Cau Xin Me

Một Thoáng Nhìn Lại

v

iệt Nam đã ra khỏi chiến tranh được 21 năm, nhưng quay nhìn lại, chúng ta nhận thấy cả Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Việt Nam lớn) lẫn Việt Nam Công Hòa Nối Dài (Việt Nam nhỏ) vẫn chưa thực hiện được những gì đất nước đang mong đợi. Có nhiều trở lực đưa đến sự bế tắc này, trong đó có lẽ trở lực quan trọng nhất mà cả hai bên đang gặp phải, đó là trở lực về Con Người. Nhân ngày cuối năm đầu của thế kỷ 21, chúng ta thử thoáng nhìn lại trở lực này và xem có cách nào để vượt qua được không.

1. Bế Tắc Về Con Người Ở Trong Nước

Người cộng sản Việt Nam đã theo đuổi cuộc chiến chống ngoại xâm và sau đó là cuộc chiến về ý thức hệ từ năm 1930 đến năm 1975, tức mất 45 năm. Trong thời gian theo đuổi cuộc chiến, họ đã phải chịu đựng rất nhiều gian khổ và mất mát. Khi ra khỏi cuộc chiến thì đa số tuổi đã quá già, sức đã mòn và hơi đã mỏi, trong đầu óc và trong tay chẳng còn lại gì. Lúc đầu họ rập khuôn theo phương thức kinh tế tập trung của các chế độ xã hội chủ nghĩa. Ðàn anh làm sao, họ làm vậy. Nhưng bổng nhiên các chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ, đàn anh chuyển qua kinh tế thị trường để cứu vãn tình thế, họ cũng bắt chước làm theo, nhưng xoay trở cách nào cũng không khá lên được. Tại sao?

a) Cán bộ từ trong rừng ra

Ðảng Cộng Sản Việt Nam có một lớp cán bộ đông đảo đã được đào tạo để phục vụ chiến tranh, dựa trên tiêu chuẩn Hồng hơn Chuyên. Họ có thể tác chiến giỏi nhưng không biết gì về điều hành các công việc hành chánh và kinh tế, nhưng công trạng của họ lại rất lớn đối với Ðảng. Chiến tranh chấm dứt, làm gì với lớp người này?

Lúc còn theo chề độ xã hội chủ nghĩa, những người "có công với Cách Mạng" này đã được xếp cho vào các chức vụ thừa hành. Thí dụ một anh chính ủy, tuy mới học hết lớp 5, có thể cho chuyển ngành qua làm chánh án hay giám đốc một cơ quan. Chánh án xã hội chủ nghĩa không cần phải biết luật và biết chữ nhiều. Về hình sự, việc định tội và định án đã có Ban An Ninh Nội Chính lo. Về dân sự, Ban Hướng Án làm án giúp cho. Người cầm cân pháp lý chỉ cần hỏi qua loa rồi đem án ra đọc. Lối làm việc này làm cho guồng máy trở nên quá nặng nề và chậm chạp, thường hay lầm lẫn, nhưng cũng tạm được. Nhưng khi chuyển qua kinh tế thị trường thì không còn điều hành được nữa.

Họ lại là những người mới ở trong rừng ra, rất nghèo, thấy cái gì cũng thèm muốn. Trước tiên là mỗi anh đi kiếm một căn nhà để tạm trú, thấy của ai có thề chiếm được là cứ chiếm, không cần luật lệ gì hết. Lương bao giờ cũng chỉ đủ sống khoảng 20 ngày nên phải tìm cách kiếm thêm, có thứ gì ăn cắp được là ăn cắp, lớn đớp lớn, nhỏ đớp nhỏ, không cần biết hậu quả sẽ như thế nào.

b) Nạn mua bằng

Năm 1985, khi bắt đầu đổi mới theo Liên Sô, Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã tìm cách loại bớt lớp người ăn hại đái nát này ra. Họ ra lệnh rằng những viên chức nào chưa học hết lớp 8 đều phải đi học thêm hoặc xin nghỉ việc. Có anh chịu thua, trở về đi cày. Nhưng đa số đang nắm các chức vụ béo bổ trong tay, đã cố gắng dự các lớp văn hóa bổ túc, một năm bốn lớp, để giữ ghế. Dù lớp văn hóa bổ túc được giảng dạy rất đơn giản, nhưng ít ai có thể theo nổi. Toán nhân và toán chia làm không xong, làm sao học căn thức bực hai hay lượng giác được? Nhưng rồi anh nào cũng có đầy đủ các chứng chỉ hay văn bằng cần thiết để giữ ghế. Các chứng chỉ và văn bằng đó ở đâu mà có? Trong một bài báo gởi đi từ Hà Nội ngày 6.10.2000, ký giả Huw Watkin có viết như sau:

"Ông Bộ Trưởng Giáo Dục đã làm một cuộc thanh tra khoảng 662 nhân viên chính quyền mà những người này nói rằng họ đã tốt nghiệp chuyên môn tại 6 trường đại học tại thành phố Saigon. Cứ 10 bằng cấp hay chứng chỉ là có một cái là giả mạo. Nhiều chữ ký, con dấu trên bằng cấp hay chứng chỉ được cấp có xuất xứ từ trường đại học Luật Khoa. Cuộc khám xét cũng đã phát hiện 32 trong số 180 hồ sơ tài liệu là không thật."

Bộ Giáo Dục - Ðào Tạo đã ra chỉ thị số 29/CT yêu cầu kiểm tra lại chất lượng đào tạo, các chứng chỉ và văn bằng đã được cấp. Kết quả sơ khởi như sau:

- Tại Nam Ðịnh: Kiểm tra 364 văn bằng, phát giác 26 trường hợp không có tên trong danh sách tốt nghiệp, chiếm 7,1%.

- Tại Thái Nguyên: Lớp Ðại học Quản trị Kinh doanh do Viện Ðại Học Hà Nội tổ chức, có tới 35,5% số bằng được cấp phát không hợp pháp.

- Tại Hải Phòng: Trong 14 lớp Ðại học tại chức có tới 13 lớp có nhiều vi phạm. Ðặc biệt, lớp Quản trị Kinh doanh do Ðại học Hàng hải mở tại thành phố có tới 23,8% số bằng được cấp không hợp pháp.

- Tại Thanh Hóa: Lớp Ðại học tại chức Luật đã cấp 194 bằng trong đó có 20 bằng không hợp pháp, chiếm tỷ lệ 10,3%. Hai cơ quan phải chịu trách nhiệm là Ðại học Luật Hà Nội và Trường Chính trị của tỉnh.

- Tại Saigon: Người ta khám phá ra có 274 văn bằng giả trong số 2.992 văn bằng được kiểm tra. Những văn bằng này không có trong danh sách tốt nghiệp được lưu giữ tại Sở Giáo dục và Ðào tạo của nhà nước. Những người xử dụng bằng giả phần lớn là cán bộ và công chức nhà nước, nhất là những người tốt nghiệp hệ tại chức.

Một trường hợp xử dụng bằng giả đã gây xôn xao trong dư luận, đó là trường hợp của ông Trần Hồng Thái. Ông ta có đến 3 bằng đại học giả: Tốt nghiệp Ðại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội năm 1982, hệ tại chức; tốt nghiệp Ðại học Bách khoa Hà Nội năm 1984 và Ðại học Tài chánh - Kế toán Sài Gòn năm 1988. Với 3 tấm bằng đại học giả ấy, ông Thái lại kiếm thêm được tấm bằng Thạc sĩ Quản trị và vào giữa năm 1997 đã trúng tuyển kỳ thi nghiên cứu sinh vào Trường Ðại học Kinh tế thành phố Sài Gòn, sau đó Bộ Giáo dục - Ðào tạo đã ra quyết định công nhận ông là nghiên cứu sinh. Ngày 7/4/2001, ông Thái lại bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài "Các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước". Hiện ông là thành viên Hội đồng Quản trị Trường Cao đẳng bán công Công nghệ & Quản trị Doanh nghiệp Sài Gòn. Nhưng kết quả cuộc điều tra của Công An Thái Bình cho thấy năm 1973 ông có học lớp 10 nhưng chưa hề tốt nghiệp trung học! Tất cả những thứ trên ông có đều là bằng mua, chẳng phải học hành chi cả!

Dùng bằng mua và bằng giả thì làm sao đủ khả năng điều hành công việc theo chức vụ được? Báo Thanh Niên số phát hành tháng 7 năm 2000 cho biết tại Hội nghị Sơ kết Công tác Ðổi mới và Phát triển Doanh nghiệp Quốc doanh do Văn phòng Nhà nước tổ chức, ông Nguyễn Minh Thông, Trưởng ban Ðổi mới Quản lý Doanh nghiệp đã tiết lộ: "Có đến 65% giám đốc và tổng giám đốc các doanh nghiệp quốc doanh không có khả năng đọc và hiểu được bảng quyết toán tài chính hàng năm". Theo số liệu điều tra của Viện kinh tế thành phố Saigon, có tới 60% số người ở khu vực hành chính sự nghiệp không đáp ứng được yêu cầu công việc hiện nay. Các ông bà "dân cử" trong Quốc Hội cũng chẳng hơn gì. Năm 1998, chính phủ đã chuyển qua Quốc Hội bản dự thảo Bộ Luật Thương Mại do các chuyên viên Pháp giúp soạn thảo, yêu cầu Quốc Hội biểu quyết. Các ông "dân cử" đọc qua và phán: "Viết chẳng hiểu gì hết". Dự luật được hoàn lại cho chính phủ, yêu cầu viết lại!

c) Một vấn đề nan giải

Trước 30.4.1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 120.000 công chức. Nay Việt Nam có đến 5 triệu công chức, một con số ít ai tưởng tượng được. Riêng tại Saigon, báo Người Lao Ðộng số phát hành tháng 6 năm 2000 cho biết hiện có khoảng 80.000 cán bộ công chức hành chính và sự nghiệp. Báo Vietnam News ở Việt Nam trong số ra ngày 15 tháng 8 cho biết Nhà Nước hiện phải trả lương cho 5 triệu công nhân viên, nhưng trong đó chỉ một số rất ít có đủ khả năng. Trong năm 2001 Nhà Nước dự trù giảm bớt 15% nhân viên và cấm các cơ quan không được tuyển thêm nhân viên.

Mức lương tối thiểu của khu vực hành chính sự nghiệp hiện nay được định là 144.000 đồng (khoảng 10 đô la) và doanh nghiệp nhà nước là 326.000 đồng (khoảng 20 đô la) một tháng. Số lương này tuy ít, nhưng có còn hơn không. Lương không đủ ăn thì tìm cách kiếm thêm.

Tuổi về hưu ở Việt Nan hiện nay được định là 60 cho đàn ông và 55 cho đàn bà, và ai về hưu non sẽ được hưởng trợ cấp bằng 75% số lương. Biện pháp về hưu non dành cho những người kém khả năng hay vì lý do đặc biệt khác. Nhưng ít ai muốn về. Tại chức, ngồi đó chơi vẫn lãnh đủ 100% lương, thỉnh thoảng lại đớp thêm được món này món kia, dại gì mà về hưu non!

Khi các cán bộ không có khả năng cứ bám chặt các chức vụ trong chính quyền và các công ty quốc doanh thì lớp trẻ tốt nghiệp đại học ra không có chỗ ngồi, đành phải đi bán chợ trời vậy!

2. Cái Kẹt Về Con Người ở Hải Ngoại

Ða số người Việt bỏ nước ra đi tỵ nạn đều ước mong có một ngày trở lại giải phóng đất nước khỏi chế độ cộng sản. Nhưng vấn đề không dễ dàng. Người Việt hải ngoại đã có ba tổ chức kháng chiến thật, đó là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam (của Lê Quốc Túy) và Chí Nguyện Ðoàn Hải Ngoại Phục Quốc (của Võ Ðại Tôn). Ba tổ chức này đã cố gắng trở về trong nước lập chiến khu để kháng chiến, nhưng cuối cùng đã thất bại sau khi bị tổn thất nặng nề về người cũng như tài sản.

Trước 30.4.1975 Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1.200.000 quân, đa số rất thiện chiến, có tinh thần chiến đấu cao, nhưng hầu hết không thông thạo về tổ chức và hoạt động bí mật, chiến tranh du kích... nên đã vi phạm nhiều sai lầm khi tổ chức kháng chiến. Khi thành lập các lực lượng kháng chiến, tổ chức nào cũng khua chiêng gõ mỏ rất inh ỏi. Sau đó, lại công khai đến Thái Lan lập căn cứ địa để huấn luyện cán bộ và tổ chức xâm nhập. Ðịch theo dõi từng hoạt động của các tổ chức này, cài gián diệp vào để lấy tin tức, đồng thời cho hai trung đoàn thiện chiến qua đóng dọc theo biên giới Thái - Lào để ngăn chận các tổ chức xâm nhập. Do đó, kháng chiến quốc ngoại vừa băng qua khỏi biên giới Thái - Lào, chưa tới biên giới Lào - Việt thì đã bị lượm hết. Các toán xâm nhập đường bể cùng chung số phận. Bị kiệt quệ về tài chánh và nhân lực, kháng chiến quân tan rã.

Về vận động chính trị, đa số các thành phần lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hòa trước đây đều nằm trong tổ chức Ðại Việt. Lúc đầu, nhóm này là các viên chức tốt nghiệp Trường Hậu Bổ (École d'Apprentis Mandarins) sau đổi thành Trường Sĩ Hoạn (École des Mandarins) của Pháp. Họ kết hợp lại với nhau thành một nhóm được gọi là nhóm Ðại Việt Quan Lại (Club des Mandarins). Về sau, nhóm này kết hợp thêm nhiều thành phần trí thức và quân nhân có cấp bậc ngoài nhóm để tạo thêm sức mạnh. Mục tiêu của nhóm là tranh chiếm các địa vị trong chính quyền. Ra hải ngoại, không còn chính quyền nữa để tranh giành, nhưng nhóm này vẫn nuôi hy vọng sau khi chế độ cộng sản biến mất, họ sẽ trở lại nắm chính quyền. Lúc đầu họ xuất đầu lộ diện trong các tổ chức đấu tranh. Khi ba tổ chức kháng chiến lớn nhất của người Việt bị thất bại, họ quay qua tranh chiếm các ban đại diện cộng đồng người Việt tại địa phương hay đứng đàng sau các tổ chức này với hy vọng khi có một biến cố nào đó xẩy ra ở Việt Nam, họ sẽ được mời về lãnh đạo đất nước. Khi các tổ chức đại diện cộng đồng trở nên rối loạn, họ mất chân đứng. Nay đa số tuổi đã già, từ 70 trở lên, nhưng ước vọng trở về tham chánh vẫn chưa tắt.

Sự thất bại của các tổ chức kháng chiến và những rối loạn trong cộng đồng người Việt đã khiến những thành phần có kiến thức và khả năng rút lui vào bóng tối. Một số cựu tù nhân chính trị mới qua, không nắm vững tình hình ở hải ngoại, tưởng rằng những người đi trước họ chẳng làm được gì, đã nhảy ra chiếm chính trường với niềm tin rằng họ là những người "đi guốc trong bụng cộng sản", chính họ mới giải phóng được quê hương. Tinh thần hăng say chống cộng có thừa, những khả năng tổ chức và lãnh đạo lại thiếu và ai cũng tự coi mình là lãnh tụ... một số cựu tù nhân chính trị đã đưa các cộng đồng đến chỗ rối loạn hơn nữa.

Thấy chống Cộng kiếm ăn được, nhiều nhiều tổ chức chống Cộng giả đã được thành lập để lừa gạt đồng bào, mang những danh nghĩa rất to và rất kêu như "Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia", "Chính Phủ Cách Mạng Việt Nam Tự Do"... Những người nhẹ dạ đã chạy theo làm công cụ cho họ. Chống Cộng không còn nhắm mục tiêu giải phóng đất nước mà trở thành một chiêu bài để kinh tài hoặc loại trừ nhau. Khi những thành phần như Nguyễn Hữu Chánh, Hồ Anh Tuấn, Ðoan Trang, Ngô Thị Hiền... xuất hiện như những lãnh tụ chống Cộng tối cao, cộng đồng tan ra rừng mãnh.

3. Chuyện Làm Ăn của Anh Hai

Trong khi người Việt lo chiến đấu để lật đổ chế độ cộng sản, lấy đất Mỹ làm bàn đạp, thì chính phủ Hoa Kỳ lại đi đêm với Hà Nội để tính chuyện làm ăn ở Ðông Nam A¨. Năm 1977, giữa lúc tình hình đang dầu sôi lửa bỏng, hàng trăm ngàn người Việt đua nhau tìm đường trốn chạy trốn khỏi chế độ cộng sản, Tổng Thống Carter, một người thuộc thành phần phản chiến cũ, đã cử phái đoàn đi thương lượng với Hà Nội để thiết lập bang giao và hứa sẽ tôn trọng lời hứa của Tổng Thống Nixon trước đây là viện trợ có điều kiện cho Việt Nam. Nhưng lúc đó Hà Nội đang say men chiến thắng, kỳ kèo bớt một thêm hai, nên chuyện không thành. Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, Hoa Kỳ đã lập bang giao với Hà Nội và tìm cách ký với Hà Nội một hiệp ước thương mại để tiến tới sản xuất hàng tại Việt Nam với giá rẻ, có thể bán ra các nước trong vùng.

Khi làm ăn ở Việt Nam, Mỹ cũng gặp trở ngại về hệ thống quan lại hiện nay. Làm một cuộc đảo chánh như thời chính phủ Ngô Ðình Diệm để lật lớp người này đi không phải là một chuyện dễ dàng, vì Mỹ chưa cài được người vào mọi cơ cấu chính quyền hiện tại như dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Sau lưng Hà Nội lại còn có Anh Hai Trung Quốc, anh ấy không bao giờ để cho Mỹ làm chuyện đó. Vả lại, lật đổ cái lớp này đi và đưa lớp khác lên thay, có chắc gì lớp mới sẽ làm hay hơn lớp cũ không? Hay là những biến loạn lại xẩy ra như sau khi lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm? Trước tình trạng như thế, Mỹ phải tính đường dài: "Dùng thằng con thay thế thằng cha". Khoảng 10 hay 15 nữa, lớp "công thần" của chế độ sẽ về chầu Diêm Vương, các con cháu của họ đang được Mỹ huấn luyện sẽ lên thay thế và đổi mới đất nước. Bọn cán bộ già nua và dốt nát cũng thích như vậy. Với sự chuyển đổi nhẹ nhàng này, họ sẽ không bị loại và mất mát những thứ đã chôm chỉa được.

Với cộng đồng người Việt hải ngoại, người Mỹ có nhiều kinh nghiệm về người di dân hơn bất cứ nước nào trên thế, nên cứ tà tà giải quyết. Các cuộc nghiên cứu về di dân của Mỹ đã cho biết dù có làm gì đi nữa, cũng khó mà thay đổi được cách suy tư và nếp sống của thế hệ di dân thứ nhất, trừ một số người tự họ thích ứng với xã hội mới. Cứ đợi thế hệ thứ nhất qua đi, thế hệ thứ hai và thế hệ thứ ba sẽ đương nhiên đi vào dòng chính (main stream) và đâu sẽ vào đó. Do đó, người Mỹ ít quan tâm đến những gì mà thế hệ này đang kêu gào để đòi lại những gì họ đã mất. Thời gian sẽ giải quyết, chừng 10 hay 15 năm nữa thôi.

4. Chỉ Buồn Chẳng Cứu Ðược Non Sông

Chính sách của Anh Hai Hoa Kỳ đối với Việt Nam và Ðông Nam Á trong 10 năm qua đã quá rõ: Diễn biến hòa bình. Các Anh Hai khác như Anh, Pháp, Ðức, Úc, Nhật, Vatican... cũng đều có chính sách tương tự. Khi các Anh Hai "trở cờ", đàn em phải tính như thế nào?

Ðài Loan là một trong những con rồng Á Châu, có 22 triệu dân với tổng sản lượng quốc gia 362 tỷ Mỹ kim và lợi tức đầu người lên tới 16.000 Mỹ kim một năm, có rất nhiều thù hận với chế độ ở Trung Hoa lục địa... nhưng khi các Anh Hai trở cờ, Ðài Loan tìm cách thích ứng ngay. Các Anh Hai chơi thứ gì, Ðài Loan chơi thứ đó. Thế nhưng cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ lại không thể thích ứng được, vì các lý do sau đây:

Lý do thứ nhất: Không theo kịp những biến chuyển ở trong nước và trên thế giới. Mặc dầu thế giới đã đi qua một trang sử mới, đa số người Việt đấu tranh vẫn tưởng thế giới đang ở trong thời kỳ chiến tranh lạnh nên vẫn tiếp tục đường lối đấu tranh cũ.

Lý do thứ hai: Ða số các tổ chức đấu tranh của người Việt không có khả năng thích ứng với tình thế mới. Khi cơ quan thuế vụ IRS của Hoa Kỳ "hỏi thăm sức khỏe" của Mặt Trần Hoàng Cơ Minh, Mặt Trận này và các tổ chức đấu tranh khác hiểu rằng việc tổ chức kháng chiến không còn được chấp nhận nữa, cần phải chuyển qua phương thức đấu tranh khác. Nhưng cho đến nay, chưa tổ chức nào tìm ra được đường lối mới để đẩy mạnh tiến trình chuyển biến ở trong nước như Ðài Loan đã làm.

Lý do thứ ba: Ða số vẫn còn ôm ấp những di sản đã lỗi thời. Những gì đã tạo được, đã xử dụng hay đã theo đuổi từ năm 1945 đến 1975 ở trong nước, vẫn còn được nhiều người trân trọng như là những di sản quý báu hay là những mẫu mực phải tuân theo, cho dù không gian, thời gian và tình thế đã thay đổi. Năm ngoái, Bác sĩ Nguyễn Duy Tài đã đến Orange County, triệu tập các cựu dân biểu và nghị sĩ VNCH lại, tuyên bố Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn và đòi Việt Cộng phải thi hành hiệp định Paris. Các cựu dân biểu và nghị sĩ ngồi phía dưới đều vỗ tay tán đồng vang dội! Cứ mở một tuyên cáo chống Cộng nào đó ra xem cũng sẽ thấy một công thức gần như bất di bất dịch: Vào đề bao giờ cũng phải có mấy câu xét rằng... xét rằng... và xét rằng..., sau đó là những xác quyết nghe rất nổ, nhưng đọc kỹ thì thấy toàn là những sáo ngữ đã được đem ra xài đi xài lại trong suốt 55 qua. Người Việt đấu tranh nhất định không chịu loại bỏ những di sản đã lỗi thời như thế đi!

Trong cuốn "La maitresse servante", Jérome và Jean Tharaud có viết như sau: "Dĩ vãng xiềng xích và cột chân ta. Ta cứ tưởng rằng giải thoát nó mà chính nó lại điều khiển ta. Nó đã tạo ra sau lưng ta những bí ẩn và những huyền vi mà ta là những tù nhân của chúng". (Le passé nous enchaine et nous lie; on s'en croit libre et c'est lui qui nous commande. Il a creé dernière nous des secrets et des mistéres dont nous sommes prisonniers).

Lý do thứ tư: Người Việt hải ngoại đang theo đuổi một cuộc đấu tranh không có lãnh đạo, không có chiến lược và chiến thuật, ai muốn làm gì thì làm, đưa tới tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược hoặc quay lại đánh nhau. Ít có cuộc biểu tình "dàn chào" địch nào mà các phe biểu tình không quay lại tố nhau.

Vì không nhận ra được những chuyển biến của tình hình thế giới, không thích ứng được với hoàn cảnh mới, không dứt khoát được với dĩ vãng và thiếu lãnh đạo, đa số các tổ chức chính trị của người Việt đã tự cô lập mình trong những ốc đảo và sống bằng những hoài bảo mà Vũ Thư Hiên đã gọi là "coi ước muốn là hiện thực". Mọi biến cố chính trị xẩy ra trong cũng như ngoài nước đều được diễn dịch theo ước muốn của mình, bất chấp sự thật như thế nào. Ai không đồng ý với lối diễn dịch đó đều bị coi là tay sai Cộng Sản. Một thí dụ cụ thể: Một người thuyết trình đã cho thính giả biết năm ngoái Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế ước tính tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam là 134 tỷ Mỹ kim và lợi tức theo đầu người là 1.770 Mỹ kim/ năm. Năm nay họ tính lại tổng sản lượng quốc gia là 143 tỷ Mỹ kim và lợi tức theo đầu người là 1.850 Mỹ kim/ năm. Ông ta liền bị một thính giả chửi vào mặt: Ðó là những con số láo toét! Người trình bày trả lời rằng đó là những con số của hai cơ quan quốc tế cho vay tiền đưa ra sau khi xét credit của Hà Nội chứ không phải những con số của Việt Cộng. Ðám đông liền la lớn: Chúng nó bị Việt Cộng mua hết rồi!

Tệ hại hơn nữa, có người nhìn đâu cũng thấy cộng sản: ngôi chợ mới mở đầu phố, chương trình phát thanh nọ khởi sự góp tiếng nói, tờ báo kia đang quảng cáo ra mắt rầm rộ... đều bị gán cho là của Cộng Sản!

Tuy mắng chửi và chụp mũ mọi người, mọi tổ chức là Cộng sản, nhưng những người hô chống Cộng bao giờ cũng né tránh Anh Hai Hoa Kỳ, mặc dầu Anh Hai thường trở mặt như trở bàn tay và luôn đi đêm với Hà Nội. Làm công chức liên bang, được Anh Hai phát lương cho hàng tháng, chống Anh Hai rồi ai phát lương cho nữa mà ngồi chống Cộng?

Trên đây là một số hiện tượng đang phổ biến đã gây trở ngại rất lớn cho những sáng kiến chống Cộng mới. Richard Wagner đã nói: Chúng ta phải giữ gìn cẩn thận để khỏi lầm lẫn lòng ái quốc chân chính với cái tình cảm hẹp hòi, bè phái được tô điểm bằng danh nghĩa ái quốc... Thứ lòng ái quốc cuồng bạo và huyên náo (patriotisme raguer, tapageur) so với lòng ái quốc chân thật cũng gióng như rượu thật so với rượu giả."

Lục Du (1125 - 1210) đã từng ngồi than:
Tử khứ nguyên tri vạn sự không,
Ðãn bi bất khiến cửu châu đồng.

Nguyễn Hiến Lê dịch:
Vẫn biết chết rồi vạn sự không,
Chỉ buồn chẳng cứu được non sông.

Cũng may là trong cộng đồng người Việt tỵ nạn còn có một số người và tổ chức thức tỉnh, biết nhìn xa thấy rộng, đã tìm ra con đường khác để đấu tranh cho phù hợp với tình thế mới. Họ đang âm thầm hoạt động ở trong cũng như ngoài nước với hy vọng sẽ đem lại tự do và no ấm cho đất nước.

Bây giờ Anh Hai chỉ huấn luyện thằng con của cán bộ để thay thế thằng cha nhằm bảo vệ quyền lợi của Anh Hai. Nếu mình chỉ ngồi ra tuyên ngôn tuyên cáo, chửi đổng cộng sản... mà không biết tính xa thì không những thế hệ tới thằng "cán bộ con" sẽ cai trị thế thằng cha, mà đến thế hệ thứ ba thằng "cán bộ cháu" cũng sẽ tiếp tục cai trị thay thế thằng cán bộ ông.

Tú Gàn