1. Thày dạy: hình ảnh người rao giảng Lời Chúa
Trong Tân Ước, rabbi là danh hiệu được dành cho Chúa Giêsu nhiều hơn bất cứ danh hiệu nào khác. Ngay từ khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi, thánh sử Luca đã mô tả trẻ Giêsu “ngồi giữa các thày dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi” ( Lc 2, 46). Hơn thế nữa, thánh Luca đã nhấn mạnh tác vụ giảng dạy của Chúa Giêsu trong thời điểm đỉnh cao sứ vụ của Ngài (chương 19 & 20). Chính Chúa Giêsu xác nhận: “Hằng ngày tôi ngồi giảng dạy trong đền thờ” (Mt 26, 55; Ga 18,20). Và chính việc giảng dạy này được trưng dẫn làm lý do buộc tội và lên án Chúa Giêsu: “Y thúc đẩy dân dấy lên, giảng dạy trong toàn cõi Giuđê, khởi từ Galilê cho đến đây” (Lc 23,5).
Các tông đồ tiếp nối sứ vụ giảng dạy này: các ngài giảng dạy trong đền thờ (Cv 5,21) cũng như ngoài đền thờ (Cv 4,2). Sách Công Vụ ghi nhận rằng cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên tỏ ra “chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và cầu nguyện” (2,42). Điều làm cho những kẻ thù của Giáo Hội lúc đó bực bội chính là vì các tông đồ dám giảng dạy cho dân, và họ ra lệnh cho các ngài không được giảng dạy nhân danh Chúa Giêsu nữa (x. Cv 4,2.18.) Không lạ gì trong đời sống Giáo hội, hình ảnh thày dạy là hình ảnh phổ biến nhất để mô tả chân dung người rao giảng Lời Chúa.
Trong Tân Ước, thuật ngữ chuyên môn được dùng để nói về việc giảng dạy là didaskein, có nghĩa là dạy dỗ, và thuật ngữ này được sử dụng gần 100 lần trong Tân Ước. Một thuật ngữ khác cũng được sử dụng là katechein (catechesis) mà ta thường gắn với việc dạy Giáo lý. Trong suốt năm thế kỷ đầu tiên, từ catechesis được dùng để chỉ việc dạy giáo lý cho những người chuẩn bị lãnh nhận Thánh Tẩy (baptismal catechesis) cũng như cho những người mới được rửa tội (mystagogical catechesis).
2. Cho đời sống linh mục: Những đòi hỏi của nhiệm vụ giảng huấn
Giảng dạy là trách nhiệm chính của linh mục, và linh mục thi hành nhiệm vụ này cách cụ thể khi dạy giáo lý và khi giảng lễ. Ở đây có một vấn đề còn gây tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu liên quan đến việc giảng lễ (homilia): homilia có phải là dạy giáo lý không? Toà giảng trong Thánh Lễ Chúa nhật có phải là chỗ để dạy giáo lý không? Rất tiếc là chúng ta không thể đi sâu vào vấn đề này trong khung cảnh tuần tĩnh tâm. Vấn đề đặt ra là linh mục phải làm gì để có thể chu toàn nhiệm vụ giảng dạy đã được giao phó cho mình? Walter J. Burghardt là một linh mục dòng Tên và được coi là một trong những nhà giảng thuyết nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ. Trong tác phẩm The Art and the Craft, dựa vào kinh nghiệm lâu năm trong giảng dạy, ngài nói đến một số lý do khiến cho trách nhiệm giảng dạy của linh mục không đạt kết quả. Không hẳn là chúng ta sẽ đồng ý với những nhận định của tác giả. Dẫu sao, những nhận định này cũng có thể giúp cho mỗi linh mục nhìn và đánh giá lại trách nhiệm giảng dạy của mình.
Lý do đầu tiên là sợ Thánh Kinh
Kể cũng lạ! Linh mục có trách nhiệm rao giảng Lời Chúa mà chẳng nhẽ lại sợ Thánh Kinh. Ở đây tác giả muốn nói đến nguy cơ là linh mục không tập trung nghiên cứu bản văn Thánh Kinh cho kỹ, và không tìm cách tiếp cận với những tiến bộ trong lãnh vực nghiên cứu Thánh Kinh. Ngày xưa, Maria Magđala đã kêu lên: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi và tôi không biết họ đã đặt Người ở đâu!” (Ga 20, 13). Tương tự như thế, ngày nay một số linh mục cũng kêu lên: “Các nhà chú giải đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Chúa ở đâu nữa!” Có lẽ cũng có một phần sự thật chứa đựng trong lời than thở đó vì đôi khi ta có cảm tưởng khoa chú giải Kinh Thánh chỉ còn là nghiên cứu thuần lý thuyết chứ không giúp gặp gỡ Chúa! Nào là Phê bình lịch sử, Phê bình văn bản, rồi giải thích Kinh Thánh theo khuynh hướng nữ quyền hay khuynh hướng xã hội... Đến cả những chân lý căn bản xem ra cũng bị đe doạ khi các nhà nghiên cứu Thánh Kinh đặt vấn đề: Chúa có làm phép lạ thật không? Những lời này có phải là lời của Chúa Giêsu không hay chỉ là lời mà tác giả Sách Thánh đặt vào môi miệng của Chúa? Đức Maria có đồng trinh thật không?...
Nhận xét trên có thể phản ánh một phần sự thật nhưng không phải là tất cả sự thật. Thánh Kinh luôn luôn là nguồn mặc khải quan trọng nhất và là cơ sở chính yếu ta phải dựa vào để rao giảng Lời Chúa. Tuy nhiên, Thánh Kinh đã được viết bằng tiếng Aram hay Hi Lạp, trong một thời đại và môi trường văn hoá xã hội khác xa ngày nay. Chính vì thế, “để hiểu đúng ý nghĩa tác giả Thánh Kinh muốn quả quyết trong bản văn, chúng ta phải chú tâm đúng mức đến các cách thức cảm nghĩ, diễn tả, tường thuật do bẩm sinh, được thịnh hành trong thời của họ, cũng như phải để ý đến các hình thức mà người thời ấy thường dùng khi giao tế với nhau.” Chính ở đây, những nghiên cứu của khoa chú giải là những phương tiện cần thiết giúp cho linh mục hiểu Lời Chúa hơn, nhờ đó có thể giảng dạy cho người khác cách phong phú và hiệu quả hơn
Lý do thứ hai là thiếu nghiên cứu thần học
Đối với thần học cũng thế. Do thời gian và năng lực phải dành cho các công việc mục vụ, việc nghiên cứu thần học dễ bị gạt sang bên lề đời sống của linh mục giáo phận . Hơn thế nữa, thần học ngày nay có đủ thứ trường phái, đủ thứ lập trường... lại chỉ toàn là lý thuyết, xem ra không ăn nhập gì với thực tế đời sống cả. Trong nhiều thập niên vừa qua, suy tư thần học đã bị biến thành công tác nghiên cứu khoa học thuần túy và bị cắt đứt khỏi mối liên hệ sống động với linh đạo, khác hẳn cách suy tư thần học của các giáo phụ. Thêm vào đó, lại có nhận định rằng suy tư thần học hoàn toàn xa rời với cuộc sống. Phương pháp luận của Thần học giải phóng và những nền thần học sau này là phản ứng cụ thể đối với tình hình trên. Vì thế, người rao giảng Lời Chúa dễ xa rời những nghiên cứu thần học vì xem ra chẳng giúp gì được cho việc rao giảng Lời Chúa.
Tuy nhiên, Giáo Hội căn dặn các linh mục rất cụ thể: “Trong thời đại chúng ta, văn hoá nhân loại và cả những khoa học thánh cũng tiến thêm một bước mới, nên khuyên các linh mục hãy hoàn bị kiến thức của mình về Thiên Chúa và về nhân loại cách thích hợp và liên tục. Như thế, các ngài tự chuẩn bị để đối thoại với những người đương thời cách thích hợp hơn.”
Trong thực tế, có rất nhiều vấn đề mới của từng thời đại mà linh mục không thể không quan tâm. Cách đây chỉ một vài thập niên, những vấn đề liên quan đến luân lý sinh học xem ra còn xa lạ với Việt Nam nhưng ngày nay đã trở thành những vấn đề mà linh mục không thể không quan tâm vì phải đối diện thường xuyên. Ngoài ra, ngày nay người ta nói khá nhiều đến thần học bối cảnh (contextual theology). Suy tư thần học luôn khởi đi từ bối cảnh sống cụ thể, với những vấn đề mà bối cảnh đó đặt ra cho mình. Theo ý hướng đó, các linh mục Việt Nam không thể không quan tâm đến những suy tư thần học và mục vụ của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) vì chúng ta có chung một bối cảnh văn hoá, kinh tế, xã hội với các Giáo hội địa phương tại Á châu. Hơn thế nữa, Giáo hội Việt Nam là một Giáo hội khá đông dân số tại Á châu và là thành viên chính thức của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu. Tuy nhiên xem ra những suy tư thần học và mục vụ của FABC về Giáo Hội, về hội nhập văn hoá, về đối thoại tôn giáo, cộng đoàn Giáo hội cơ bản.... còn khá xa lạ với ta, nếu không nói là chưa hề nghe tới.
Lý do thứ ba là thiếu cầu nguyện
Fulton Sheen là vị giám mục nổi tiếng về giảng thuyết tại Hoa Kỳ. Có lần ngài và Richard Burton được mời dự bữa tiệc lớn. Vì cả hai đều là những nhân vật nổi tiếng trên cả nước nên vị chủ tiệc mời cả hai vị lên diễn đàn đọc Thánh Vịnh 23 Chúa là Mục Tử. Richard Burton đọc thánh vịnh đó với tất cả sự điêu luyện của một diễn viên kịch Shakespear, và mọi người hoan hô hết mình. Đến lượt Fulton Sheen, ngài đọc thánh vịnh đó với tất cả tâm tình cầu nguyện, làm cho người nghe thấm được ý nghĩa và chiều sâu của thánh vịnh, và cả hội trường im phăng phắc lắng nghe. Khi ngài đọc xong, vị chủ tiệc đưa ra nhận xét mà ai cũng hài lòng: Richard Burton biết Thánh Vịnh, còn Fulton Sheen biết Mục Tử.
Một nhận xét sâu sắc vì đã diễn tả được chiều sâu tâm hồn của một giám mục khi giảng Lời Chúa: tâm tình cầu nguyện. Chính Fulton Sheen đã xác nhận là ngài thường xuyên soạn bài giảng bằng cách quỳ gối trước Thánh Thể. Chính vì thế, khi bàn về nghệ thuật giảng thuyết, tiến sĩ William Graham của Đại học Công giáo Hoa Kỳ nhận định rằng: kỹ năng mà thôi chưa đủ vì linh mục giảng thuyết còn cần đến điều gì đó khác hơn các diễn giả: giảng thuyết đích thực đến từ con tim và linh hồn chứ không chỉ từ cái đầu và cổ họng! Nói một cách khác, “Giảng là cầu nguyện, giảng là phụng vụ, giảng là thờ phượng. Nhưng để bài giảng trở thành việc thờ phượng thì người giảng phải là con người của thờ phượng; phải là người nói chuyện với Chúa, lắng nghe Chúa, vật lộn với Chúa. Điều đó đòi hỏi phải có sự kết hợp mật thiết của người giảng với Chúa Kitô, sự kết hợp mà thánh Phaolô diễn tả bằng cụm từ “In Christo” hàm nghĩa sự cộng sinh của hai nhân vị.”
Lý do thứ tư và là lý do rất thực tế: lười soạn bài
Walter Burghardt kể câu truyện có vẻ tiếu lâm: có một chủng sinh học môn Thần Khí Học và không đạt điểm. Khi giáo sư chất vấn anh ta tại sao không chịu học thì nghe anh ta lý luận: Tôi không học những lý thuyết về Thần Khí nhưng tôi học để Thần Khí hướng dẫn. Giáo sư trả lời: Thế Thần Khí có dẫn anh vào thư viện không? Nếu không thì tôi e rằng nguy lắm!
Câu truyện trên là minh hoạ cụ thể cho thái độ cần thiết của người giảng Lời Chúa, đó là thái độ cộng tác với ơn Chúa. Một đàng, phải trông cậy vào Chúa như thể tất cả mọi sự tùy thuộc vào Người; đàng khác, phải làm hết sức mình như thể mọi sự tùy thuộc vào mình. Chính vì thế, Walter Burghard đề nghị: đối với linh mục, phải xem chuyện không soạn bài giảng là một tội! Không biết anh em linh mục có bao giờ xét mình về vấn đề này khi dọn mình đi xưng tội không?
Liên quan đến việc soạn bài giảng, linh mục có thể ít soạn bài vì nhiều lý do. Lý do thứ nhất là quá bận bịu với những công việc mục vụ khác đến nỗi không còn thời giờ để soạn bài. Ở đây, có lẽ phải chân thành nói với nhau rằng: vấn đề không phải là ở chỗ không có thời giờ cho bằng điều gì được coi là chiếm vị trí ưu tiên trong ngày sống của mình. Chân thành nhìn lại cách sử dụng thời giờ của mình sẽ giúp ta khám phá đâu là mối ưu tiên hàng đầu trong đời sống linh mục. Nếu linh mục xác tín rằng rao giảng Lời Chúa là nhiệm vụ hàng đầu và toàn tâm toàn ý với công việc này thì chắc chắn linh mục sẽ tìm ra thời giờ để chuẩn bị bài giảng cho tốt.
Cũng phải nói đến một lý do khác khiến linh mục cảm thấy không cần soạn bài, đó là những bài giảng dọn sẵn. Hiện nay có rất nhiều bài giảng dọn sẵn dưới nhiều hình thức: sách vở, internet, tài liệu của các nhóm... Có thể nói những bài giảng này là con dao hai lưỡi vì một đàng giúp cho linh mục thêm chất liệu giảng dạy, nhưng đàng khác cũng có thể làm cho linh mục ỷ lại và làm kiệt quệ sự tìm tòi sáng tạo riêng của linh mục. Vì thế, hầu như tất cả các tác giả chuyên về môn giảng thuyết đều khuyên là không nên sử dụng những tài liệu này trước khi chính mình đọc Thánh Kinh, cầu nguyện, và chọn chủ đề cho bài giảng sắp tới.
Kết luận:
Phân tích những lý do ngăn cản linh mục trong nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa cũng là cách để thấy được những gì cần làm để có thể chu toàn trách nhiệm của linh mục là thày dạy. Xin khép lại những gợi ý trên bằng tâm tình chia sẻ và cũng là lời nhắn nhủ Đức Gioan Phaolô II gửi đến các giám mục, cũng là gửi đến các linh mục, những cộng tác viên đắc lực của hàng giám mục:
“Rất nhiều gánh nặng được chất trên vai một giám mục. Bản thân tôi cũng có kinh nghiệm đó và tôi đã thấy là mình thiếu thời gian để làm mọi việc. Thế nhưng kinh nghiệm cũng dạy tôi rằng sự tĩnh lặng và việc nghiên cứu cần thiết cho một giám mục biết chừng nào. Giám mục cần được đào tạo về thần học cách sâu sắc và theo kịp thời đại, và cần quan tâm nhiều hơn đến đời sống trí thức cũng như Lời Chúa. Đó là những kho tàng mà những con người suy tư chia sẻ cho nhau. Vì thế, tôi muốn nói đến vai trò của việc đọc sách trong đời sống giám mục của tôi. Tôi cứ phải tự hỏi: đọc cái gì? Và tôi cố gắng chọn những gì thiết yếu nhất. Ngày nay có biết bao nhiêu ấn phẩm! Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là mọi sách vở đều có cùng một giá trị và cùng mang lại hiệu quả như nhau. Phải biết chọn lựa và hỏi ý kiến xem nên đọc cái gì... Khi đọc sách và nghiên cứu, tôi luôn luôn tìm cách kết hợp cách hài hoà những chiều kích của đức tin, lý trí, và con tim. Đó không phải là những lãnh vực biệt lập nhau nhưng mỗi lãnh vực đều thấm nhập và linh hoạt lãnh vực khác. Trong mối tương quan hỗ tương giữa đức tin, lý trí và con tim, điều gây ảnh hưởng đặc biệt chính là sự ngỡ ngàng phát xuất từ huyền nhiệm về con người, từ sự giống nhau giữa con người với Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể, từ mối tương quan sâu xa giữa tình yêu và chân lý, từ huyền nhiệm trao ban cho nhau làm phát sinh sự sống, từ việc chiêm ngắm sự nối tiếp của nhiều thế hệ nhân loại. ”
Lm. Phêrô Nguyễn Khảm
|