|
âu hỏi đầu tiên mà con người muốn tìm hiểu là: Con người là gì? Nhưng do suy luận của họ, con người luôn là một bí nhiệm cho chính mình. Giáo Hội Công giáo cũng chấp nhận đó là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm này được soi sáng nhờ mầu nhiệm "Ngôi Lời nhập thể", đủ để những ai có thành tâm thiện chí, muốn sống đời mình để đạt tới sự hoàn hảo, có thể nhận ra một con đường để đạt tới. Chắc rằng: Chúa Giêsu Kitô là "đường, là sự thật và sự sống", nhưng để nhận biết chân lý này thì phải tìm hiểu trong Thánh Kinh.
I. Trong Cựu Ước.
Không những trong sách Sáng Thế Ký mà cả Cựu Ước, cũng không có một định nghĩa nào về con người. Nói như thế không có nghĩa rằng Cựu Ước không đưa ra nhiều từ khác nhau để chỉ sự đa dạng trong hiện hữu của con người.
Ðiều đầu tiên là loài người có đàn ông và đàn bà. Sách Sáng Thế ký không nói đến đàn ông là gì và đàn bà là gì. Ta chỉ biết Thiên Chúa đã dựng nên họ để bổ khuyết cho nhau, và quan hệ của họ với Thiên Chúa và với nhau như thế nào thôi. Còn Ađam và Evà vừa trông thấy nhau thì họ đã nhận biết ai là đàn ông, ai là đàn bà rồi.
Là người, đàn ông hay đàn bà, đều được Cựu Ước gán cho một số phẩm chất chung sau đây:
- (bããr): từ này có nghĩa trước tiên là "thịt", đối lập với "xương". Nhưng trong sử dụng để nói về con người thì từ này có thể chỉ "xác thịt", "thân thể của một người". Nó còn có thể ám chỉ quan hệ máu mủ của các người trong một gia đình; rộng hơn nữa, từ này còn có thể nói lên liên lạc giữa người với người. Trong xu hướng cảm nghĩ khi nói lên từ trên, Ez (11,19; 26,26) đã nói đến trái tim bằng thịt để chỉ một trái tim có tình cảm, đối lập với trái tim bằng đá là trái tim khô khan, cằn cõi. Trong ca vịnh (65,3...), trái tim bằng thịt lại chỉ một trái tim yếu đuối làm cho người ta dễ sa vào tội lỗi.
- (nefés): từ này người Roma dịch là "anima" và chúng ta là "hồn". Theo Sáng Thế ký thì từ này chỉ con người thiếu sức sống. Nhiều tiên tri coi từ này chỉ nơi xuất phát tâm tình và xúc cảm của con người (Es 23,9; Gb 19,20. 30,25). ÔngWolff tóm lược ý nghĩa của từ này là "con người có nhiều thiếu thốn". Vì thế họ cảm thấy phải theo đuổi một cái gì hơn lên.
- (Rûah): mà ta có thể dịch là "thần khí". Từ này ít áp dụng trong Cựu Ước vào con người. Thường nó chỉ được áp dụng cho Thiên Chúa. Khi áp dụng vào con người, thì nó có nghĩa là mở rộng vào thiêng liêng, xu hướng về Thiên Chúa, vì ích lợi của dân Người. Ðó là tình trạng tâm lý đã được Thiên Chúa khơi dậy (Prov 15,4). Nó hoàn toàn thuộc sức mạnh của ý chí và đối lập với "xác thịt".
- (lèb): mà ta có thể dịch là "trái tim". Ngoài ý nghĩa chính này, còn có ý nghĩa là điều bí ẩn nơi con người chỉ có Thiên Chúa mới biết được mà thôi (1Sam 1,16; Prv 15,11...) Con tim là nơi ở của các tâm tình, ước vọng.
Nhìn vào ý nghĩa phức tạp mà các từ trong Cựu Ước đã sử dụng đển nói về sắc thái của con người, thật khó mà suy luận ra một định nghĩa về họ.
Bản dịch (LXX) của sách Sapientia, vì chịu ảnh hưởng của văn hoá Hy Lạp, nhận con người có hồn và xác, và hồn như bị giam hãm trong xác, phải thóat ra khỏi xác thì mới được tự do, nên có nơi trong sách ấy xem ra coi hồn và xác là hai thực tại đối lập. Dẫu sao, cả trong bản dịch ấy, cũng luôn công nhận rằng khi con người có đuợc sự hòan thiện thì đó là do tác động của Thần Khí Thiên Chúa (Sap. 9,17).
Như trên, ta có thể rút ra từ Cựu Ước một soi sáng cho nhân loại học. Nhân lọai học ấy ở căn bản có tính siêu nhiên, vì con người luôn lệ thuộc vào hành động trực tiếp của Thiên Chúa trong hiện hữu của mình. Nói khác đi, con người ở phương diện nào của đời họ cũng vẫn chỉ hiện hữu trong quyền năng siêu việt của Thiên Chúa. Vì thế, họ luôn duy nhất trong sự đa dạng nhờ hiện hữu siêu nhiên ấy.
II. Trong Tân Ước.
Từ (nefès) dịch không sát nghĩa bằng từ "anima" (hồn) xem ra phải dịch trong các Phúc Âm bằng từ "mạng sống". Từ này nhằm vào toàn thể con người, chứ không ám chỉ một phần mà thôi, là hồn, chứ không có xác. Trong câu Mc 8,35, bản dịch Toà Tổng Giám Mục Tp. HCM năm 1994 đã dịch là: "Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy". Nếu chỉ hiểu (nefès) là "linh hồn" thì lời trên không có ý nghĩa đầy đủ về đối lập giữa mạng sống đời này và mạng sống đời đời như Chúa muốn nói.
Trong Lc 12,4-5, thì tác giả chỉ phân biệt xác với hồn trong giờ con người chết. Quyền thế đời này có thể giết chết con người và chia lìa thân xác họ với linh hồn, nhưng con người về đời sau, sẽ lại là một khi Thiên Chúa phạt trong hỏa ngục.
Thánh Matthêu cũng nhận có xác và hồn (6,25), nhưng các từ ấy được nhắc đến một cách song hành để ám chỉ tính duy nhất của con người, xác không đối lập hay lọai bỏ hồn, nhưng làm nên một con người đầy đủ (6,22-23).
Còn "Thần Khí" (ruah) để bên "xác thịt" như trong Mc 14,38; Mt 26,41 và Gioan 5,66 thì "Thần Khí" là sức mạnh của Thiên Chúa ban cho con người; và "xác thịt" chỉ sự yếu đuối của con người. Sự yếu đuối ấy đã được Thiên Chúa phù trợ và trở nên mạnh mẽ nhờ có thần khí Người ban.
Có một số nhà thần học chú giải Kinh Thánh nghĩ rằng trong câu: "Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an thánh hóa tòan diện con người anh em để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em được gìn giữ vẹn tòan trong ngày Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm" (1Th 5,23) thánh Phaolô có ý xác định ba phần làm nên con người. Nhưng đây là nơi độc nhất ông nhắc đến ba phần ấy, nên ta phải coi việc nhắc đến ba yếu tố trên chỉ là một cách để diễn tả sự phức tạp nơi con người mà thôi. Từ "tâm hồn" ở Rm 16,4 cũng có nghĩa là "mạng sống" và ở 2Cor 1,23 là "bản ngã". Ngòai ra cũng nên lưu ý rằng ở thánh Phaolô "tâm lý" (payché) và "thần trí" cũng đối lập như xác thịt và thần trí (1Cor 16,14). Sau hết, ở thánh Phaolô, "xác thịt" ngòai ý nghĩa là thân xác con người, còn thêm ý nghĩa là thân thể Ðức Kitô trong đó mọi tín hữu đều thuộc về một "nhiệm thể" (Rm 12,4; 1Cor 12,12). Nhiệm thể ấy có nhiều phần tử độc lập, nhưng được nên một trong Bí tích Thánh Thể (1Cor 10,16-19). Chúng tôi nghĩ rằng: cái từ thánh Phaolô diễn tả về con người trên cho chúng ta một ánh sáng sâu sắc về thần học. Ông không nói về xác thịt và thần trí, như đối lập nhau nhưng ông điều hòa ý nghĩa đối lập nhau của hai từ ấy và cho thấy sự duy nhất của chúng trong một người hòan hảo. "Xác thịt" luôn chỉ có nghĩa là con người đã bị tàn phai và phải chết sau tội phạm ở vườn địa đàng. Vì thế người ta nói: mọi "xác thịt" nghĩa là "mọi người" (1Cor 1,29). Như vậy, với thánh Phaolô, "xác thịt" không những chỉ một người bị sức mạnh tội lỗi làm cho yếu đuối, nhưng còn được "thần trí" của Thiên Chúa luôn đến hỗ trợ để biến đổi cho nên mới.
Còn về từ "thần trí", trước hết ta phải nhớ rằng: từ này trong các Phúc Âm cũng như trong các thư của thánh Phaolô đều ám chỉ "Thần Khí" của Thiên Chúa và của Ðức Kitô, là sức mạnh mà Chúa Giêsu sống lại đã đem đến cho lòai người để họ có thể ăn năm đổi mới. Khi nói về con người, "thần trí" có nguyên nhân từ "Thần Khí" của Thiên Chúa. Con người không làm chủ, nhưng chỉ đón nhận mà thôi. Ðó là khả năng siêu nhiên nhờ đó mà lòai người liên lạc được với Thiên Chúa. Nói cách khác, con người không có "thần trí" từ sự hiện hữu đến khả năng thi hành. Với "thần trí" thì con người mới có đời sống siêu nhiên và mới là "hình ảnh" của Thiên Chúa.
Ðể kết luận ta có thể lược tóm như sau:
Cựu Ước cho ta thấy con người chỉ có thể lấy lại "hình ảnh" Thiên Chúa mà họ đã đánh mất vì tội tổ tông nhờ một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Hồng ân ấy, Thiên Chúa, vì trung thành và yêu thương, đã thề hứa trước là với các tổ phụ, sau là với dân Israel. Tân Ước cho ta thấy, để hòan thành thề ước trên, thì khi thời gian thuận tiện Thiên Chúa đã cho Con Một mình sinh xuống trần gian bởi lòng Ðức Trinh Nữ Maria để làm người mà cứu chuộc nhân lọai. Ðặc biệt, thánh Phaolô nêu cao con người là "hình ảnh" Thiên Chúa. Ðể được lành thánh như Người, họ phải noi gương Chúa Giêsu và vâng theo lời Người giảng dạy. Họ đã ra mù quáng vì tội lỗi và yếu đuối không tự mình sống theo tám mối phúc thật được. Nhưng Chúa Giêsu đã hứa ban cho họ Chúa Thánh Thần (1Cor 15,44-49). Kitô học bảo đảm cho ta rằng Ðức Kitô đã sống lại sau giờ chết, nên lòai người cũng sẽ sống lại sau giờ chết (2Cor 5,1-10). Vì thế, đón nhận ơn giải thóat là đón nhận sự phục sinh mà Thiên Chúa làm người đã đem lại cho họ. Chẳng có phạm vi nào của con người, kể cả xác thịt, mà lại không chia sẻ vào hồng ân này của Thiên Chúa.
Sự duy nhất căn bản của con người là cón quan hệ siêu nhiên với Thiên Chúa trong Ðức Kitô. Quan hệ này làm cho họ siêu việt trần gian tuy ở trong thế gian. Ðó chính là nguồn phẩm giá cao quí phân biệt họ với các tạo vật khác trên trần gian.
Lm Giuse Thân Văn Tường
|