quan điểm, là thực tại đôi khi rất lạ và trực giác không đem cho chúng ta một hình ảnh chính xác về thế giới. Nói lên điều đó không khác gì tự cho mình là ngu dốt. Triết gia Bertrand Russell đã có lần gọi trực giác là "siêu hình của sự không văn minh".
Kant biết rằng ông đang tạo ra một cuộc cách mạng trong sự hiểu biết của con người. Cũng như Copernicus đã "đảo ngược" thế giới và mãi mãi thay đổi cách suy nghĩ của chúng ta về trái đất trong tương quan với mặt trời, thì Kant cũng coi triết lý của ông như tạo ra một loại cách mạng trong tư tưởng kiểu Copernicus. Dĩ nhiên người ta vẫn tiếp tục nhận biết thế giới theo thực tế--cũng như chúng ta tiếp tục đời sống hàng ngày mà không lo lắng gì về sự thật rằng trái đất của chúng ta đang di chuyển trong không gian với tốc độ hàng ngàn dặm một giờ--nhưng ngay cả như vậy, lãnh vực này được trình bầy như một ảo tưởng.
Ảo tưởng của thuyết hiện thực là nó lầm lẫn giữa cảm nghiệm của chúng ta về thực tại với chính thực tại. Các nhà hiện thực như Dennett nghĩ về chính họ như người theo chủ nghĩa hiện thực rất nghiêm nhặt, nhưng họ không thực tế đủ để nhận biết rằng tất cả những gì họ biết chỉ là cảm nghiệm và ngoài ra không còn gì khác. Chính Kant, người duy tâm siêu việt, khởi sự với cảm nghiệm và sau đó tiếp tục từng bước mà lý lẽ có thể chứng minh là đúng. Ngược lại, người theo chủ nghĩa thực nghiệm bắt đầu với một giả thuyết không thể kiểm chứng, và toàn thể triết thuyết của họ được xây dựng trên giả thuyết đầy hồ nghi. Người theo chủ nghĩa thực nghiệm cho rằng cảm nghiệm của họ bằng cách nào đó đã giúp họ tiếp cận với thực tại mà không có chứng cớ hay chứng minh. Cảm nghiệm đó quá trọn vẹn đến độ họ không thể tách rời được hai sự khác biệt ấy. Khi cho rằng cảm nghiệm và thực tại giống nhau, họ đã có một bước nhảy vọt và không đảm bảo, nhưng sự thất bại này của lý trí thì không dễ cho họ cũng như chúng ta nhận biết, bởi vì tâm trí con người có chiều hướng nghiêng về ảo tưởng: ảo tưởng rằng thực tại phải đúng như cách chúng ta cảm nghiệm nó. Điều cay đắng là nhiều người đi theo phương cách vô lý này lại tự nghĩ mình đang theo một con đường khó khăn của lý lẽ. Quan điểm của họ chỉ có thể thoát khỏi sự phân định tỉ mỉ một khi không tìm hiểu đến nền tảng của nó.
Về công trạng của họ, có một vài người "sáng chói" để ý đến Kant và thử trả lời lý lẽ của ông. Họ nói, Kant không thể đúng khi nói chúng ta không tiếp cận được thực tại, bởi vì bạn và tôi và mọi người khác cảm nghiệm cùng một thực tại. Khi chúng ta trong cùng một căn phòng, chúng ta thấy cùng cái đèn, cái bàn và sách trên kệ. Hiển nhiên những cái đó phải hiện hữu và chúng ta phải có thể tiếp cận với chúng; nếu không chúng ta sẽ không có cùng nhận thức về chúng. Nhưng câu trả lời của Kant là bởi vì chúng ta đều là con người, chúng ta có cùng giác quan, và nó hoạt động giống nhau trong mỗi người chúng ta. Bởi đó chúng ta có cùng một cảm nghiệm, nhưng cảm nghiệm là tất cả những gì chúng ta có. Chỉ vì chúng ta có cùng cảm nghiệm hay cảm nghiệm giống nhau, điều đó không có nghĩa bất cứ ai trong chúng ta có thể tiếp cận với một thực tại mà nó ở bên ngoài cảm nghiệm.
Nhà sinh vật học E.O. Wilson thử một chiến thuận khác. Ông nói, khoa học đem cho chúng ta các cảm nhận mới mà chúng có thể giúp chúng ta vượt ra ngoài những giới hạn của nhận thức trước đây. "Với sự giúp đỡ của các dụng cụ thích hợp, chúng ta có thể nhìn thế giới với đôi mắt của con bướm." Với kỹ thuật nhiếp ảnh ban đêm chúng ta có thể cảm nghiệm thế giới giống như kiểu cách của một con dơi. Wilson nói với chúng ta, "Cá liên lạc với nhau qua những chuỗi mã số điện. Các nhà động vật học, nhờ sử dụng máy móc, có thể cùng trò chuyện với chúng."
Nếu vào thời điểm này, bạn nắm vững lý lẽ của Kant, bạn sẽ thấy ngay là Wilson chẳng làm suy yếu gì lý lẽ ấy. Phải, chúng ta có thể dùng kỹ thuật nhiếp ảnh ban đêm, nhưng chúng ta vẫn nhìn hình ảnh với con mắt của loài người. Phải, chúng ta có thể dùng máy móc, nhưng chúng ta vẫn dùng đến ngũ quan để đọc, nghe, và giải thích những gì các máy móc thấy. Nói cách khác, dụng cụ nhận biết của con người là điều kiện cho toàn thể lãnh vực cảm nghiệm của chúng ta, và điều này luôn luôn là như vậy và tiếp tục như vậy một khi chúng ta là con người. Các khám phá khoa học tương lai không thể thay đổi các giới hạn này vì các khám phá đó sẽ được cảm nghiệm qua dụng cụ nhận biết hạn hẹp của con người. Kết luận của Kant là vấn đề của lý lẽ, trong chiều kích đầy đủ nhất của nó, thì không có giải pháp. Có những hạn chế thường xuyên và không thể tránh được đối với lý lẽ con người, và thật điên rồ khi cho rằng không có.
Trong khi kết luận rằng lý lẽ của chúng ta bị giam hãm trong ranh giới cảm nghiệm, và thực tại tự nó luôn được che giấu đối với chúng ta vì các giới hạn của giác quan, có lẽ đối với một số người, dường như đó là một ý tưởng thật kỳ lạ, nhưng sự thật nó ở ngay tâm điểm của triết lý Tây Phương. Trong tư duy Tây Phương, có lẽ trong sự ẩn dụ nổi tiếng nhất, Plato coi con người giống như sống trong một cái hang, tách biệt khỏi ánh sáng mặt trời, chỉ nhìn thấy bóng mà lầm tưởng là thực tại. Plato coi những nhận biết của chúng ta chỉ là hình ảnh của một thực tại sâu hơn và cao hơn, được gọi là hình thể Plato, mà ông định vị trí đâu đó bên ngoài lãnh vực cảm nghiệm của con người. Và thầy của Plato là Socrates, coi mình là người khôn ngoan nhất ở Athens bởi vì chỉ có mình ông biết rằng ông biết rất ít. Với tất cả những sáng tạo độc đáo, Kant thật đúng với dòng tư duy của Tây Phương.
Người am hiểu các học thuyết chính về các tôn giáo lớn trên thế giới thì không có khó khăn để hiểu Kant, vì quan điểm triết học của ông thì phù hợp với các dậy bảo của Ấn Giáo, Phật Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Kitô Giáo. Các tôn giáo này chia sẻ cùng một quan điểm rằng thế giới thực nghiệm của chúng ta thì không chỉ là thế giới duy nhất. Thế giới chúng ta là thế giới chỉ có bên ngoài, một thế giới tạm thời tùy thuộc vào một thực thể cao hơn, không chịu ảnh hưởng của thời gian. Thực thể đó thuộc về một thứ tự hoàn toàn khác với những gì chúng ta biết, nó tạo nên một thực tại vĩnh viễn duy nhất, và nó duy trì thế giới và trình bầy thế giới cho các giác quan của chúng ta. Kitô Giáo dậy rằng trong khi lý lẽ có thể cho thấy sự hiện hữu của lãnh vực cao hơn này, đây là chỗ lý lẽ phải đứng lại: nó không thể điều tra hay hiểu về lãnh vực đó. Nhưng một ngày kia, như được hứa, khi hành trình trên trái đất của chúng ta qua đi, chúng ta sẽ biết lãnh vực cao hơn và thấy các sự vật đúng với bản chất của nó.
Nhà xã hội học Peter Berger viết, "Động lực tôn giáo, việc đi tìm ý nghĩa mà nó vượt trên không gian hạn hẹp của cảm nghiệm trong thế giới này, từng là một đặc điểm vĩnh viễn của con người." Bây giờ Kant đem lại cho niềm tin tôn giáo này một nền tảng hợp lý và hoàn toàn hiện đại. Thật vô cùng quan trọng để nhận biết rằng các ý tưởng của Kant thì hoàn toàn trần tục, trong khi chúng xác nhận các yếu tố cốt yếu của tư tưởng tôn giáo. Kant có được các ý tưởng ấy hoàn toàn dựa trên lý lẽ. Ông không dùng đến ngôn từ tôn giáo, cũng không dựa trên bất cứ đức tin nào. Nhưng khi cho thấy những giới hạn của lý lẽ, Kant nói, ông không "dọn chỗ cho đức tin."
Kant đã đưa chúng ta tới mức giới hạn của lý lẽ. Từ đó chúng ta cần một hướng dẫn khác nữa, nhưng Kant đã giúp khai thông con đường phải theo. Kant đã hoàn thành việc vạch trần thái độ tự phụ trí thức của thời đại Khai Sáng: cho rằng lý lẽ và khoa học là con đường duy nhất đến với thực tại và chân lý. Ngày nay, chúng ta vẫn có ảo tưởng này, vì tất cả những đòi hỏi tri thức của nó trên chúng ta, khiến cho tư tưởng của Kant trở nên vô cùng thích hợp. Do đó, những người "sáng chói" có thể vênh váo, nhưng Kant cho thấy họ trần truồng về trí thức. Và vì vậy, nhờ Kant, tình thế đã đảo lộn. Giờ đây người vô thần được cho thấy là độc đoán và kiêu căng, và tín đồ tôn giáo xuất hiện cách khiêm tốn và hợp lý. Trong khi người vô thần bướng bỉnh một cách ngạo mạn trong ảo tưởng là lý lẽ của họ thì hoàn toàn có khả năng suy đoán về tất cả mọi sự, người tín hữu trong kiến thức khiêm tốn của giới hạn con người, biết rằng còn có một thực tại vĩ đại hơn, và bên ngoài những gì giác quan và tâm trí chúng ta có thể thấu hiểu.
Dinesh D'Souza
(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)
|