Cau Xin Me

NÓI CHUYỆN "HUYỀN HỌC"
VỚI DAISETZ TEITARO SUZUKI

LM. Nguyễn Văn Tùng

V

ào khoảng cuối thập niên 50s, giới thần học gia Kitô giáo, đặc biệt là Công giáo, đã để ý đến một cuốn sách do nhà thiền học (Zen) Daisetz Teitaro Suzuki viết. Sách mang tựa đề là "Mysticism: Christian and Buddhist." Sau này sách được một tu sĩ Phật giáo dịch qua tiếng Việt thành "Huyền học: Ðạo Phật và Thiên Chúa." Tuy nhiên, cuốn sách của Suzuki đã nhanh chóng bị quyên lãng vì không xử dụng tài liệu chính xác và thiếu tính cách khách quan. Nhưng gần đây lại có người nhắc đến quyển sách này nên để tạo dịp cho các Kitô hữu tìm hiểu thêm vấn đề, chúng tôi xin được trình bày như sau:

Thế nào là "Mysticism" theo ý nghĩa Công giáo?

Chữ "Mysticism" đã được vị tu sĩ Phật giáo nói trên dịch thành "Huyền học," còn các dịch giả bên Công giáo đã dùng đến nhiều chữ như: bí nhiệm học, nhiệm học, thiêng liêng học, huyền nhiệm học, thần bí học... Theo từ điển của ông Nguyễn văn Khôn, thì chữ này được dịch là "thuyết thần bí." Từ điển Webster's New Collegiate giải thích chữ này là: "Kinh nghiệm của sự kết hợp "thiêng liêng" (mystical) hay sự kết hợp trực tiếp với thực tại tối hậu đã được các nhà "thần bí" (mystics) trình bày." Ý nghĩa thứ hai: "Niềm tin vào sự thấu hiểu trực tiếp về Thiên Chúa, về sự thựïc tinh thần, hay về thực tại tối hậu có thể đạt được qua kinh nghiệm khách quan như trực giác."

Theo bộ "Catholic Encyclopedia" (www.newadvent.org/cathen/) thì "Mysticism là một khuynh hướng hay ước muốn của một nhân linh (linh hồn của con người) về sự kết hợp mật thiết với Ðấng Thiêng Liêng; hoặc là một hệ thống nảy sinh từ khuynh hướng hay ước muốn đó."

"Là một hệ thống triết học, Mysticism được kể như cứu cánh của triết học sự kết hợp trực tiếp giữa nhân linh với Ðấng Thiêng Liêng qua sự suy niệm và yêu thương; và những nỗ lực nhằm xác định những diễn tiến và phương tiện đưa đến cứu cánh đó. Sự suy niệm này, theo Mysticism, không chỉ căn cứ vào một tri thức tương đồng với Ðấng Hằng Sống, nhưng như một trực giác trực tiếp và ngay tức khắc của Ðấng Hằng Sống."

Theo lý thuyết Công giáo, người ta có thể tóm tắt rằng "Mysticism là ước muốn, của một nhân linh, được kết hợp yêu thương với Thiên Chúa và cảm nghiệm được Ngài." Ðể có một từ tương đối phổ quát, xin đề nghị chữ Mysticism được dịch thành "huyền nhiệm học."

Meister Eckhart, nguồn tài liệu của Suzuki

Trước hết, cần xác định rằng đã có những nhà "huyền nhiệm" (mystics), những người có kinh nghiệm hợp nhất yêu thương và cảm nghiệm được Thiên Chúa. Ðồng thời cũng có những người được gọi là "thần học gia về huyền nhiệm" (mystical theologians.) Một huyền nhiệm gia có thể cũng là thần học gia về huyền nhiệm học, nhưng nhiều nhà thần học về huyền nhiệm đã không phải là huyền nhiệm gia.

Trong lịch sử Công giáo, đã có hàng trăm những vị này, nhưng D. T. Suzuki chỉ chọn có một người làm tiêu biểu cho cả Thiên Chúa giáo để viết quyển sách của ông, đó là Meister Eckhart! Vì vậy trước tiên người ta cần tìm hiểu Eckhart là ai?

Theo cuốn "Một Tuyển Tập về Huyền Nhiệm Học Kitô Giáo" (An Anthology of Christian Mysticism, Harvey D. Egan, S.J., Liturgical Press, Collegeville, Minnesota, 1991, pp. 292-302) thì Eckhart sinh năm 1260 ở làng Thuringian, thuộc nước Ðức ngày nay. Ông gia nhập dòng Ða Minh khi mới 15 tuổi. Ðược gửi đi học ở đại học Paris và có bằng Master, vì vậy người đời đã gọi ông là Thầy (Meister.) Ông cũng được thụ phong linh mục.

Eckhart đã viết nhiều tài liệu thần học sâu sắc, đăïc biệt về huyền nhiệm học, nhưng cách dùng chữ của ông đã không chuẩn xác, đôi khi mạnh bạo đến quá lố, khiến độc giả và thính giả thường khi hiểu lầm. Ðã không có dữ kiện nào chứng tỏ ông là một nhà huyền nhiệm. Ông chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền triết và thần học kinh viện (Scholasticism), cũng như Tân-Platonism. Những đề tài quan trọng nhất của Eckhart là: "Cách hiện hữu của một thụ tạo trong 'cung lòng' (womb) thánh trước khi nó được thực sự tạo thành." Trước khi được tạo thành, "Thụ tạo là một 'hữu thể tinh tuyền' (pure being) kết hợp sâu xa với Chúa (không phải là 'chúa' do con người tạo ra.)" Và "Thụ tạo không thể được tạo thành tách lìa khỏi sự hiện hữu linh thiêng của nó."

Trong đề tài "Sự 'nẩy sinh' (spark) của linh hồn" Eckhart đã viết: "Người ta phải trút bỏ tất cả mọi sự, ngay - cả chúa (do con người tạo ra). Vì Chúa (thật) đã quá nghèo để có thể như chúa (do con người tạo ra)" Các nhà phê bình đã cho tưởng này của Eckhart là "bất nhập thể" (non-incarnational), từ bỏ thế trần, và tương quan "thiên-nhân tính" chỉ là thuần túy nội tại. Với Eckhart, chẳng có gì đáng kể ngoại trừ tương quan nội tại này. Ðiều đó đã khơi nguồn cho thuyết thinh lặng (quietism) cho rằng Chúa "muốn tác động trong chúng ta mà không cần chúng ta"; khơi nguồn cho sự tự hủy diệt (self-annihilation), theo đó, đè nén tất cả những hoạt động nội tại, hoàn toàn thụ động.

Eckhart còn đề nghị ba con đường tiến tới Chúa: Thứ nhất, tìm thấy Chúa trong mọi sự. Thứ hai, con đường không có đường (pathless path) vượt qua chính mình và mọi sự, vượt qua lòng muốn và tư tưởng. Thứ ba, là một con đường và đồng thời cũng là ở nhà, vì người ta theo Chúa là 'Ðường'."

Ông đã bị những nhà thần học khác kết án là kẻ "đa thần" (pantheist), kẻ "tịnh khẩu" (quietist), nhà huyền nhiệm học hoàn toàn "nội tại" (inwardness), nhà huyền nhiệm học chỉ cho thế giới hiện tại, kẻ thệ phản trước phong trào thệ phản, cha già của Ðức quốc chủ nghĩa, ông thầy Zen thời trung cổ, kẻ khơi nguồn tư tưởng cho "quốc xã" (Nazi), tên Marxist đầu tiên, con cưng của những kẻ cho rằng một nhà huyền học nhất định phải là một "eikonoklastes" (kẻ chống lại những tôn giáo có tổ chức.)

Năm 1326, Tổng Giám Mục thành Cologne đã lên án Eckhart là "rối đạo" (heresy) qua hai danh sách những đề xướng lấy ra từ các bài viết của ông. Ông đã phản ứng mạnh mẽ qua cuốn "kháng án" (Rechtfertigungsschrift), rồi đưa vấn đề lên tới cả tòa thánh, lúc bấy giờ đang đặt ở Avignon, nhưng ông đã qua đời vào năm 1327. Mặc dù ông đã qua đời, nhưng Ðức Giáo Hoàng Gioan 22, ngày 27 tháng 3, năm 1329, vẫn lên án, cho là lạc đạo những đề xướng của ông theo "ý nghĩa hiển hiện" của chúng! Như vậy, Eckhart đã trình bày một huyền nhiệm học sai lầm, hay lạc đạo (pseudo-Mysticism.)

Tại sao Suziki đã chọn Eckhart?

Ngay trong lời tựa ở cuốn sách của mình (Mysticism, Christian and Buddhist - The Eastern and Western Way, D. T. Suzuki, Harper & Row, New York, 1957), Suzuki đã nói rõ rằng ông không có tham vọng biến nó thành "một nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về chủ đề này." Ông đã chọn Eckhart như một "đại diện cho huyền nhiệm học Kitô giáo" vì ông này "đã có những tư tưởng rất gần với Thiền (Zen) và Thần (Shin)."

Zen là "một chi nhánh của tông phái Phật giáo Mahayana ở Nhật Bản nhằm vào sự giác ngộ (enlightenment) bởi trực giác qua việc suy niệm" (Catholic Enc.). Zen còn được gọi là Jiriki, trường phái "tự tạo sức mạnh" (self-power.) Shin (Thần đạo) cũng được gọi là Tariki, hay trường phái dùng "sức mạnh khác."

Suzuki cho rằng "Eckhart, Thiền và Thần có thể cùng cho vào một nhóm thuộc về một đại trường phái của huyền nhiệm học." Ông sẽ cố trình bày về đề nghị này, nhưng vẫn phải công nhận rằng sự tương hợp đó "không luôn luôn hiển nhiên trong cuốn sách này." Ngoài ra, Suziki còn thêm, ông hi vọng sự trình bày của ông sẽ gợi hứng cho những học giả Tây Phương để nghiên cứu về chủ đề này."(ibid.)

Những sai lầm của Suzuki

Hãy tạm cho là Suzuki có thiện chí, muốn tìm ra những tương đồng trong tư tưởng giữa Ðông và Tây Phương, nhưng trước khi chọn Eckhart, "như một nhân vật tiêu biểu cho huyền nhiệm học của Kitô giáo," chắc chắn Suzuki phải biết những tưởng của ông này đã bị giáo hội Công giáo lên án là sai lạc, không đúng với giáo lý của đạo. Như vậy Suzuki không thể cho tựa đề cuốn sách ngay cả đối với những chữ như "huyền nhiệm học Công giáo," nói chi đến toàn thể "Kitô giáo," bao gồm nhiều giáo hội khác như Tin Lành và Chính Thống?

Nếu nói rằng Suzuki phạm lỗi quan trọng nêu trên vì thiếu nghiên cứu về Kitô giáo, điều đó vẫn không thỏa mãn người đọc vì ông đã mời cả một "ủy ban chuẩn chữa theo viễn cảnh thế giới" (Board of Editors of World Perspectives) trong đó có nhà thần học Công giáo Karl Rahner, S.J. (dòng Tên) để chuẩn xét cho ông. Chắc chắn Rahner đã "thông báo" cho ông biết về điểm kỹ thuật quan trọng này.

Những điều Suziki trình bày trong cuốn sách của ông đã không đi ra ngoài định lệ thông thường: Một người làm sự so sánh về tư tưởng của tôn giáo mình với một tôn giáo khác luôn luôn với mục đích trình bày cái "ưu việt" của tôn giáo mình. Chính vì thế, ở trang 9, Suzuki đã viết: "Phật giáo có thể được coi như khoa học và hợp lý hơn Kitô giáo đã chất chứa nặng nề đủ loại gia sản huyền hoặc (mythological paraphernalia)"

Suzuki còn đi xa hơn nữa để bênh vực Eckhart (chứng tỏ ông đã biết việc Eckhart bị lên án) và cho rằng những người kết án Eckhart là "một nhóm diễn dịch ngu dốt (ignorant) với tà ý kết án ông là lạc đạo." (p. 12). Ở đây, Suziki đã đi quá xa và trở thành tự tôn quá đáng, một điều tối kỵ đối với những học giả trong bất cứ tôn giáo nào. Ông ta đã cho cả giáo hội Công giáo là ngu dốt và không hiểu nổi Eckhart. Vị giáo chủ của giáo hội Công giáo (ÐGH) cùng với ủy ban thần học chuyên môn đã nghiên cứu những tư tưởng của Eckhart cả ba năm trời trước khi ra phán quyết trên, chứng tỏ họ đã không vội vã và quyết định hồ đồ. Và nếu họ sai, thì giáo hội ngày nay đã thay đổi, nhưng việc đó đã không xảy ra, chứng tỏ phán quyết đó vẫn hiệu lực. Suzuki, cũng như bất cứ ai trong hiện tại, muốn đối thoại nghiêm chỉnh với giáo hội Công giáo đều phải chấp nhận thực tại đó.

Thử hỏi, nếu có một Kitô hữu hay một tu sĩ Công giáo xử dụng những bản văn của một Phật tử hay một tăng, ni đã bị cho là sai lạc đối với chính pháp; rồi đối chiếu, lý luận tầm phào để đi đến chê bai từ Tăng Thống đến tăng, ni và đả phá Phật giáo; thì những anh chị em Phật tử sẽ nghĩ thế nào về người đó?

Nếu Suzuki thực sự có thiện tâm, thì ông đã đặt tên cho cuốn sách của mình là: "Huyền nhiệm học của một cựu giáo sĩ Kitô và Phật giáo" Hay chính xác hơn, cuốn sách đó phải mang tựa đề: "Huyền nhiệm học của một người Công giáo lạc đạo và Thiền học trong tông phái Mahayana của Phật giáo ở Nhật Bản."