|
"Ý tưởng của các linh hồn phi vật chất… đã vượt qua được sự đáng tin của nó nhờ sự tiến bộ của khoa học tự nhiên." Daniel Dennett, Freedom Evolves
ó thể nói rằng có sự chống đối mạnh mẽ đối với sự thảo luận của chúng ta về khoa học, luân lý, và các nhận thức truyền thống về đúng và sai. Có thể chúng ta nghĩ là đã cảm nghiệm về tiếng gọi của lương tâm, nhưng làm thế nào để biết đây không phải là một ảo tưởng? Tôn giáo nói với chúng ta rằng sự giải quyết tốt và xấu xảy ra trong "linh hồn," nhưng chỗ của linh hồn này ở đâu? Cả một chiều hướng vô thần mạnh mẽ dậy rằng con người thì không có gì khác hơn là vật chất. Theo quan điểm vật chất này, linh hồn là một điều tưởng tượng, một "bóng ma trong bộ máy" do tôn giáo sáng chế ra cho mục đích riêng. Nói cho cùng, chúng ta chưa bao giờ gặp được bóng ma này trong khuôn khổ vật chất của con người. Điều chúng ta gặp là não bộ, mạch máu, và các cơ quan. Tất cả những thứ này đều tạo bởi các phân tử và nguyên tử giống như cây cối và hòn đá, và được ráp lại qua cách thức tiến hóa và lựa chọn tự nhiên để thành một bộ máy phức tạp mà chúng ta gọi là Homo sapiens. Từ quan điểm này, con người là một loại bộ máy thông minh, một máy điện toán có nền tảng là chất carbon. Hậu quả là con người phải được hiểu theo cùng các ngôn từ mà chúng ta hiểu về các chương trình điện toán.
Nhà vật lý Victor Stenger viết trong cuốn God: The Failed Hypothesis, "Nếu quả thật chúng ta có được một linh hồn phi vật chất, chúng ta phải tìm thấy được một vài chứng cớ." Nhưng khoa học không tìm thấy gì cả, điều đó khiến Stenger kết luận rằng linh hồn là một sự tưởng tượng. Triết gia Daniel Dennett viết, "Bộ óc chúng ta được cấu tạo bởi các giây thần kinh, và chẳng có gì khác. Các tế bào thần kinh là các hệ thống cơ học phức tạp. Lấy tất cả những thứ này, và đưa chúng lại với nhau, và bạn có một linh hồn." Dennett không ám chỉ rằng linh hồn là một đối tượng phi vật chất. Đúng hơn, ông ám chỉ rằng linh hồn là cái tên của khả năng óc não để thi hành loại tiến trình cơ học nào đó.
Vật lý gia Jerome Elbert viết rằng không thể có linh hồn, bởi vì "nếu có linh hồn và nó cần thiết để suy nghĩ và quyết định, tiến trình trí tuệ của chúng ta phải bao gồm sự liên lạc thường xuyên giữa não bộ đến linh hồn và từ linh hồn đến não bộ." Là một khoa học gia, Elbert thú nhận, "Tôi thấy ý tưởng về sự tương tác như vậy thì rất bối rối." Lý do ông bị khó khăn là vì ông không hiểu được làm thế nào một thực thể phi vật chất như linh hồn lại có thể lay động hay ảnh hưởng đến một đối tượng vật chất như não bộ. Ông còn nêu lên một vấn đề sâu xa hơn. "Nếu những tương tác như vậy có thật, bộ óc con người là một giao diện với một cái khác, thế giới phi vật chất. Sự tương tác ấy ám chỉ rằng các quy luật của khoa học áp dụng cho tất cả vũ trụ--ngoại trừ con người… Hình ảnh này đem lại cho con người một vị thế độc đáo trong vũ trụ. Hình ảnh con người là trung tâm dường như không thể chấp nhận theo quan điểm của khoa học về thế giới." Với Elbert, sự hiện diện của linh hồn là một nguy hại đến bản chất của khoa học hiện đại.
Tuy vậy, cũng có những hậu quả thâm trầm không kém sâu xa khi nhấn mạnh rằng con người thì không khác hơn vật chất, hoạt động theo các quy tắc vật lý. Nếu thật như vậy, chúng ta sống trong một vũ trụ có tính cách quyết định và ý muốn tự do là một ảo tưởng. Một số người, như Francis Crick và E. O. Wilson, không do dự quả quyết rằng con người không có ý muốn tự do. Crick nói, "Nó có vẻ tự do đối với bạn, nhưng nó là kết quả của những điều mà bạn không biết." Wilson viết rằng "hoạt động thầm kín của tâm trí đem lại ảo giác của tự do ý muốn."
Nhưng Richard Dawkins lý luận rằng tuy chúng ta là sản phẩm của chính gien (gene) ích kỷ của mình, "chúng ta có sức mạnh để chống lại những gì tạo nên chúng ta. Chúng ta, đơn độc trên mặt đất, có thể nổi loạn chống với sự chuyên chế của những gì tái tạo (replicator) ích kỷ." Do đó, nếu chúng ta "hiểu được gien ích kỷ của chúng ta đi đâu… thì tối thiểu chúng ta có thể đảo lộn hoạch định của chúng." Nếu điều này đúng, thì bởi sự thú nhận của Dawkins, loài người chúng ta chiếm một vị thế độc đáo trong vũ trụ, bởi vì tâm trí chúng ta có thể kiểm soát định mệnh sinh vật học của chúng ta. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể nổi lên chống với các gien của chúng ta? Chúng ta khác thế nào với máy điện toán, nó không thể nổi lên chống với các chương trình, hoặc con báo, chắc chắn nó phải tuân theo mệnh lệnh là săn đuổi để sinh tồn, hoặc các thiên thạch, chúng yên lặng di chuyển tuân theo các quy luật về năng lượng và trọng lực? Dawkins không có giải thích nào về điều này và dường như ông không cần giải thích.
Steven Pinker thì phóng túng hơn nữa. Trong nhiều cuốn sách, ông quả quyết rằng bộ óc con người thì không gì khác hơn một máy điện toán tài tình mà các lập trình của nó được thực hiện bởi sự tình cờ và lựa chọn tự nhiên. "Cái tôi… chỉ là một hệ thống khác của các hệ não bộ… Có rất nhiều chứng cớ cho thấy mỗi một khía cạnh của đời sống tâm trí thì hoàn toàn lệ thuộc vào các biến cố vật lý trong các tế bào não bộ." Tuy nhiên Pinker không thấy tại sao quan điểm này về con người lại đe dọa ý muốn tự do về mục đích hoặc về luân lý theo bất cứ cách nào: "Tôi không thể tưởng tượng làm thế nào bất cứ gì xuất phát từ nơi chế tạo… lại có thể làm bớt đi ý nghĩa đời sống." Trong một cuốn khác, ông nói rằng "hạnh phúc và đức tính không dính dáng gì đến điều mà sự lựa chọn tự nhiên đã giúp chúng ta hoàn thành… Chúng ở đó để chúng ta quyết định." Pinker viết rằng chỉ vì các gien của ông được lập trình để tồn tại và sinh sản, điều đó không có nghĩa ông phải hành động theo kiểu cách như vậy. "Sâu trong những năm phát triển của tôi, cho đến nay, tôi tự ý không có con… quên đi cái mệnh lệnh tối hậu là phải lan tràn gien của tôi… Nếu gien của tôi không thích điều ấy, chúng có thể nhẩy xuống hồ nước."
Dù cho Pinker có hoa mỹ đến đâu đi nữa, khi ông nói rằng chúng ta có thể tuyên bố độc lập với các gien ích kỷ của chúng ta, điều đó vô nghĩa. Pinker, cũng như nhiều người khác, chọn không có con cái. Chữ then chốt ở đây là "lựa chọn," điều đó coi như tự do lựa chọn. Pinker không giải thích sự tự do lựa chọn này đến từ đâu. Hơn nữa, ông không đối diện với sự chống đối của Darwin về nội dung của sự lựa chọn. Nếu gien của chúng ta là để tồn tại và sinh sản, làm thế nào khuynh hướng con người tránh có con lại có thể sống sót sau tiến trình tuyển chọn tự nhiên? Nói rằng, "Gien của tôi nói rằng hãy sinh sản, nhưng tôi nói mặc kệ bay" thì chưa đủ. Kiểu lý luận này sẽ tiêu hủy mọi giải thích của Darwin về lối đối xử của con người. Hơn nữa, làm thế nào hạnh phúc và đức tính có thể là điều gì đó "tùy chúng ta quyết định"? "Chúng ta" này xuất phát từ đâu để tránh khỏi những hoạch định của gien? Làm thế nào chúng ta có được sự khôn khéo và sức mạnh để chiến đấu chống kẻ thù một cách ghê gớm như chính bản tính của chúng ta? Vừa mới bác bỏ bóng ma trong bộ máy, dường như Pinker lại lén lút đưa nó trở lại.
Chúng ta hãy đối diện với thuyết duy vật chính yếu cho rằng con người, giống như toàn thể thiên nhiên, được cấu tạo bởi vật thể và không có gì khác. Bằng chứng tốt nhất cho lý thuyết này là tất cả những gì chúng ta có thể nhìn thấy, va chạm, và đo lường thì đều là vật chất. Hơn nữa, vật chất dường như "chịu trách nhiệm" cho tư tưởng, cảm xúc của chúng ta, và có lẽ ngay cả trực giác luân lý. Một cú đập mạnh vào đầu có thể làm bất tỉnh. Rượu và sự mệt mỏi ảnh hưởng đến sự tập trung tư tưởng. Dùng điện kích thích các phần nào đó của não bộ thì có thể tạo ra một phản ứng về cảm xúc. Các bệnh nhân bị thương phần nào đó ở não sẽ mất khả năng thông cảm với người khác hoặc nhận biết các hình dạng. Bệnh mất trí Alzheimer tạo nên sự thoái hóa thể chất mà nó dẫn đến sự suy sụp tâm trí và ý thức luân lý hoàn toàn biến mất.
Vì ý thức, nhận thức, và ý tưởng tất cả đều xảy ra trong não, Francis Crick diễn tả não bộ như một cơ phận về ý thức, nhận biết, và suy nghĩ. Crick viết, "Cả hai bán cầu não có thể nghe được điều đang nói… Điều bạn thấy thì không thực sự ở đó; đó là điều óc bạn tin như vậy… Óc của bạn giải thích tốt nhất mà nó có thể… Óc tổng hợp các dữ kiện… và chấp nhận sự giải thích hợp lý nhất… Điều này cho phép não bộ phỏng đoán được toàn bộ vấn đề."
Theo quan điểm của Crick, bộ óc "nhìn," "nghe," "tin," "phỏng đoán," và ngay cả "giải thích." Nhưng như triết gia Peter Hacker và nhà thần kinh học Max Bennett vạch rõ, đó là một sai lầm về quan niệm khi gán ghép các phẩm chất cho bộ não mà chỉ có nơi con người. Bộ óc của tôi không ý thức; tôi có ý thức. Bộ óc của tôi không nhận biết hay nghe được; tôi làm điều đó. Bộ óc của tôi không suy nghĩ; tôi suy nghĩ. Crick thì sai lầm về một số điều được gọi là nhân cách hóa sự vô tri, đó là sự sai lầm khi gán ghép đặc tính của con người cho các vật vô tri giác. Chắc chắn chúng ta dùng não bộ để nhận biết và lý luận, cũng như chúng ta dùng chân tay để đánh quần vợt. Nhưng nói rằng chân tay tôi chơi quần vợt thì cũng điên khùng như nói rằng cái vợt của tôi chơi quần vợt. Cũng vậy, thật sai lầm để trình bầy não bộ như biết nghe, biết nghĩ, biết cảm giác, hoặc ngay cả biết ý thức về điều gì đó.
Có một vấn đề sâu xa hơn khi nới rộng sự hiểu biết tự nhiên về vật chất cho con người. Trước hết, chúng ta cảm nghiệm thế giới bên ngoài—một thế giới được diễn tả bằng các quy luật về vật lý và hóa học—rất khác với cảm nghiệm về chính chúng ta. Đây là điểm được triết gia Arthur Schopenhauer nhấn mạnh. Tất cả những gì chúng ta cảm nghiệm gián tiếp, tự bên ngoài, là qua các giác quan, nhưng chúng ta cảm nghiệm trực tiếp về chính mình, tự bên trong, mà không cần đến giác quan. Chỉ với chính mình, chúng ta có một loại "dữ kiện bên trong," nó rõ ràng nhất, là kiến thức căn bản nhất mà chúng ta có. Dựa trên sự tiếp cận ưu tiên và độc đáo này, chúng ta biết rằng thực thể bên ngoài, dù chính xác đến đâu khi diễn tả giọt mưa hay con báo, thì không trọn vẹn khi phải diễn tả chính chúng ta.
Thí dụ, chúng ta biết chắc chắn là chúng ta hiện hữu. David Hume nói rằng ngay cả điều này chúng ta cũng thực sự không biết: "Khi tôi rất mật thiết đi vào điều gọi là chính tôi, tôi thường vấp phải một số nhận thức nào đó, về nóng hay lạnh, sáng hay tối, yêu hay ghét, đau đớn hay khoái trá. Không bao giờ tôi có thể bắt gặp chính tôi vào bất cứ lúc nào mà không có một nhận thức và không bao giờ có thể quan sát bất cứ gì ngoài nhận thức." Hậu quả là, với Hume, cái tôi là một sự tưởng tượng vì không thể dùng kinh nghiệm mà xác định được vị trí của nó. Nhưng điều đáng kể là chúng ta ý thức về sự hiện hữu của mình trước khi có bất cứ cảm giác nào hay tư tưởng nào. Ngoài ra, các tâm tình và tư tưởng của chúng ta được cảm nghiệm như "các sở hữu" bằng cách nào đó khác với cái tôi, trong khi cái tôi thì được cảm nghiệm trực tiếp. Schopenhauer viết rằng khi chúng ta là chủ thể của các thắc mắc về chính mình, sự sai lầm duy vật là về "chủ thể mà nó không lưu ý đến chính mình." Hume quan sát các cảm giác trong khi quên rằng chính ông là người đang quan sát. Ông đang cho phép sự hiểu biết gián tiếp về hiện tượng bên ngoài trùm lấp sự hiểu biết trực tiếp về cái "Tôi" mà nó đang có những cảm nghiệm này.
Chúng ta không chỉ hiện hữu, nhưng chúng ta còn ý thức. Ý thức này dường như rất căn bản: chúng ta không thể "trốn ra đằng sau" nó, và đó là toàn thể kiểu cách mà chúng ta tiếp cận thế giới cảm nghiệm. Dường như chúng ta chia sẻ ý thức với một số loài vật khác, nhưng không phải là thực vật hoặc không sống động. Hơn nữa, ý thức của con người dường như thuộc về một trật tự khác với ý thức loài vật. Tỉ như, hãy để ý đến cách chúng ta cảm nghiệm âm nhạc. Từ quan điểm duy vật, âm nhạc thì không gì khác hơn các rung động đập vào màng nhĩ và kích động các phản ứng của não bộ. Nhưng chúng ta cảm nghiệm âm nhạc trong một phương cách hoàn toàn khác biệt. Ngay cả các tư tưởng và cảm tưởng trần tục nhất dường như không thể giải thích khi được diễn tả bằng những danh từ về vật lý và biến chuyển hóa học. Thí dụ, một bác sĩ có thể biết rõ về não bộ của tôi hơn chính tôi, nhưng ông không biết gì về tư tưởng thầm kín của tôi, và ông sẽ không thể nào nhìn thấy hay cân đo hoặc đụng chạm đến chúng, dù các dụng cụ của ông có tốt đến đâu.
Trong một chương trước đây về sự tiến hóa, chúng ta đã thấy rằng khoa học hay thuyết Darwin không thể giải thích về ý thức. Cách tốt nhất mà các khoa học gia về nhận thức như Steven Pinker có thể đem lại là thuyết duy vật đầy hứa hẹn: chúng ta tin rằng ý thức là một hiện tượng phụ của thực tại vật chất, nhưng sau này chúng ta sẽ giải thích làm thế nào các phân tử và nguyên tử có thể tạo ra điều gì đó rất cơ bản và nguyên thủy như ý thức chủ quan. Nhưng một giải thích tương lai không khác gì không giải thích. Cho đến khi có giải thích ấy, thật có ý nghĩa để coi ý thức là một thực tại không thể giản lược như chúng ta cảm nghiệm. Tại sao lại để sự phỏng đoán và những món nợ trí thức khiến chúng ta từ bỏ một điều gì đó thật căn bản như sự tự nhận thức của chúng ta? Sao lại chấp nhận trí tuệ như một phỏng đoán vật lý khi chúng ta có thể cảm nghiệm mọi thực thể vật chất?
Ngoài ý thức, chúng ta còn cảm nghiệm ý định và mục đích. Chúng ta cảm nghiệm các điều đó bên trong chúng ta, và chúng ta có thể giải thích hữu hiệu hành động của người khác bằng cách giả sử rằng họ cũng có cùng các đặc tính. Triết gia Bryan Magee đưa ra một thí dụ. Nếu một thể xác con người đang ngồi đối diện với tôi trong phòng mà đứng dậy, di chuyển đến một cái bàn, nhận ra vị trí của cái hộp, rút ra một điếu thuốc, và đặt vào miệng, tôi biết rằng các biến cố này đang xảy ra vì đối tượng mà tôi gọi là con người, họ muốn hút thuốc. Tôi biết điều mà người khác đang làm dù chưa bao giờ tôi hút thuốc. Magee nhận xét rằng nếu chúng ta tìm cách giải thích biến cố này thuần túy khoa học với các danh từ về sự chuyển động của phân tử và biến đổi của nguyên tử, nó sẽ hoàn toàn không thể hiểu được. Chúng ta không thể hiểu người khác chỉ bởi bao gồm những sự vật. Pinker thú nhận rằng "lối đối xử con người có ý nghĩa nhất khi được giải thích bằng những danh từ về niềm tin và ao ước, chứ không phải về điện thế hoặc trọng lượng."
Sự hiểu biết duy vật hay "khách quan" về cảm nghiệm con người dường như không đủ vì chúng ta cảm nghiệm đời sống của chúng ta như một đơn vị. Tôi có nhiều tâm tình, ý nghĩ và cảm nghiệm khác biệt, nhưng tôi cảm nghiệm tất cả trong một lãnh vực thống nhất đơn độc, điều mà Kant long trọng gọi là "đơn vị siêu việt của tổng giác". Vật chất làm nên thân thể của tôi thì thay đổi không ngừng, nhưng tôi vẫn là con người cũ. Lúc trước tôi trẻ, bây giờ tôi là người trung niên, và một ngày kia tôi sẽ già, nhưng qua những biến đổi này tôi vẫn là "Dinesh". Nếu tôi gặp lại bạn cùng lớp, người mà tôi không gặp trên hai mươi lăm năm, ở phi trường, có thể tôi ngạc nhiên khi thấy tóc họ bạc và mập hơn trước, nhưng tôi không phản ứng với điều này bằng câu hỏi, "Bạn là ai vậy?" Tôi nhận ra rằng họ vẫn là bạn học cũ của tôi, dù thân hình của họ có tàn tạ qua thời gian.
Nhận thức về chính mình thì nằm sâu trong ký ức của quá khứ, mà nếu không, "cái tôi" chưa chắc có được chút gì ý nghĩa. Hãy thử tưởng tượng nếu tôi không nhớ được những cảm nghiệm gì xảy ra hôm qua, hay năm phút trước đây, hoặc nếu tôi không rõ những cảm nghiệm ấy xảy ra với cùng một người. Trong trường hợp ấy tôi không thể nói về quá khứ "của tôi" hay tương lai "của tôi" một cách có ý nghĩa, và nhận thức về căn tính của tôi sẽ hoàn toàn sụp đổ. Qua trí nhớ về quá khứ và những kỳ vọng cho tương lai mà chúng ta duy trì sự liên tục và đặc biệt qua đời sống chúng ta. Cuộc đời chúng ta có một đơn vị ưu tiên mà chúng ta không có lý do để coi thường trong sự hiểu biết về chính mình. Do đó, ý tưởng cho rằng chúng ta chỉ là một tổng hợp những phản ứng hóa học thì điều đó vừa không thể tin và vừa ngớ ngẩn.
Sự hiểu biết duy vật dường như đưa đến hình thức cứng cỏi của thuyết giản lược. Vật lý gia Paul Davies giải thích điều này bằng một sự loại suy: "Một kỹ sư điện tử có thể giải thích đầy đủ và chính xác về bảng quảng cáo bằng điện qua những danh từ về điện tử, lý thuyết dòng điện, làm thế nào mỗi bóng đèn cháy sáng. Tuy nhiên, nếu nói rằng bảng quảng cáo này thì không gì khác hơn là các mạch điện, điều đó thật ngớ ngẩn." Điểm Davis muốn nói là con người là một tổng hợp của các phân tử cũng giống như các kịch bản của Shakespeare là tổng hợp những chữ, hoặc các bản hòa tấu của Beethoven là tổng hợp của các nốt nhạc. Tuy nhiên, thật khó để đồng ý rằng Othello thì không gì khác hơn một tổng hợp các chữ, hoặc bản Fifth Symphony thì không gì khác hơn một tổng hợp các nốt nhạc. Khi diễn tả theo cách này, dường như trong Othello và Fifth Symphony có một đơn vị bao quát bị quên lãng. Cũng giống vậy khi nói con người được cấu tạo bởi các phân tử và nguyên tử, nhưng điều đó không nói được chút gì về cái đơn vị mà chúng ta cảm nghiệm trong đời sống hàng ngày.
Càng ngẫm nghĩ lâu về thuyết duy vật, càng thấy nhiều khó khăn xuất hiện. Làm thế nào thuyết duy vật giải thích cho sự kiện rằng chúng ta là các nguyên do của thế giới không bởi các phản ứng hóa học của gien nhưng bởi các niềm tin tưởng thực sự? Nhà sinh vật học Anh J. B. S. Haldane tóm lược trở ngại này: "Nếu các tiến trình của tâm trí được hoàn toàn quyết định bởi các chuyển động của nguyên tử trong óc của tôi, tôi không có lý do gì để cho rằng các điều tôi tin tưởng thì đúng… và vì vậy tôi không có lý do gì để cho rằng đầu óc của tôi được cấu tạo bởi các nguyên tử." Vật lý gia Stephen Hawking nắm lấy thế tiến thoái lưỡng nan này và thấy mình chết sững:
Nếu bạn tin rằng vũ trụ thì không tùy tiện, nhưng được chi phối bởi các định luật, sau cùng bạn phải tổng hợp các lý thuyết cục bộ trong khoa học để trở thành một lý thuyết thống nhất trọn vẹn mà nó sẽ giải thích mọi thứ trong vũ trụ. Nhưng có sự nghịch lý cơ bản trong việc tìm kiếm một lý thuyết thống nhất trọn vẹn như vậy. Các ý tưởng của chúng ta về các lý thuyết khoa học… cho rằng chúng ta là những sinh vật có lý trí, được tự do quan sát vũ trụ như chúng ta muốn và rút ra các suy luận hợp lý từ những gì chúng ta thấy. Trong khung cảnh như vậy, thật hợp lý để giả sử rằng, hơn bao giờ hết, chúng ta có thể tiến bộ gần với các quy luật ảnh hưởng đến vũ trụ. Tuy nhiên, nếu có một lý thuyết thống nhất trọn vẹn, có lẽ nó cũng sẽ quyết định về hành động của chúng ta. Và như vậy, chính lý thuyết này sẽ quyết định kết quả của sự tìm kiếm của chúng ta! Và tại sao phải cho rằng nhờ có chứng cớ mà chúng ta kết luận đúng? Không phải là chúng ta cũng có thể rút ra được những kết luận sai lầm sao?
Đây là giải pháp của Hawking:
Câu trả lời duy nhất về vấn đề này thì được dựa trên quy tắc của Darwin về sự lựa chọn tự nhiên. Quan niệm này là trong bất cứ số đông sinh vật nào tự sinh sản, sẽ có những thay đổi trong chất gien và giáo dục mà mỗi cá nhân có khác nhau. Những sự khác biệt này có nghĩa là một số cá nhân thì có khả năng tốt hơn những người khác để có thể kết luận đúng về thế giới chung quanh và hành động phù hợp với thế giới ấy. Những cá nhân này dường như có thể tồn tại và sinh sản, và thói quen đối xử cũng như ý nghĩ của họ sẽ chiếm ưu thế.
Giải pháp của Hawking được dựa trên một sự vô lý dựa trên tiền đề. Các nhà sinh vật học nêu lên sự tiến hóa để giải thích các thử thách mà người cổ xưa phải đối diện trong khung cảnh tiền sử. Nhưng sự tiến hóa không thể giải thích hơn nữa. Con người không bị áp lực sinh tồn để phát triển khả năng hiểu biết về quỹ đạo của các hành tinh hoặc phân lượng cực nhỏ của vật chất. Hơn nữa, sự tiến hóa chỉ chọn lựa để sinh sản và tồn tại, chứ không để biết sự thật. Dựa trên sự tiến hóa, các ý nghĩ của chúng ta có thể được coi là hữu ích cho chúng ta, nhưng không có nền tảng để giả sử rằng chúng phù hợp với sự thật. Thật vậy, một sự dối trá hữu ích thì được ưa thích hơn một sự thật mà nó không đóng vai trò gì trong sự tự nhận thức của gien. Khi rút gọn mọi thứ thành các quy luật tự nhiên, chúng ta mạo hiểm không chấp nhận rằng có sự hữu lý hay sự thật nào đó ở đằng sau các quy tắc tự nhiên.
Lý lẽ mạnh mẽ nhất chống với thuyết duy vật có lẽ là sự lý luận về ý muốn tự do. Để tôi minh họa. Tôi đang ngồi ở máy điện toán với ly cà phê trên bàn. Tôi có thể vói tay lấy cà phê và nhấm nháp, nếu tôi muốn; tôi có thể làm đổ cà phê trên sàn, nếu tôi muốn; tôi có thể để cà phê nguội ngắt. Bây giờ, tôi tự hỏi: trong các quy tắc vật lý, có điều gì buộc tôi phải thi hành những điều nói trên không? Hiển nhiên là không. Theo câu nói của Milton Friedman, tôi được "tự do lựa chọn." Sự tự do này nói lên nhiều đặc tính về hành động của tôi trong đời, tuy không phải là tất cả. Tôi không có tự do nín thở khi nằm ngủ, tôi cũng không có tự do để kiểm soát cách thực phẩm đi vào dạ dầy. Tuy nhiên, tôi có tự do để hất đổ ly cà phê xuống sàn. Một khi tôi quyết định và thực sự làm như vậy, bây giờ kiểu cách đổ nhào của ly cà phê thì hoàn toàn tùy thuộc các quy tắc vật lý. Tuy nhiên, sự lựa chọn của tôi để đưa ly cà phê vào kiểu cách ấy thì được quyết định không phải bởi quy tắc vật lý nhưng bởi sự tự do quyết định của tôi.
Kant đào sâu hơn đặc tính của lý luận này khi đưa nó vào lãnh vực luân lý. Chúng ta là sinh vật có luân lý. Chúng ta có các ý niệm về luân lý, tỉ như "đúng" và "sai", "tốt" và "xấu". Chúng ta "nên" làm điều này và "đừng nên" làm điều kia. Dù cố gắng thế nào, chúng ta cũng không thể tránh được kiểu cách suy nghĩ và hành động này. Luân lý là một dữ kiện có tính cách kinh nghiệm, không kém thực tế hơn bất cứ kinh nghiệm nào khác trên thế giới. Kant lý luận rằng để các ý niệm này có ý nghĩa hoặc có thể áp dụng bất kể cái gì, nó phải là trường hợp mà chúng ta có sự lựa chọn để thi hành hay không. Nên ám chỉ có thể. Điều này không có nghĩa là vật chất và sự vô thức không thể ảnh hưởng đến quyết định. Nhưng ngay cả vậy, tối thiểu có những khi chúng ta có sự tự do để chấp nhận điều này, và từ chối điều khác. Nếu không bao giờ chúng ta có sự lựa chọn, thì thật sai lầm để nói rằng tôi "phải" làm điều này và "không phải" làm điều kia bởi vì tôi không còn cách quyết định nào khác. Vì bất cứ ai đề nghị hành động này hay cách này thay vì cách kia, điều đó hoàn toàn vô nghĩa. Nếu thuyết quyết định đúng, không ai trên thế giới có thể kiềm chế đừng thi hành bất cứ gì. Toàn thể tính cách luân lý—không chỉ luân lý này hay luân lý khác nhưng chính luân lý—trở nên một ảo tưởng.
Toàn thể từ vựng của chúng ta về sự ca ngợi và buộc tội, thán phục và khinh miệt, cho phép và cấm cản sẽ bị xóa bỏ. Nếu ai đó giết người hàng xóm, hoặc hủy diệt cả một đám dân cư, chúng ta sẽ không được phép để trừng phạt hoặc ngay cả chỉ trích người ấy, bởi vì, nói cho cùng, hắn chỉ hành động theo kiểu cách của một lập trình điện toán sai lầm hoặc một hòn đá vô tình lăn xuống đồi. Nhưng Kant nói rằng kiểu cách suy nghĩ này không chỉ không thể chấp nhận, nhưng còn là điều bất khả đối với con người. Những ai hoạt động bên ngoài lãnh vực luân lý, chúng ta gọi là người bị bệnh tâm thần, và thay vì giao cho họ công việc dậy triết lý, chúng ta cột chân tay họ lại. Bởi bản tính, chúng ta có luân lý. Và từ đó chúng ta có tự do, tối thiểu đến mức độ nào đó, để lựa chọn giữa các kiểu cách hành động bởi vì đây là phương cách duy nhất mà chúng ta có thể nghĩ và hành động phù hợp luân lý.
Kant theo con đường luân lý này để đi đến một kết luận quan trọng: chúng ta vui hưởng tối thiểu một số phạm vi tự do nhờ tác dụng của ý muốn. Sự tự do này có nghĩa thi hành những gì chúng ta muốn hoặc những gì chúng ta nên thi hành, trái với những gì phải thi hành. Sự tự do ám chỉ tự do ý chí, mà Kant phân biệt từ sự lệ thuộc đến khuynh hướng tự nhiên. Như vậy, tối thiểu một số điều chúng ta suy nghĩ và hành động thì không bị ảnh hưởng bởi sự áp đặt các quy tắc khoa học. Nếu tôi cho một người lạ ít tiền, cử động của thân thể tôi bị chi phối bởi tự nhiên, nhưng tôi muốn cho và người kia muốn nhận là những quyết định tự do của cả hai chúng tôi.
Tiếp theo, có một khía cạnh của con người thuộc về thế giới khoa học, và có một khía cạnh của con người ở bên ngoài lãnh vực của các quy tắc khoa học. Đồng thời, chúng ta sống ở lãnh vực hiện tượng, là lãnh vực vật chất, và cũng ở lãnh vực "noumenal" (phi vật chất), là lãnh vực tự do. Chính lãnh vực "noumenal" này, lãnh vực bên ngoài thời gian và không gian, đã giúp sự tự do lựa chọn là điều khả dĩ, nó được thể hiện trong lãnh vực không gian và thời gian. Chủ nghĩa duy vật tìm cách hiểu chúng ta trong hai chiều, trong khi trên thực tế chúng ta ở ba chiều.
Đối với một số người, dường như nó có vẻ quái dị là mọi thiên nhiên phải tuân theo các quy luật bất biến nhưng một loại sinh vật duy nhất, có lông, ăn tạp, và có hai chân, lại có thể hành động vi phạm đến các quy luật này. Nhưng thật như vậy, và chúng ta là sinh vật đó. Hơn thế nữa, với sự giúp đỡ của Kant chúng ta phám khám phá rằng thế giới vật chất không phải là duy nhất, và còn có một lãnh vực cao hơn để dựa vào đó khi chúng ta tự do lựa chọn. Nói cách khác, chúng ta vừa minh chứng rằng chủ nghĩa duy vật thì sai, và trái với sự khẳng định có tính cách độc đoán, có một bóng ma trong bộ máy, mà vì sự tiện lợi chúng ta có thể gọi tên là linh hồn.
Dinesh D'Souza
(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)
|