Cau Xin Me

HẠNH PHÚC "ÐỊA ÐƯỜNG"

Lm Giuse Thân Văn Tường

T

heo thần học cổ truyền thì khi con người được sáng tạo, họ nhận được từ tình thương của Thiên Chúa ba bậc ân huệ khác nhau:

- Ân huệ tự nhiên, đó là một bản tính riêng mà mọi vật, khi đã "hiện hữu" thì đều phải có.

- Ân huệ trừ nhiên là những ân huệ mà bậc tự nhiên không buộc phải có, và nếu có thì chỉ là ở "bên lề" bậc tự nhiên.

- Ân huệ siêu nhiên làm cho con người được "thông hiệp" với Thiên Chúa, được đồng bản tính với Người nhờ Chúa Thánh Thần.

Ở dây chúng ta sẽ dựa vào thần học truyền thống và vào triết học và từ ngữ văn hoá của thầy học ấy để giải thích.

I. Tình trạng con người nguyên thuỷ.

Sáng Thế 3,8 đã nhắc đến và Xuất Hành 28,13... đã tả tỉ mỉ về vườn "Ðịa đường" hay "vườn của Thiên Chúa" (2 Cor 12,2...). Theo các đoạn Kinh Thánh nói trên, thì khi Thiên Chúa sáng tạo con người, Người đặt họ vào một cái vườn có trồng cây cối trong một sa mạc hoang vu. Ađam và Evà có sự hiện hữu như các tạo vật khác, nhưng Kinh Thánh cũng nói đến họ được thông hiệp với Thiên Chúa và có "tinh thần" (spiritus). Nhưng họ đã phạm tội, họ không còn thông hiệp với Thiên Chúa nữa. Mất sự thân thuộc với Thiên Chúa, ngày nay, con người được hiện hữu một thời gian tạm bợ và phải chết.

Không ít tác giả giải thích Gn 2,8 nâng loài người lên là đưa họ vào một bậc khác với bậc thông thường của họ: Ðó là được thông hiệp với Thiên Chúa, nghĩa là được trò chuyện với Người, được gần gũi Người, được ăn cây hằng sống. Trái với hoàn cảnh này, sau khi ăn trái cấm, con người phải đuổi ra khỏi vườn "địa đường".

Thiên Chúa đã ấn định quan hệ của con người với Người sẽ phản ảnh trong quan hệ của vũ trụ với chính con người. Sau khi ăn quả cây "biết lành biết dữ", họ trở nên ích kỷ, thấy lành dữ trong quan hệ gia đình, xã hội, và với các tạo vật khác. Họ phải sinh nặng, đẻ đau, phải làm việc vất vả mới có của nuôi thân. Nguồn gốc đời sống con người đời nay là thế. Sau khi phạm tội, họ đã mất thông hiệp với Thiên Chúa, nên cũng mất hoà hiệp với các tạo vật khác, bắt đầu là với chính con người trong bất trung của mình.

Còn sự chết thì thánh Phaolô quả quyết đó là kết quả của tội (Rm 5,12). Như vậy, gián tiếp thánh Phaolô đã chấp nhận nếu nguyên tổ không phạm tội thì không phải chết. Cái chết bởi tội mà đến, nhưng Chúa Giêsu đã nhờ sự chết để giao hoà Thiên Chúa với loài người. Cái chết của Người đã biến cái chết thành giờ phút bước vào trường sinh (Phil 1,23).

Ngoài sự hiệp thông với Thiên Chúa, trước khi phạm tội, ông bà nguyên tổ còn có sự toàn vẹn (integritas) hay sự không có đam mê. Theo thánh Phaolô: Ðam mê là sức mạnh của sự tội đè nặng trên con người sau khi họ để nó xâm nhập vào bản thân mình. Trong các chương 6 và 7 thư gởi người Roma, thánh Phaolô nói về sự tội hướng con người xa lìa Thiên Chúa và hướng về tội lỗi. Xu hướng này là "đam mê" các sự lành đời này một cách ích kỷ, trái với ý định của Thiên Chúa. Người Kitô hữu phải cố gắng chiến thắng đam mê của mình. Chúa Thánh Thần mà họ đã nhận được khi chịu bí tích Rửa tội cảnh giác và ban sức mạnh trước lôi cuốn của đam mê mà thắng vượt nó. Ðam mê chưa phải là tội, nó vẫn âm ỷ trong mỗi cá nhân; ngăn chặn được nó thì ta có sự "toàn vẹn" mà nguyên tổ đã có trước khi phạm tội.

Ông bà nguyên tổ có trạng thái "toàn vẹn", nhưng họ cũng có tự do. Vì Thiên Chúa đã ban cho họ tự do, nên họ có khả năng chọn sự vô tội hay đi vào sự tội, họ đã đi vào sự tội, nên mất trạng thái "toàn vẹn". Với các Kitô hữu, để lấy lại tình trạng "toàn vẹn", thì họ phải chịu bí tích Rửa tội. Người tín hữu càng được thâm nhập trong đời sống mình bởi ân sủng của Chúa Thánh Thần thì càng có sức mạnh đi trong con đường thông hiệp với Thiên Chúa (ef. 2Cor 2,18; Rm 8,15). Sự "toàn vẹn" Thiên Chúa muốn ban cho con người chỉ hoàn thành trong ngày cánh chung. Con người đã phạm tội nên họ đã phải chiến đấu để lấy lại sự "toàn vẹn" ấy suốt cả đời mình. Chỉ khi nào họ chết và phục sinh với Ðức Kitô thì lúc ấy họ sẽ lấy lại được sự toàn vẹn lúc ban đầu, nhưng sự toàn vẹn này, nhờ ơn cứu độ của Ðức Kitô, sẽ chói sáng sự vinh hiển trường tồn của Người.

II. Một vấn đề đã được đặt ra trong thần học là tình trạng thông hiệp với Thiên Chúa kèm theo là sự "toàn vẹn", và sự bất tử mà ông bà nguyên tổ đã được hưởng có nguồn gốc từ ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô hay không?

Trước đây, đã có một xu hướng thần học phân biệt ân huệ Thiên Chúa ban khi sáng tạo loài người, và ơn cứu độ mà Chúa Giêsu đã thể hiện. Ơn này Thiên Chúa đã ấn định sau khi loài người đã phạm tội, và chỉ hoàn thành trong ngày cánh chung. Chủ trương này đã được trình bày trong tác phẩm "Các mầu nhiệm của người Kitô hữu" của M.J. Scheebeen (Fribourg 1951, trang 294...). Nhưng ngày nay đại đa số các nhà thần học quan niệm về vấn đề này như sau:

Ađam và Evà được Thiên Chúa tạo dựng trong vườn "địa đường được Thiên Chúa thương yêu và có ơn "toàn vẹn" (integritas). Nhưng ông bà có tự do, ông bà phải chấp nhận hoàn cảnh của mình thì họ mới thật hiện hữu trong bản tính mình. Họ đã từ chối và phạm tội. Nhưng lòng yêu thương và nhân hậu của Thiên Chúa không chấm dứt với tội nguyên tổ. Người muốn ơn thông hiệp của Người với loài người phải thể hiện trong ngày cánh chung bởi quyền năng Ngôi Con xuống thế làm người chết và sống lại để đem lại cho họ một đời sống mới sau cái chết! Thánh Phaolô nói đến Chúa Giêsu như Ađam hoàn hảo và Ađam cũ chỉ là hình bóng (cf. Rm 5,14; 1Cor 15,45-49), và thánh Gioan quả quyết ân sủng Thiên Chúa ban cho loài người được biểu lộ ngay lúc ban đầu sẽ thể hiện trong suốt lịch sử cứu độ (1Ga 4,9).

Những nhận xét trên về vai trò của Ðức Kitô giúp ta đừng quá đề cao hoàn cảnh của ông bà nguyên tổ trước khi phạm tội: Không phải tình trạng ban đầu của ông bà đã là lý tưởng Thiên Chúa ấn định cho loài người, Con Thiên Chúa nhập thể mới là lý tưởng ấy, chúng ta chẳng biết gì về nguyên tổ nếu họ không phạm tội. Còn về Chúa Giêsu, Tân Ước đã quả quyết rằng: Người vừa là Ðấng cứu độ loài người khi họ đã mắc phải tội lỗi, vừa là Ðấng sáng tạo cùng với Chúa Cha mọi loài, mọi vật. Người là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người khi mặc lấy nhân tính (cf. Col 1,15; Ga 1,3.10). Vì thế mà thánh Irênê đã nhắc đến "sự hiện diện của Người trong thế gian là nguồn một đời sống mang lại tất cả sự mới mẻ cho loài người" (Adv. Haer. 4,24). Ân sủng nguyên thuỷ chẳng là gì khác ngoài điềm báo của đời sống mới mẻ này. Nếu ngày nay, loài người còn phải chịu hậu quả của tội tổ tông, Chúa Giêsu đã chiến thắng mọi hiệu quả của tội lỗi, kể cả tội lỗi của Ađam (cf. Hebr. 1,3.10). Vì thế mà trong phụng vụ ngày Chúa sống lại, đã nhắc đến tội Ađam như "félix culpa"!

III. Khi Thiên Chúa dựng nên loài người và truyền cho họ "quản trị trái đất" (Gn 1,28), không những ta thấy Thiên Chúa muốn cho loài người hiện hữu, mà còn muốn cho họ cộng tác với Người trong việc sáng tạo vũ trụ nữa. Lao động (Gn 2,15) xem ra là một trong các trách nhiệm chính của con người. Như vậy, đời sống địa đường, lúc ban đầu, không phải là một tình trạng có sẵn, Thiên Chúa còn đòi ở con người phần tham gia tích cực rồi họ mới có. Nói đến địa đường xem ra Kinh Thánh chỉ nói lên một đời sống khả thể mà con người sẽ có khi không phạm tội.

Mặt khác, ta cũng đừng nghĩ rằng: Chúa Giêsu xuống thế gian cứu chuộc loài người, thì Người chỉ đem lại hạnh phúc địa đường mà tội tổ tông đã đánh mất mà thôi, vì "địa đường" nguyên thuỷ mà Cựu Ước nhắc đến chưa phải là một thực tại đã thể hiện, vì loài người chưa có hành động đón nhận.

Theo Cựu Ước, xem ra tình trạng của nguyên tổ trong "địa đường" chỉ là một khả thể về đời sống mà Thiên Chúa đã hứa ban cho con người mà thôi. Tội đã làm cho đời sống ấy không xảy đến. Ở đây, ta chỉ có thể căn cứ vào giáo lý của Giáo Hội rằng: Nếu loài người không phạm tội thì đời sống họ sẽ không có các hâụ quả tiêu cực mà tội đã đem đến cho họ. Chắc rằng ngày nay ai cũng cảm thấy nặng nề của ích kỷ và bất công trong thế gian. Hết chế độ độc tài, thực dân đến hành động khủng bố. Những sự dữ bao vây loài người này là hậu quả của ích kỷ và tội lỗi của con người. Từ tình trạng thảm thương này, trong ngôn ngữ huyền thoại và mơ mộng, người ta đã hướng về hình ảnh địa đường của ông bà nguyên tổ lúc ban đầu trong đời sống trần gian.

Hình ảnh này còn là một mời gọi với lương tâm con người của mọi thời đại. Tới một mức nào đó, cái vòng lẩn quẩn của tội ác trong thế gian không phản ảnh được dự định đầu tiên Thiên Chúa muốn cho loài người. Nhưng Thiên Chúa yêu thương và nhân từ vẫn còn đó, giữa đớn đau và sự chết nhân loại vẫn có lý do để hy vọng.

Những trình bày trên chưa đạt đến điểm cuối cùng. Cựu Ước đã nói về "địa đường" không ở quá khứ, nhưng tương lai. Về số kiếp của đời con người, Thiên Chúa không muốn cho họ hoàn toàn thụ động dù mọi sự lành họ có đều do Người ban nhưng không. Trong Tân Ước, ngày Thiên Chúa đến với con người luôn là một đợi chờ nóng hổi (1Cor 16,22; Ap 22,2s; Phil 4,5...). Trong ngày quang lâm Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và đem lại vương quyền cho Thiên Chúa trên mọi sự (1Cor 15,2s...) chỉ lúc ấy, con người sẽ không chết nữa và được vẹn toàn. Hình ảnh "địa đường" hướng về hình ảnh ngày "cánh chung". Tội lỗi của con người không tiêu diệt được chương trình của Thiên Chúa tuy nó đã thay đổi cách thể hiện chương trình ấy. Sự sáng tạo là khởi điểm sự tái tạo vì các hành động ấy đều có Chúa Giêsu là đầu và chỉ thể hiện trong Người.