Cau Xin Me

ÐỒNG-CHA-SỞ

B

ình thường, một cha sở phục vụ một giáo xứ, nhưng nếu thiếu linh mục thì một cha sở có thể phục vụ cùng lúc nhiều giáo xứ láng giềng với nhau (can. 526,§1). Can. 1419 cũ giải quyết vấn đề bằng cách giải thể tất cả các giáo xứ liên hệ và thiết lập một giáo xứ mới duy nhất gồm tất cả các cái cũ lại chung nhau (can. 121 gọi là sát nhập), hoặc cứ để các giáo xứ nhưng lập chúng thành một liên-hiệp-giáo-xứ (aeque principales). Trong lúc chờ đợi bộ giáo luật mới cho ra đời một pháp chế thích đáng, đó đây đã áp dụng cách thức êkíp linh mục (équipe sacerdotale) hoặc cộng đồng linh mục (communauté sacerdotale) nhiều linh mục cùng chung coi sóc một giáo xứ hoặc một nhóm giáo xứ liên kết lại thành một khối trên pháp lý, và đứng đầu êkíp hoặc cộng đồng là một linh mục trách nhiệm viên. Hai hình thức này đã có mặt trong mục vụ mấy thập niên trong bộ giáo luật 1917 và đã được bộ giáo luật mới chú ý dưới tên gọi "cha-sở-liên-đới" hay "đồng-cha-sở".

Chúng ta cùng xem sơ lược êkíp linh mục và cộng đồng linh mục coi như là tiền bối của đồng-cha-sở để có một ý thức.

1. Êkíp Linh Mục

Êkíp linh mục là tổ chức của một số linh mục sống chung đông, có vị điều hành đứng đầu và chịu trách nhiệm, cùng nhau liên-đới-trách-nhiệm một giáo xứ hay một liên hiệp giáo xứ, trong việc đầu tư chung tài cán và sức lực để hoạt động chung cho cùng một công tác mục vụ.

Ðiều kiện để sống đời sống êkíp linh mục là cần phải có tình huynh đệ trưởng thành, tính hợp quần và tinh thần cộng đồng (nhìn rộng, tôn trọng kẻ khác, tôn trọng ý kiến của kẻ khác), nhân đức từ bỏ và khiêm tốn. Làm việc êkíp là biết cho ra và biết nhận vào (người vội vã và độc tài, cũng như người rụt rè, đều không biết cho ra; người dễ bị ảnh hưởng, cũng như người quá tự tin, đều không biết nhận vào). Làm việc êkíp phải biết nhạy bén về cùng những vấn đề như nhau và tự thúc bách bởi cùng những công tác như nhau.

Các cái lợi của êkíp linh mục là những cái lợi chung chung của đời sống chung linh mục, cộng thêm các cái sau đây:

- Các cái lợi của đời sống và trong việc làm, trong cách sống sẽ tránh được cá nhân chủ nghĩa, tịch liêu và chán nản khi gặp thất bại, ngược lại sẽ có được bầu khí tin tưởng và cộng tác nên dễ cố gắng tối đa, mà nhờ cố gắng để thực hiện, hiện diện với người khác, tôn trọng người khác, biết tự hiến, có tinh thần liên đới trách nhiệm, tự vượt lên để theo đồng đội.

- Nhờ có điều kiện làm việc và hậu thuẫn của êkíp, việc làm sẽ có tổ chức sắp xếp và dự kiến (vd. Họp đầu tuần). Phải dành ưu tiên cho việc phục vụ tông đồ giáo xứ hay tuyệt đại bộ phận giáo dân. Nhờ êkíp sẽ dễ tổ chức đời sống trí thức trong việc trau dồi và đổi mới (vd. Mỗi ngày có một giờ lao động trí thức, hoặc mỗi người đọc một quyển sách và chia sẻ hoặc đi dự hội thảo về báo cáo), trong việc dự kiến trước và kiểm điểm sau (vd. Bài giảng Chúa nhật) (xem CÐ/Vat. PO 8; CNLM/BTG 26,b,c). Sự cộng tác giữa các linh mục sẽ dẫn tới sự cộng tác giữa linh mục và giáo dân cách dễ dàng hơn. Ðời sống êkíp linh mục không có bí nhiệm đối với giáo dân, nhưng là bác ái, hỗ trợ, đoàn kết (CÐ/Vat. CD. 30,1), sẽ làm nẩy sinh nhiều ơn gọi linh mục trong giáo xứ (CNLM/BTG 26, b,c).

2. Cộng Ðồng Linh Mục

Cộng đồng linh mục là tổ chức của một số linh mục sống chung đông, có vị điều hành đứng đầu và chịu trách nhiệm, cùng nhau liên-đới-trách nhiệm một giáo xứ hay một liên-hiệp-giáo-xứ, tìm cách hoàn hảo hoá đời sống của các thành viên, nhằm cho việc tông đồ được kết quả hơn. Nói rõ hơn, vị điều hành vừa là êkíp trưởng vừa na ná là bề trên dòng tu đối với đồng đội để lo đời sống và việc mục vụ của toàn cộng đồng.

Ðiều kiện để sống đời sống cộng đồng linh mục được chính CNLM/BTG 26,c, chỉ thị như sau: "Phải có những điều kiện hỗ trợ sau đây:

- Một người phụ trách mà không nhất thiết phải là cha sở,
- một sự phân chia phận vụ rõ ràng,
- tổ chức tài chánh qui củ rõ ràng,
- và một chương trình thực tế qui định giờ khắc đời sống chung trong ngày".

Ngoài sự cởi mở và tôn trọng cần thiết cho đời sống êkíp, phải thêm các đức tính kiên nhẫn và tế nhị, tính khách quan và chính xác, lương tri và cân bằng, tính trung thực, sự vui tính và cả hài hước nữa (vì đời sống chung đâu chỉ để làm khổ nhau: Vita communis, maxima poenitentia).

Các cái lợi của đời sống cộng đồng linh mục là những cái lợi chung chung của đời sống chung đông linh mục, của êkíp linh mục, cộng thêm các cái sau đây:

- Không phải đơn chiếc lẻ loi. Ðời sống gia đình rất quí và làm khoẻ lại sau những giờ lao động vất vả, hoặc sau những thất bại nản chí. Trong đời sống cộng đồng linh mục tìm được sự nâng đỡ để nắm lấy mức cao của lý tưởng linh mục, tìm được đời sống nội tâm nuôi dưỡng bằng gương lành và sự giúp đỡ của các linh mục khác.

Một đề nghị: Dạng đời sống đông linh mục, êkíp linh mục hoặc cộng đồng linh mục, sống chung tập trung liên lỉ tại một địa điểm trung ương, nhiều khi không tổ chức được vì lý do địa bàn phục vụ quá rộng, các họ lẻ ở quá xa. Gặp trường hợp khó thực hiện như vậy, thì có thể nghĩ đến cách tổ chức sau đây: Linh mục điều hành (điều phối) ở giáo xứ chính, các linh mục khác ở mỗi người một họ lẻ. Mỗi tuần lễ có một số ngày về sống chung tại trung tâm địa bàn và làm việc chung (cũng có thể mỗi tuần họp tại mỗi họ đạo). Quyền hành giáo luật cho tất cả và cho mỗi linh mục được xét theo can. 517, §1 của phép chế đồng-cha-sở.

3. Các đồng-cha-sở coi sóc một liên-hiệp-giáo-xứ.

Về điều này, bộ tân giáo luật dạy như sau: "Nơi nào các hoàn cảnh đòi hỏi điều đó, thì việc săn sóc mục vụ của một giáo xứ hay cùng chung nhau của những giáo xứ khác nhau có thể được giao phó cho nhiều linh mục cách liên đới, nhưng có luật này buộc là một trong chính các người đó phải là vị điều phối của việc săn sóc mục vụ phải thực hành, nghĩa là vị đó điều khiển sinh hoạt chung và chịu trách nhiệm về việc đó trước mặt giám mục" (can. 517, §1). Ðiều khoản vừa nêu để ý đề cập đến hình thức một giáo xứ lớn ngoại thường hay nhiều giáo xứ chung nhau hoặc cùng lúc (chữ simul có thể hiểu được cả hai nghĩa) được giao phó cho nhiều linh mục cách liên đới với một vị đứng đầu chị trách nhiệm trước mặt giám mục. Các giáo xứ được trao có thể được lập thành liên-hiệp-giáo-xứ cách chính (aeque principales) hay cách tuỳ (minus principales) với một trung tâm làm chính. Thể chế các linh mục cùng nhau liên đới phục vụ đơn vị đó có thể được gọi là đoàn-cha-sở liên đới hoặc ban-cha-sở, và các vị đó cũng có thể được gọi là cha-sở-liên-đới hoặc đi đến cả gọi là đồng-cha-sở, vì tất cả và mỗi một trong các ngài là cha sở một trăm phần trăn, có đầy đủ quyền hành và nghĩa vụ của cha sở, chỉ có việc là sinh hoạt chung dưới sự điều phối của vị trách nhiệm chính. Ðây là một sự mới mẻ trong bộ tân giáo luật. Nhưng soát xét lại lịch sử Giáo Hội, người ta thấy thời cổ xưa có hình thức giám mục coi sóc một địa bàn lớn cùng với một số linh mục mà ngài trao quyền cha sở cách liên đới cho tất cả, và các vị đó hành quyền mục vụ cách liên đới trên toàn cõi địa bàn. Hình thức êkíp linh mục hay cộng đồng linh mục trên mặt pháp lý có thể nói được là thí nghiệm mới nhưng làm theo tinh thần lịch sử trên. Và bộ tân giáo luật đã pháp-chế-hoá hình thức đó với hai điều kiện tiên quyết và chặc chẽ. Ðiều kiện thứ nhất là một thể chế như vậy không được có tính tổng quát, chỉ dành cho những nơi mà "hoàn cảnh đòi hỏi điều đó" (can. 517, §1) nghĩa là trong nố trừ (communicationes, năm 1976, trg. 22 và năm 1982, trg. 21, can. 454-491, số 1). Nhưng chú giải các chữ "hoàn cảnh đòi hỏi" có thể rộng và giám mục áp dụng cũng rộng, tuỳ ngài lãnh trách nhiệm. Ðiều kiện thứ hai là trong các linh mục phục vụ cách liên đới, có liên đới trách nhiệm, vì tất cả các ngài là đồng-cha-sở, nhưng phải có một người làm chức vụ vị điều phối (moderator) của việc săn sóc mục vụ, và điều hành luôn cả thực thể nhân vật liên đới phục vụ đó, cho dầu đó là êkíp linh mục, cộng đồng linh mục hay nhóm, toán, cụm hay gì khác, có đời sống chung và hoạt động chung, chớ không phải chỉ là primus inter pares, người thứ nhất giữa đồng đẳng (communicationes, năm 1982, trg. 221, can. 454-191, số 2). Vị điều phối có quyền trên việc làm và trên người làm việc, đồng thời chịu trách nhiệm trước mặt giám mục, và ngài, một mình ngài làm đại diện pháp lý cho giáo xứ hay liên-hiệp-giáo-xứ được giao phó cho toàn thể đoàn cha sở. Không được coi đoàn cha sở là một pháp nhân, vì pháp nhân không được làm cha sở (can. 520, §1), nhưng là những cha-sở-liên-đới, những đồng-cha-sở. Lại càng không được coi là thể chế cha sở cha phó.

Chúng ta nói thêm về sự tất cả và mỗi đồng-cha-sở là cha sở một trăm phần trăm và là cha sở đương nhiên. Giáo luật dạy rằng: "Các linh mục mà đúng theo qui định của can. 517, §1, việc săn sóc mục vụ của một giáo xứ nào hay cùng chung nhau của nhiều giáo xứ khác nhau được giao phó cách liên đới. - 1/ phải có đủ các đặc tính nói ở can. 521; - 2/ phải được bổ nhiệm hay thiết lập đúng theo qui định của các can. 522 và 524; -3/ chủ nhân được sự săn sóc mục vụ tức là lúc nhận chức vị điều phối của chính họ được dẫn vào nhận chức đúng theo các qui định của can. 527, §2, còn đối với các linh mục khác việc tuyên thệ đức tin làm cách hợp pháp sẽ thế chỗ cho việc nhận chức" (can. 542). Vì hoàn cảnh và đòi hỏi đặc biệt mới áp dụng giải pháp đoàn-cha-sở-liên-đới nói ở can 517, §1. Các linh mục trong đoàn-cha-sở-liên-đới đều đương nhiên là cha sở với tất cả mọi quyền hành và hiệu quả pháp lý nơi tất cả và nơi mỗi vị, và cùng chung mang một tước vị là đồng-cha-sở, nhưng phải có một vị điều phối làm thủ trưởng và chịu trách nhiệm trước mặt giám mục giáo phận. Các đồng-cha-sở này, đoàn-cha-sở-liên-đới này, không phải là một pháp nhân, nên không bị kẹt bởi can. 520, §1, cấm pháp nhân làm cha sở cách tập thể, và tất cả và mỗi vị đều là cha sở có đủ quyền hành và đủ mọi trách nhiệm của một cha sở bình thường, và bị đòi phải có đủ mọi đặc tính của một cha sở theo can. 521, nghĩa là phải là linh mục thiết lập trong thánh chức linh mục chớ danh nghĩa thôi chưa đủ, phải nổi trội về giáo thuyết lành mạnh và trung thực về phong cách, có đủ nhiệt tâm đối với các linh hồn và các nhân đức khác, lại còn thêm các đặc tính đòi buộc "do luật phổ quát hoặc do luật địa phương để săn sóc giáo xứ, cách riêng là giám mục giáo phận thấy đó là người thích hợp. Trong các đồng-cha-sở không vị nào có quyền thống trị trên các đồng viện, bởi vì linh mục điều phối chỉ là vị thứ nhất giữa các đồng đẳng" (communicationes, năm 1976, trg. 29-30).

4. Các quyền hành và nhiệm vụ của đồng-cha-sở.

Giáo luật nói rõ ràng như sau: "Nếu việc săn sóc mục vụ của một giáo xứ nào hay cùng chung nhau của những giáo xứ khác nhau được giao phó cho những linh mục cách liên đới, thì mỗi một vị trong họ chiếu theo nội qui do chính các ngài ấn định, các ngài bị kẹt bởi sự ràng buộc phải làm tròn các chức vụ và trách vụ của cha sở nói trong c.can 528, 529 và 530; năng quyền chứng hôn cũng như tất cả các quyền chuẩn miễn do luật bao cho cha sở, đều thuộc thẩm quyền của tất cả các vị, nhưng phải được hành xử dưới sự lãnh đạo của vị điều phối" (can. 543§1).

Việc quản trị cách liên đới đòi phải có một sự phân công, chia việc làm cho có trật tự và thích hợp, để tránh việc phân tán sức lao động cũng như để tránh các sự hiểu lầm, trù liệu sai, giẫm chân lên công việc người khác, tương phản trong nội bộ. Chính các ngài quyết định về việc phân chia chức vụ và nghĩa vụ trong tập thể được ghi rõ trong nội qui. Bởi vì lẽ ấy, phải thiết lập vị điều phối để đứng đầu tập thể trên phương diện pháp lý và thực tế nữa, để lãnh đạo tất cả hoạt động giáo xứ, hoà hợp tất cả các đồng-cha-sở khác và đại diện cho giáo xứ (can. 543§2,30). Các nghĩa vụ của cha sở ghi ở c.can. 528, 529, 530, về ba nhiệm vụ giảng dạy, thánh hoá và cai trị và các nhiệm vụ khác kể cả các nghĩa vụ chuyên trách của cha sở, đều ràng buộc toàn bộ các đồng-cha-sở, nhưng được chia ra hợp lý hợp tình, và cũng xét theo các qui định và chỉ thị của giám mục địa phận, để công việc liên đới đó được chạy đều và chạy tốt, tuỳ theo khả năng, sở trường và sở thích của mỗi vị. Tất cả các đồng cha sở đương nhiên (ipso jure, do chính giáo luật ban cho) đều có quyền chứng hôn thành phép và hợp pháp ngang nhau, cũng như có quyền chuẩn miễn như mọi cha sở, nhưng phải hành xử các quyền đó dưới sự lãnh đạo của vị điều phối, nghĩa là có thông qua và nhất trí. Ðừng quên là phải có vị điều phối vàø ngài có địa vị ưu việt trong lòng đoàn-cha-sở-liên-đới. Các đồng-cha-sở phải liên đới chớ không độc lập tự trị ở chiều cao và chiều ngang trong nội bộ.

5. Các nhiệm vụ của các đồng-cha-sở.

- Cư sở:

Về luật cư sở, giáo luật quyết định như sau: "Tất cả các linh mục thuộc nhóm bị kẹt bởi sự ràng buộc cư sở" (can. 543,§2,10).

Luật cư sở buộc tất cả các đồng-cha-sở như nhau không phân biệt và phải giữ đúng theo can 533,§1 và 2. Tất cả cứ không chỉ một mình vị điều phối phải giữ luật cư sở, và tất cả đều bị buộc bằng nhau, vị điều phối không bị hơn các đồng-cha-sở khác, và ngược lại cũng vậy.

- Lễ cầu cho đoàn dân:

Giáo luật bảo rằng: "Do thoả thuận chung các ngài ấn định việc thu xếp qua đó một trong các ngài cử hành lễ cho đoàn dân, đúng theo qui định của can. 534" (can. 534, §2,20).

Có nhiều linh mục trong nhóm, nhưng chỉ có một lễ đầu cho đoàn dân mà thôi theo can. 534, cho dầu là chỉ có một giáo xứ hay là một liên-hiệp-giáo-xứ. Nhưng vì các ngài là những đồng-cha-sở, nên để làm nổi bật tính đồng cha sở của mỗi vị, các ngài sẽ thoả thuận để theo nội qui luân phiên, làm lễ cầu cho đoàn dân được giao phó cách liên đới cho các ngài.

- Ðại diện pháp lý.

Giáo luật dạy rằng: "Trong các công việc pháp lý chỉ một mình vị điều phối là đại diện của giáo xứ hoặc nhóm giáo xứ được giao phó" (can. 543,§2,30).

Việc một mình vị điều phối là đại diện pháp lý của giáo xứ nói lên tính ưu việt và địa vị thủ trưởng của ngài trong lòng đoàn-cha-sở iên đới. Ðây chỉ nói đến các công việc pháp lý. Về các việc hành chánh và mc, vị điều phối chịu trách nhiệm và các đồng-cha-sở khác cũng chịu trách nhiệm liên đới với ngài (can.517,§1).

- Chấm dứt chức vụ.

Về việc này giáo luật quyết định rõ ràng như sau: "Khi một linh mục nào thuộc nhóm nói tới trong can. 517,§1, hoặc vị điều phối nhóm chấm dứt chức vụ, cũng như một vị nào trong chính họ trở thành vô năng lực để hành xử chức vụ mục vụ, thì không khuyết vụ giáo xứ hoặc các giáo xứ mà việc săn sóc được giao phó cho nhóm; nhưng thuộc quyền giám mục giáo phận để bổ nhiệm một vị điều phối khác; và trước khi vị khác được giám mục bổ nhiệm thì linh mục thâm niên do bổ nhiệm của chính nhóm đó sẽ làm tròn chức vụ đó" (can. 544).

Các đồng-cha-sở là cha-sở-liên-đới, nên mỗi vị không phải là cha sở riêng một mình mà là cha sở cùng chung với các cha sở kia làm thành đoàn-cha-sở của giáo xứ hay của liên-hiệp-giáo-xứ, nên khi một vị dẫu đó là vị điều phối đi nữa, mất đi thì đoàn-cha-sở-liên-đới vẫn còn, y như khi mất thành viên một hội đồng dẫu đó là chủ tịch đi nữa thì hội đồng vẫn còn vậy. Nếu mất vị điều phối thì buộc giám mục giáo phận phải bổ nhiệm vị điều phối khác, còn nếu chỉ là một vị đồng-cha-sở khác thì không buộc đương nhiên phải bổ nhiệm một vị khác vào chỗ trống. Vị bổ khuyết chức vụ vị điều phối là vị đồng-cha-sở thâm niên do bổ nhiệm tại nơi liên hệ trong lòng của chính đoàn-cha-sở-liên-đới đó.

6. Kết luận:

Trong các giáo phận Việt Nam, ít có hoàn cảnh mục vụ đòi hỏi tổ chức như vậy, cho nên không thấy có hình thức đồng-cha-sở. Hình thức thông thường theo truyền thống được áp dụng hầu hết mọi nơi là một cha sở coi sóc một giáo xứ có hay không có kèm theo một vài điểm mục vụ nhỏ gọi là điểm truyền giáo mà cha thương duyệt qua sự săn sóc trực tiếp của tu sĩ nam nữ, hoặc một cha sở có một hay nhiều cha phó công quản cũng làm việc như trên vì lý do quan trọng hay chiều rộng của địa bàn trách nhiệm mà một linh mục phụ trách không xuể.

Lm. PHAOLÔ NGUYỄN NGỌC THỬ