Cau Xin Me

Sơ Lược Lập Trường Giáo Hội Về Vấn Ðề Dân Số

Lm Phaolô Nguyễn Ngọc Thử

T

rong bài trả lời sơ lược này, chúng tôi sẽ trình bày một số nguyên tắc có tính đạo đức luân lý và một số định hướng cho lao động mục vụ.

1/ Một số nguyên tắc có tính đạo đức luân lý về vấn đề Dân số.

Hai chữ đạo đức (éthique) ở đây cần được hiểu chẳng những theo lẽ phải nhân bản tự nhiên, mà còn cần được hiểu đồng thời là luân lý có tính siêu phàm nữa, vì vấn đề Dân số được quyết có đụng chạm đến đời sống con người là một ơn ban của Thiên Chúa. Cuộc khủng hoảng dân số của thế giới gây nên một lo âu, nói lên một ý thức hệ của lo âu về tương lai và thiếu tin tưởng vào con người. Người ta muốn tạo cho mình một thái độ an thân, khi đứng trước vấn đề dân số mà người ta tìm cách giải quyết mỗi người theo ý riêng của mình. Ðứng trước các cách riêng lẻ và phiêu lưu của nhân loại để giải quyết vấn đề dân số, Giáo Hội thấy mình cần phải soi sáng mọi người, mọi quốc gia,mọi tổ chức quốc tế có tính phi chính phủ hay tư nhân, bằng cách giúp họ suy nghĩ về ý thức hệ này và giải quyết cách đúng đắn.

1.1/ Giáo Hội kêu gọi mọi người chú ý đến một hình thức mới của sự nghèo khó. Sự nghèo khó mới này được biểu lộ qua những thái độ tiêu cực đối với sự sống và đối với quốc gia. Ðó là sự giảm thiểu và hạn chế dân số, quên lãng tính liên đới, đày đoạ con người trong cảnh cô đơn, và không sẵn sàng đón nhận những thế hệ tương lai, cũng không nhạy cảm đối với sự sa sút về dân số. Nếu không dừng lại thái độ tiêu cực này sẽ dẫn đến hình thức xấu xa nhất của sự nghèo khó: Ðó là sự nghèo khó về luân lý.

1.2/ Di sản chung của nhân loại có nguy cơ không được truyền đạt: Ðó là di sản được tạo thành bởi những giá trị luân lý và tôn giáo, những giá trị của văn hoá, của nghệ thuật, của khoa học và kỹ thuật. Các thế hệ người thì rất cần cho sự truyền đạt và đồng thời phong phú hoá di sản chung đó. Sự ích kỷ ngày càng rõ nét của các xã hội phồn vinh nhưng lão hoá sẽ làm cho một số người bị hại vì sự suy thoái này, và những người đó sẽ là những người xấu số nhất trong nhân loại. Giáo Hội muốn bày tỏ sự ưu ái của mình đối với những người bị hại này (x. Ðức Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, ngày 1/5/1991, 38-40, 49 và 51, AAS. 83 (1991).

1.3/ Trong các nước đang phát triển vẫn có cách phòng ngừa những bất bình đẳng về điều kiện sinh hoạt, về tài lực, về kiến thức, về thủ thuật, vì sự kém phát triển không bao giờ là một định mệnh. Giáo Hội khẳng định rằng bất cứ người nào, bất cứ dân tộc nào cũng có thể có đủ khả năng giải quyết những thoả đáng những vấn đề sơ đẳng về sinh tồn và về phát triển, trong khuôn khổ của từng liên đới quốc tế (x. Centesimus Annus, 32-34)

1.4/ Không một cá nhân nào, không một dân tộc nào có quyền coi lợi ích riêng của mình cao hơn những đòi hỏi của ích chung của gia đình nhân loại. Cụ thể, sự liên đới giữa các dân tộc đòi hỏi mỗi người và mọi người phải có kiến thức và thái độ đúng đắn về công ích, về dụng đích phổ quát của mọi tài sản (x. Centesimus Annus, 30).

1.5/ Ðức công bằng đòi buộc những người được may mắn hơn phải chia sẻ phần dư dật của mình với những người đang thiếu cả những nhu cầu cho sự sống (x. CÐ/Vat. GS 69 và Centesimus Annus 58).

1.6/ Về dụng đích của các tài sảøn, toàn bộ tài sản của nhân loại, kể cả các tài sản tinh thần và trí tuệ, đều phải dành cho cộng đồng nhân loại hiện tại và sắp tới. Mỗi thế hệ người là người quản lý có trách nhiệm của các tài sản đó (x. Centesimus Annus, 31).

1.7/ Nguyên tắc hỗ trợ cũng được áp dụng cho lãnh vực dân số. Các chính quyền có quyền giám sát trong giới hạn của thẩm quyền mình, nhưng không được tự dành lấy cho mình những trách nhiệm vốn thuộc về các đôi vợ chồng. Chính quyền lại càng không có quyền mặc cả, cưỡng bách hay làm áp lực để bắt các đôi vợ chồng phải qui phục những mệnh lệnh của mình trong vấn đề dân số. Bất cứ chính sách độc tài nào về dân số, dù ngấm ngầm hay công khai, đều không thể chấp nhận được. Trái lại, chính quyền của mọi thứ nhà nước có bổn phận bảo vệ gia đình và sự tự do của các đôi vợ chồng, bảo đảm sự sống của các trẻ vô tội, tôn trọng người phụ nữ nhất là trong vai trò làm mẹ của họ.

1.8/ Nguyên tắc hỗ trợ này cũng có giá trị cho các cơ chế quốc tế phi chính phủ. Các cơ chế này không có quyền làm áp lực trên các quốc gia và các cộng đồng dân tộc để áp đặt những chính sách không phù hợp với sự tôn trọng con người và gia đình cũng như sự độc lập của các quốc gia. Các cơ chế quốc tế phải tôn trọng chủ quyền của các quốc gia và quyền tự trị chính đáng của các đôi vợ chồng hầu làm nên một xã hội công bằng hơn. Làm khác là vượt quá thẩm quyền của các cơ chế quốc tế.

1.9/ Các tổ chức quốc tế không được phục vụ cho các cường quốc hay chỉ gây nguy cơ cho các quốc gia nghèo nghi ngờ ý đồ trên cũng vậy. Theo tình liên đới quốc tế, các quốc gia giàu phải giúp đỡ các quốc gia nghèo. Ðó là một bổn phận của đức công bằng. Nhưng nếu nối buộc sự viện trợ với những điều kiện vô luân về quyền sống của con người, thì đó sẽ là một việc làm xấu xa. Cũng vậy, trình bày các chiến dịch chống sinh sản như là phương cách thích hợp nhất, và đòi chấp nhận để cho được nhận viện trợ, đôi khi có kèm theo áp lực nặng nề về luân lý hoặc thể lý thì đó là một sự lạm dụng về quyền hành, trí tuệ, đạo đức và chính trị.

1.10/ Ðối với các cơ chế quốc tế tư nhân cũng phải có những sự dè dặt. Các tổ chức này không có quyền đặt các quyền lợi riêng tư của mình lên trên những quyền lợi bất khả xâm phạm của mọi người đối với quyền được sống, được toàn vẹn thân thể, được giáo dục và được tự do có trách nhiệm, cũng không được xâm phạm hoặc đặt lên trên những quyền lợi của mọi dân tộc trong sự tự quyết về mình và trong sự phát triển trong tình liên đới.

1.11/ Người nam và người nữ được kêu gọi trở thành cộng sự viên của Ðấng Tạo Hoá trong việc truyền sinh. Giữa lòng của lòng của hiệp thông sự sống và tình yêu của cuộc hôn nhân, hai người làm thành gia đình, tế bào căn bản của xã hội (x. Ðức Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio 11, 14, 18 trong AAS 74 (1982) trang 91-92 và 96-97). Thật là không hợp với ý định của Thiên Chúa, nếu hai vợ chồng làm tê liệt hoặc tiêu huỷ sức sinh sản của mình bằng sự ngừa thai nhân tạo, sự triệt sản hoặc phá thai (x. CÐ/Vat. GS.51; Ðức Phaolô VI, thông điệp "Sự sống con người", 12-14). Vợ chồng phải nhận thức trách nhiệm phu phụ của mình, quảng đại trong hôn nhân và tôn trọng sự sống của đứa con chưa sinh ra.

1.12/ Sau đây là một nguyên tắc lớn liên quan đến quyền lợi nội tại về họ hàng: "Hai vợ chồng có quyền lợi bất khả nhượng để lập nên một gia đình và quyết định về quãng cách giữa các lần sinh nở, về số con cái của mình, xét theo những bổn phận của họ đối với chính bản thân, đối với các con đã sinh ra, đối với gia đình và xã hội, theo một phẩm trật thích đáng giữa các giá trị và phù hợp với trật tự luân lý khách quan, gạt bỏ tất cả những việc sử dụng phương pháp ngừa thai, triệt sản hoặc phá thai" (Hiến chương về quyền lợi của gia đình do Toà Thánh biên soạn ngày 22/10/1983, số 3). Sử dụng sự cưỡng bách hoặc lừa dối, là vi phạm quyền lợi của những cá nhân nam và nữ và đồng thời vi phạm quyền lợi của các gia đình. Thế lực bên ngoài tìm cách và thật sự hạn chế sự tự do của các đôi vợ chồng trong sự quyết định về số con cái của mình là một xâm phạm nặng nề đối với nhân phẩm và đối với đạo đức công bằng. Viện trợ kinh tế giúp các nước trong sự phát triển phải được làm cách nhưng không, chớ không được phép kèm theo điều kiện phải chấp nhận những chương trình về ngừa thai, triệt sản hoặc phá thai. Gia đình có quyền được xã hội giúp đỡ trong việc sinh sản và giáo dục con cái cách thích hợp và không kỳ thị, cách riêng là các gia đình có nhiều con cái (x. Hiến chương đã dẫn, 3a, b, c). Việc quyết định về số con cái thuộc quyền các đôi vợ chồng, chứ không thuộc chính quyền. Chỉ sự khám phá ra nội tại của nhân vị con người, của hôn nhân và của gia đình mới có thể khuyến khích người ta có con cái, nhìn vào thế giới ngày mai.

1.13/ Ðược tự do quyết định về số con cái của mình, các đôi vợ chồng cũng được tự do lựa chọn những phương pháp tự nhiên để điều hoà việc sinh sản có trách nhiệm, nếu họ có những lý do nghiêm trọng để làm như vậy, chiếu theo huấn quyền. Có nhiều thứ loại lý do, nghĩa là chúng đa dạng. Khi sử dụng những phương pháp tự nhiên, sức khoẻ của người mẹ và của đứa con được bảo đảm do có quãng cách tự nhiên giữa các lần sinh nở. Chúng không gây nguy hiểm cho sức khoẻ của đôi vợ chồng. Thân xác người vợ được vẹn toàn và tôn trọng. Nhưng không được sử dụng những phương pháp nhân tạo để kiểm soát sinh sản hoặc để triệt sản, vì không tôn trọng nhân vị của đôi vợ chồng, bởi lẽ chúng tiêu huỷ hoặc ngăn cản sự sinh sản là thành phần cấu tạo nên con người toàn diện.