|
agdi Allam, một người theo Hồi Giáo, một nhà nghiên cứu văn hóa, một nhà báo và là Phó Giám Đốc của tờ báo nỗi tiếng ở Ý là tờ Il Corriere della Sera, đã trở lại đạo Công Giáo và được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI rửa tội vào đêm Vọng Phục Sinh 23.3.2008 tại Roma vừa qua.
Câu chuyện này đã gây ra những phản ứng sôi nổi trong khối Hồi Giáo. Ông Yaha Sergio Yahe Pallavicini, Phó Chủ Tịch Liên Đoàn Hồi Giáo Italia nói với thông tấn xã Reuters:
“Điều làm tôi kinh ngạc là tại sao một nhân vật cao nhất của Tòa Thánh Vatican lại đứng ra cử hành việc cải đạo này”. Theo ông, "Allam lẽ ra nên kín đáo chọn một linh mục tại Viterbo, nơi ông ta sống để được rửa tội". Việc "bội giáo công khai" này sẽ gây tức giận trong thế giới Hồi Giáo.
Mới đây, Website memritv.org của nhóm Hồi Giáo Hamas, đã công bố một cuốn băng ghi lại hình và lời tuyên bố của Giáo Sĩ Yunis Al-Astal vào hôm thứ sáu 11.4.2008 dưới đầu đề “Chúng tôi sẽ chinh phục Roma, và từ đó tiếp tục chinh phục Nam Bắc Mỹ và Đông Âu” (We Will Conquer Rome, and from There Continue to Conquer the Two Americas and Eastern Europe). Cuốn băng này cũng được phát trên đài truyền hình Al-Aqsa của Hamas. Trong cuốn băng đó Giáo Sĩ Yunis Al-Astal, một thành viên của Hamas, đồng thời là một thành viên Quốc Hội Palestine, đã tuyên bố:
“Rất chóng, theo thánh ý của Allah, Rôma sẽ bị chinh phục như thành Constantinople theo lời tiên đoán của tiên tri Muhammad. Ngày nay, Rôma là thủ đô của người Công Giáo, hay thủ đô Thập Tự Quân, là nơi đã công bố sự thù nghịch của nó đối với Hồi Giáo”.
Yunis al-Astal tiên đoán Rôma sẽ là “một vị trí tiền phương cho những cuộc chinh phục Hồi Giáo, và cuộc chinh phục này sẽ nhanh chóng lan tràn khắp Âu Châu, sau đó đến lượt Bắc Mỹ và Nam Mỹ, ngay cả Đông Âu nữa”.
Vậy, chúng ta thử tìm hiểu xem khi chính mình đích thân đứng ra rửa tôi cho Magdi Allam, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI muốn gởi cho thế giới Hồi Giáo thông điệp nào?
LUẬT CẤM CẢI ĐẠO
Sở dĩ có những phản ứng như trên, vì theo Luật Sharia của Hồi Giáo (Islamic Sharia Law), cải từ Hồi Giáo qua tôn giáo khác được coi như bỏ đạo, một tội phạm có thể bị tử hình nếu bị cáo không công khai từ bỏ sự cải đạo (conversion by a Muslim to another religion is considered apostasy, a crime punishable by death if the accused does not recant).
Tại Maroc, ai bỏ đạo Hồi để theo đạo khác sẽ bị phạt tử hình. Luật Iran cũng qui định hình phạt tử hình đối với ai bỏ đạo Hồi để theo đạo Thiên Chúa Giáo. Luật của Saudi Arabia khẳng định: Không thể có hai tôn giáo trên bán đảo A-rập. Do đó, việc thiết lập bất cứ một tôn giáo nào khác ngoài đạo Hồi đều bị cấm chỉ. Tại Sudan, trong thập niên 1990, có hơn 2 triệu người da đen theo Thiên Chúa Giáo đã bị sát hại.
Để các tổ chức truyền giáo đừng khuyến dụ người Hồi Giáo cải đạo, các quốc gia Hồi Giáo đã ban hành luật cấm dụ dỗ người Hồi Giáo bỏ đạo. Thí dụ điều 220 của Hình Luật Ma Rốc quy định rằng “bất cứ ai xử dụng các phương tiện khác nhau để dụ dỗ hay làm lung lạc lòng tin của một tín hữu Hồi Giáo, hoặc khiến cho họ thay đổi tôn giáo”, đều có thể bị kết án từ 6 tháng cho tới 3 năm tù. Tháng 3 năm 2006 chính quyền Algerie đã ban hành Sắc Lệnh nhằm loại trừ và trừng phạt hiện tượng chiêu dụ tín đồ Hồi Giáo cải đạo. Điều 11 của Sắc Lệnh này quy định rằng những ai có ý lôi kéo một tín hữu Hồi Giáo theo tôn giáo khác qua báo chí, tài liệu, sách vở, phim ảnh và các tài liệu giảng dạy khác, có thể bị phạt 5 năm tù và 500 ngàn dina.
Ấn Độ cũng có luật cấm cải đạo, tuy không gắt gao bằng luật Hồi Giáo. Mục tiêu của những đạo luật này là để ngăn chận khoảng 250 triệu người cùng đinh Dalit bỏ Ấn Giáo (Hindu) qua Thiên Chúa Giáo hay các tôn giáo khác để khỏi làm nô lệ cho những đảng cấp cao ở Ấn Độ. Hiện nay, 6 tiểu bang sau đây đã ban hành luật cấm cải đạo: Arunachal Pradesh, Madhya Pradesh, Orissa, Tamil Nadu, Gujarat và Chhattisgarh.
Ở Sri Lanka, một nước có 70% “Phật Giáo hiền hòa”, một số sư sải cũng bắt chước Ấn Giáo, đệ trình dự luật cấm những người theo đạo Phật cải sang tôn giáo khác, và cấm các hình thức truyền giáo, nhưng chưa được Quốc Hội biểu quyết. Các tổ chức Phật Giáo cũng thường tấn công các cơ sở Thiên Giáo.
Dĩ nhiên, những quy định như trên đều trái với những điều khoản của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ngày 10.2.1948. Điều 18 của bản tuyên ngôn này quy định: “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.”
Điều nghịch lý là khi đến các nước khác, nhất là các nước Tây Phương, những người theo Hồi Giáo, Ấn Giáo và Phật Giáo đều được tự do truyền đạo của họ, nhưng họ lại muốn cấm các tôn giáo khác không được truyền đạo vào nước họ! Theo Liên Minh Hồi Giáo (UCIDE) hiện nay tại Tây Ban Nha, số người theo Hồi Giáo đã lên đến 1.130.000 người, tức là 2.5% dân số. Đa số người Hồi Giáo tại Tây Ban Nha là người di dân đến từ các nước Hồi Giáo, nhưng trong đó cũng có khoảng 35.000 người là người Tây Ban Nha chính cống.
Mặc dầu có những sự cấm đoán gắt gao như trên, những người cải đạo từ Hồi Giáo và Ấn Giáo sang các tôn giáo khác ngày càng đông. Thí dụ tại Pháp, trong những năm gần đây, mỗi năm có khoảng 150 đến 200 người Hồi Giáo cải sang Thiên Chúa Giáo.
Tại vùng bắc Phi Châu, người ta ghi nhận hiện tượng càng ngày càng có nhiều tín hữu Hồi giáo theo Thiên Chúa giáo. Đây là một hiện tượng xảy ra trong âm thầm, nhưng đều đặn. Dĩ nhiên là không có con số chính xác nào, vì luật lệ khắt khe của Hồi giáo cấm bỏ đạo, và nhất là vì lý do an ninh: Ai bỏ đạo có thể bị sát hại.
Theo kết qủa một cuộc thăm dò mới đây, 60% các tín hữu Thiên Chúa giáo mới người Marốc đã xin theo Thiên Chúa giáo nhờ các tiếp xúc cá nhân; 30% qua truyền hình và Internet và 10% là do các bài giảng của các thừa sai Kitô giáo. Sự kiện này cho thấy người Hồi giáo theo Thiên Chúa giáo vì chính họ suy tư tìm hiểu, chứ không phải vì bị các thừa sai chiêu dụ. Anh Mohammed, 30 tuổi sống tại Casablanca, cho biết anh và các người Hồi giáo theo Thiên Chúa giáo sống kín đáo, vì đám đông dân chúng không thể hiểu được rằng một người A-rập lại có thể là tín hữu Thiên Chúa giáo.
Tại sao ký giả Magdi Allam và nhiều người khác đã vượt qua những khó khăn kinh khủng, kể cả án tử hình, để cải đạo? Thế giới đang làm gì để chống lại các luật lệ quái đản nói trên của Hồi Giáo?
Trước khi trả lời những câu hỏi này, chúng tôi xin trình bày qua tiểu sử của ký giá Magdi Allam và những lời tâm tình của ông.
VÀI NÉT VỀ MAGDI ALLAM
Magdi Allam là người Ai-cập, sinh ngày 22.4.1952. Ông theo Hồi Giáo do cha mẹ ông. Ông được gởi đến học một trường Thiên Chúa giáo ở Ai Cập, tại đây ông được học văn hóa và văn minh của Tây phương. Năm 30 tuổi, ông rời Ai-cập và đến Ý học ở Đại Học La Sapienza University ở Rome và tốt nghiệp về xã hội học. Sau thời gian làm việc cho một vài tờ báo ở Ý, ông được chọn làm Phó Giám Đốc của tờ Corriere della Sera, một tờ báo hàng đầu ở Ý. Ông thường viết những bài phê bình nhóm Hồi Giáo trọng căn (Islamic fundamentalism) và những bài liên quan đến văn hóa Tây phương và văn hóa của thế giới Hồi giáo.
Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông là cuốn “In Vincere la paura” (Chiến thắng nỗi sợ) xuất bản năm 2005, trong đó ông tự thuật về chính cuộc đời mình như một ký giả có cảnh sát bảo vệ thường xuyên khi quân Hamas ráo riết tìm giết ông vì ông không ngừng chỉ trích những người Palestine ôm bom tự sát. Ông cũng là một trong những người Hồi Giáo công khai lên tiếng bênh vực Đức Giáo Hoàng trong vụ diễn từ của ngài tại Đại Học Regensburg ở Đức năm 2006.
Những tác phẩm của Allam được công bố gần đây gồm có: “Diario dall'Islam” (Nhật Ký Hồi Giáo), “Bin Laden in Italia. Viaggio nell'Islam Radicale” (Bin Laden ở Ý. Hành trình qua Hồi Giáo quá khích), “Jihad in Italia. Viaggio nell'Islam Radicale” (Thánh Chiến Hồi Giáo ở Ý. Hành trình qua Hồi Giáo quá khích), “Saddam. Storia Segreta di un Dittatore” (Saddam. Bí Sử của nhà độc tài) “Kamikaze made in Europe” (Biệt đội Thần Phong - Kamikaze - sản xuất tại Âu Châu).
Nhiều người Hồi Giáo tại Ai cập đã chú ý đến Allam vì những tác phẩm giới thiệu văn hóa Tây phương và văn hóa Hồi Giáo của ông. Một số người Hồi Giáo xem Allam là “một nhịp cầu hiểu biết” giữa Thiên Chúa giáo và Hồi Giáo. Allam đã từng được giải Dan David Prize vì những cố gắng làm tăng sự hiểu biết giữa Hồi Giáo và Tây phương.
TÂM TÌNH CỦA MADGI ALLA
Trước khi đươc chịu phép rửa tội, Madgi Allam đã gởi cho Giám Đốc tờ Il Corriere della Sera (Người đưa tin buổi chiều) một lá thư nói lên tâm tình của mình. Lá thư đó đã được đăng trên báo này ngày lễ Phục Sinh 23.3.2008. Vì bức tâm thư này khá dài, chúng tôi chỉ đăng lại những đoạn chính do Linh mục Trần Bình Thái dịch ra tiếng Việt. Mở đầu, Madgi Alla nói:
“Kinh thưa ngài giám đốc,
“Điều mà tôi muốn nói với ngài đây liên quan đến sự chọn lựa đức tin tôn giáo và cuộc sống cá nhân của tôi, điều mà tôi không muốn làm ảnh hưởng đến tờ báo Il Corriere della Sera, nơi tôi hân hạnh được làm việc từ 2003 trong tư cách phó giám đốc. Tôi viết cho ngài với tư cách là nhân vật chính của một biến cố. Ngày hôm qua tôi đã từ bỏ đức tin Hồi giáo để cải đạo sang Công giáo. Như thế, nhờ ơn Chúa, một cuộc thai nghén từ lâu được nuôi dưỡng trong đau khổ và niềm vui, giữa suy tư sâu xa và thầm kín với sự bày tỏ ý thức công khai, nay đã trổ sinh trái chín. Tôi đặc biệt cám ơn Đức Thánh Cha Bebedict XVI đã trao ban những Bí tích khai tâm Thiên Chúa giáo: Rửa tội, Thêm Sức va Thánh Thể cho tôi trong đền thờ Thánh Peter trong lễ trọng Vọng Phục Sinh. Và tôi đã nhận một tên thánh rất là đơn sơ và rõ ràng: “Cristiano” (người Kitô hữu)...”
Ở phần “Điểm cập bến”, Tác giả viết:
“Cuộc cải đạo sang Công giáo của tôi là điểm cập bến của một cuộc suy tư nội tâm sâu xa và lâu dài mà tôi không thể tránh né. Bởi vì đã 5 năm rồi tôi bị bó buộc trong một cuộc sống được bảo hộ an ninh, với bảo vệ ở nhà và cảnh sát hộ tống trong mọi di chuyển, do những đe dọa và những án tử hình dành cho tôi từ phía nhưng người Hồi giáo quá khích và khủng bố tại nước Ý cũng như hải ngoại. Tôi đã phải tự vấn mình về thái độ của những người đã công khai phát hành fatwe, về những phản ứng pháp lý Hồi giáo tố cáo tôi - một người Hồi giáo - là “kẻ thù của Hồi giáo”, là “giả hình, là Kitô hữu copto giả dạng Hồi giáo để gây hại cho Hồi giáo”, là “tên dối trá và kẻ bôi nhọ đạo Hồi”, để rồi kết án tử hình tôi. Tôi tự hỏi tại sao tôi, một người đấu tranh không mỏi mệt và cách xác tín cho một “Hồi giáo ôn hòa”, chấp nhận làm người tiên phong đương đầu với những tố cáo của Hồi giáo cực đoan và khủng bố, cuối cùng lại bị kết án tử hình nhân danh Hồi giáo trên cơ sở hợp pháp hóa của Kinh Coran?...”
Trong phần “Sự chọn lựa và những đe dọa”, tác giả tâm sự:
“Thưa ngài giám đốc, ngài đã hỏi tôi có sợ bị mất mạng không, vì ngài biết rằng việc cải đạo sang Thiên Chúa giáo chắc chắn sẽ gây cho tôi nhiều phiền phức và thậm chí án tử hình vì tội phản đạo. Ngài có lý đấy. Tôi biết tôi sẽ gặp phải điều gì, nhưng tôi đối diện với nó ngẩng cao đầu và lưng đứng thẳng với một sự kiên vững nội tâm của một người chắc chắn về đức tin của mình. Và tôi sẽ tiếp tục kiên vững hơn sau hành vi lịch sử và can đảm của Đức Giáo Hoàng, người mà ngay từ phút đầu biết được nguyện vọng của tôi đã muốn đích thân trao ban các Bí tích khai tâm Thiên Chúa giáo cho tôi...”
Tiếp đến, tác giả kêu gọi “Hãy ngừng bạo lực”. Tác giả viết:
“Trên góc nhìn của mình tôi xin nói rằng đã đến lúc chấm dứt sự phóng túng và bạo lực của những người Hồi giáo vốn không tôn trọng tự do chọn lựa tôn giáo. Ở Ý có hàng ngàn người cải đạo sang Hồi giáo và họ sống an bình với đức tin mới. Nhưng lại có hàng ngàn người Hồi giáo cải đạo sang Thiên Chúa giáo thì lại buộc lòng phải che giấu đức tin mới vì sợ bị sát hại bởi những người Hồi giáo cực đoan trà trộn giữa chúng ta. Một trong những trường hợp này đã được nói đến trong bài viết đầu tiên của tôi trên tờ Il Corriere della Sera ngày 3/9/2003 với tựa đề “Những hang toại đạo mới của những người Hồi giáo cải đạo”. Đó là một cuộc điều tra về những người tân tòng nói về nỗi cô đơn thiêng liêng và nhân bản của họ, trước sự trốn tránh của các cơ quan nhà nước và sự im lặng của Giáo hội trong việc chăm lo bảo vệ an toàn cho họ. Thế nhưng tôi cầu mong rằng, từ hành vi lịch sự của Đức Thánh Cha và từ lời chứng của tôi, sẽ dấy lên một niềm tin rằng đã đến lúc đi ra khỏi bóng tối của hang toại đạo và khẳng định công khai ý muốn được là chính mình một cách tròn đầy. Nếu chúng ta không đảm bảo được tự do tôn giáo ngay tại Ý quốc này, là cái nôi của Thiên Chúa giáo, là nhà của chúng ta, thì làm sao chúng ta có thể lên án được sự vi phạm tự do tôn giáo ở những nơi khác trên thế giới? Tôi cầu xin Thiên Chúa để Lễ Phục Sinh đặc biệt này mang lại sự phục sinh tinh thần cho tất cả các tín hữu trong Đức Kitô, những người nào vẫn còn bị sự sợ hãi khuất phục.
Ký tên: Madgi Allam
Ngày 23 tháng 3 năm 2008
Đức Hồng Y Giovanni Re nói với một tờ nhật báo Ý: “Cải đạo là một vấn đề riêng tư, một chuyện cá nhân và chúng tôi hy vọng rằng phép thanh tẩy không bị Hồi giáo giải thích một cách tiêu cực.”
Ông Madgi Allam nói ông đã quyết định theo đạo Công giáo sau nhiều năm tìm kiếm sâu xa tận đáy lòng. Ông khẳng định là Giáo Hội Công Giáo đã “quá dè dặt trong việc cải đạo người Hồi Giáo.”
Bản tuyên bố của Vatican về việc cải đạo của Allam đã nói: “Đối Với Giáo Hội Công Giáo, bất cứ ai xin nhận phép Thanh tẩy sau cuộc tìm kiếm cá nhân sâu sắc, sau sự chọn lựa hoàn toàn tự do và chuẩn bị thích đáng, cũng có quyền nhận lãnh.”
Bản tuyên bố cũng nói mọi người mới nhận đức tin đều “cùng quan yếu trước tình yêu Thiên Chúa và được đón mời vào cộng đồng Giáo Hội”.
THÔNG ĐIỆP CHO HỒI GIÁO
1.- Thông điệp của Đức Giáo Hoàng
Bản tin của hảng thông tấn Zenit.org cho biết hôm 3.4.2008, Linh mục Federico Lombardi, giám đốc phòng báo chí Tòa Thánh Vatican, nói rằng việc Đức Giáo Hoàng Benedict XVI sẵn sàng rửa tội một người trở lại Công Giáo có gương mặt nổi bật từ Hồi Giáo, là nhằm khẳng định sự tự do chọn lựa tôn giáo, xuất phát từ phẩm giá con người.
Qua lời phát biểu này, chúng ta có thể hiểu rằng khi chính mình đích thân rửa tội cha Magdi Allam, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI muốn gởi đến thế giới Hồi Giáo một thông điệp quan trọng: Những quyền căn bản của con người phải được Hồi Giáo tôn trọng, trong đó có quyền tự do thôn giáo.
Trong thế giới ngày nay, không thể để cho người Hồi Giáo muốn làm gì thì làm. Hồi Giáo phải xét lại những phương thức hành động mà họ đang theo đuổi. Nhiều tổ chức trên thế giới cũng đang gởi đến khối Hồi Giáo những cảnh báo khác.
Thật ra, đây không phải là lần đầu tiên Đức Giáo Hoàng Benedict XVI muốn gởi cho khối Hồi Giáo một thông điệp như vậy.
Chúng ta nhớ lại, trong bài thuyết giảng tại Đại học Regensburg hôm 12.9.2006, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã trích dẫn lời của Đại Đế Manuel II Paleologus của Ba Tư về chủ đề Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Đại Đế nói:
“Hãy chỉ cho tôi thấy Mohammed đã mang lại điều gì mới, và ở đó bạn chỉ thấy toàn là sự dữ và phi nhân bản, chẳng hạn như lệnh truyền của Mahommed là phải dùng gươm giáo để truyền bá niềm tin mà ông ta đã rao giảng”.
Liền sau đó, khối Hồi Giáo đã phản ứng rất mạnh mẽ. Có nhóm đã lên án tử hình Đức Giáo Hoàng.
Nhiều người đã đặt câu hỏi: Đức Giáo Hoàng Benedict XVI là một người rất thận trọng, đang ở địa vị cầm đầu một Giáo Hội lớn nhất thế giới, bài thuyết giảng lại được soạn thảo để đọc trước một cử tọa đa số là các nhà khoa bảng, trong đó Hồi Giáo, một tôn giáo có phiều phần tử quá khích, được đề cập đến..., do đó bài thuyết giáo chắc chắc đã được soạn thảo rất kỷ lưỡng và tiên liệu các phản ứng sẽ xẩy ra..., tại sao Đức Giáo Hoàng lại chọn một lời phê phán Hồi Giáo nặng nề như vậy để trích dẫn?
Nhưng nhiều người tin rằng Vatican và Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã tiên liệu trước phản ứng của các nhóm Hồi Giáo quá khích khi trích dẫn câu nói trên trong bài thuyết giảng. Nếu đọc toàn bài thuyết giảng, chúng ta sẽ nhận ra rằng Vatican và Đức Giáo Hoàng đã cố tình đưa ra một thách đố đối với Hồi Giáo trong thế giới ngày nay, đó là điều mà Đại Đế Manuel II Paleologus đã nêu lên từ thời trung cỗ: ĐỨC TIN và MÁU ME, tức truyền bá Đức Tin bằng chiến tranh và chinh phạt. Ông Reuel Marc Gerecht, chủ bút tờ Wall Street Journal, đã nhận định rằng “chủ nghĩa thánh chiến Hồi Giáo, giống như chủ nghĩa Phát Xít, đang viết lại DNA luân lý của chúng ta, coi tội lỗi như là nhân đức. Chúng ta cần đối thoại và lý sự với họ về những vấn đề này. Chúng ta hãy ngưng coi những người Hồi Giáo là con nít và hãy thẳng thắn đối thoại với họ.”
Muốn cho tất cả khối Hồi Giáo chú ý đến thách đố đó, không gì tốt hơn là trích dẫn câu nói trên của Đại Đế Manuel II Paleologus.
Có thể nói, với bài thuyết giảng nói trên, Vatican và Đức Giáo Hoàng đã thành công trong việc đánh thức tâm thức của các nhà lãnh đạo Hồi Giáo, làm cho khối Hồi Giáo chú ý đến thách đố của họ.
Trong bài xã luận dưới đầu đề “Benedict XVI promotes "interfaith" dialogue. Muslims and Christians need it” (Giáo Hoàng Benedict XVI khuyến khích đối thoại “giữa niềm tin”. Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo cần điều đó), ông Reuel Marc Gerecht khẳng định rằng đa số người Tây phương và cả đa số người Hồi Giáo biết rất rõ “những sai trái” bên trong Hồi Giáo nhưng nén lại trong lòng, không dám nói ra công khai. Chính vì thế các nhà lãnh đạo Hồi Giáo thường cố tình lẩn tránh việc thảo luận công khai về chính niềm tin của họ.
Ông thúc giục những người Hồi Giáo và thế giới Tây phương hãy can đảm chấp nhận lời mời gọi của Đức Giáo Hoàng cho một cuộc đối thoại “thẳng thắn dù phải trải qua đau đớn”, và than trách phản ứng nhanh chóng của Tây phương trong những ngày qua muốn tránh đi một cuộc đối đầu.
2.- Thông điệp của giới truyền thông
Chúng ta nhớ lại, vào tháng 9 năm 2005, Flemming Rose, người phụ trách về văn hóa của tờ nhật báo Jyllands Posten, một tờ nhật báo hàng đầu của Đan Mạch, đã viết thư mời 25 họa sĩ vẽ biếm họa về Mohammad và hứa trả 128 dollars cho mỗi bức biếm họa. Có 12 họa sĩ đã tham dự.
Trong số 12 bức biếm họa, có hai bức đã làm người Hồi Giáo nổi giận. Bức thứ nhất là hình Mohammad với chiếc khăn truyền thống của người A rập được quấn trên đầu trông giống như một quả bom có ngòi nổ. Bức thứ hai là hình Mohammad với lời chú thích là đã hết gái đồng trinh làm phần thưởng cho những kẻ đánh bom tự sát. Sau đó, một tạp chí tại Na uy cũng đăng lại những bức biếm họa này.
Những bức hiếm họa nói trên đã gây phản ứng mạnh trong khối Hồi Giáo, những các cơ tư pháp ở Âu Châu vẫn cương quyết bảo vệ quyền tự do ngôn luận của báo chí tại quốc gia họ.
Mặc dầu bị các phần tử Hồi Giáo quá khích đe dọa, đầu năm nay nhiều tờ báo và tạp chí ở Châu Âu đã lần lượt đăng lại các bức biếm họa đó để nói với người Hối giáo rằng thế giới không sợ sựï đe dọa của họ. Hôm 13.2.2008, các báo ở Đan Mạch đã in lại bức hí họa vẽ hình đầu Mohammad đội khăn có hình trái bom.
Hôm 12.3.2008, một thông điệp thu thanh của Bin Laden được đưa lên mạng lưới của phiến quân, đe dọa sẽ tiến hành cuộc tấn công mới và “mạnh mẽ” vào châu Âu để trả đũa việc những bức tranh hí họa tiên tri Mohammad. Bin Laden gọi những tranh hí họa là một phần trong “cuộc thánh chiến mới”.
Nhưng mọi người đều biết lời đe dọa này nếu có thể thực hiện được, nhóm Hồi Giáo quá khích đã thực hiện từ lâu rồi.
CHỐNG HỒI GIÁO ĐỂ CỨU HỒI GIÁO
Trong kinh Koran, Allah công khai ra lệnh cho các tín đồ Hồi Giáo phải giết hại những người ngoại đạo:
"Ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ ngoại đạo. Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng".
(I will cast terrors into the hearts of those who disbelieve. Therefore, trike of their heads and strike off every fingertips of them - Koran 8:12).
Kinh Koran dạy các tín đồ Hồi Giáo rằng họ có thể giết người ngoại đạo mà không phải chịu trách nhiệm về hành vi sát nhân này vì đó là việc Thiên Chúa làm. Kinh Koran viết:
"Không phải các con đã giết chúng mà Thiên Chúa mới là đấng đã giết chúng và không phải các con đã đập tan kẻ thù mà Thiên Chúa mới là đấng đã dẹp tan chúng"
(You did not slay them but it was God who slew them. You did not smite when you smote the enemy but it was God who smote - Koran 8:17).
Kinh Koran coi “những kẻ ngoại đạo đã đi theo sự sai lầm, vì thế, khi gặp những kẻ ngoại đạo nơi chiến trường, chặt đầu chúng hoặc bắt chúng bỏ tù.”
(The unbelievers follow falsehood. When you meet the unbelievers in the battlefield, strike off their heads or make them prisoners - Koran 47: 4).
Vì những lý do trên, nhiều người đã coi Hồi Giáo như một tôn giáo của sự khủng bố (a religion of terror), kinh Koran như một cuốn Sách của Tử Thần (the Book of Death), và thần học Hồi Giáo đã mang lại những hậu quả nguy hiểm chết người (the lethal consequences) cho những người ngoại đạo.
Tuy nhiên, trong tâm thư ngày 23.3.2008 nói trên, ký giả Magdi Allam đã nói với người Hồi Giáo cải đạo và với chúng ta:
“Nỗi lo sợ không che chở được cho những người cải đạo trước án tử hình của họ vì tội phản đạo, và nỗi lo sợ các tín hữu Thiên Chúa giáo ở các nước Hồi giáo sẽ bị trả đũa. Thế nhưng, hôm nay, với chứng ta, Đức Benedicto XVI muốn nói rằng phải chiến thắng sự sợ hãi và đừng sợ gì khi khẳng định chân lý về Đức Giêsu ngay cả với những người Hồi giáo.”
Trong cuốn “Lajja” (Sự tủi hổ), Bà Taslima Nasreen, một nữ văn sĩ Bangladesh, đã nói:
“Nếu bạn thực tình muốn làm một điều tốt cho những xứ sở Hồi Giáo, bạn phải chống lại Hồi Giáo.”
Lữ Giang
|