Cau Xin Me

TRỜI - NIỀM TIN CỦA DÂN VIỆT

N

gười Cộng sản chối bỏ Thượng Đế, chối bỏ con người có linh hồn là đã sai lầm ngay từ căn bản.

A. Eynieu đã công bố bản thống kê : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% cac nhà bac học tin Thượng Đế.

Bac sĩ Dennert, người Đưc cũng tuyên bố kêt qủa tìm tòi của ông để biêt quan niệm tôn giáo của 300 nhà bac học, tìm hiểu trong những số lỗi lạc nhât thuộc 4 thế kỷ qua. "38 vị tôi không rõ cac ông quan niệm thế nào, còn 262 vị, thì 20 vị dửng dưng, 242 ông tin. Tưc cũng 92% tin có Thượng Đế."

Các nhà thông thái đã đúc kết trong một câu nói bât hủ: “Một chút hiểu biêt làm cho người ta xa Thượng Đế, nhưng hiểu biêt càng nhiều càng làm cho người ta đến gần Thượng Đế hơn.”

Trên thế giới không có một dân tộc nào mà lại không tin có một Đấng Tối Cao. Và cũng chính vỉ thế mà chúng ta lại được nghe một câu nói bất hủ nữa: “Con người là sinh vật có tôn giáo.”

Nếu con người chỉ thuần túy là vật chât, thì có bao giờ “một đống vật chất” lại có thể tự hỏi về chính mình?

Khi con người biết tự hỏi ‘tôi từ đâu đến’, thì cũng có nghĩa con người khao khát muốn biêt về nguồn gốc của chính mình; và khi muốn biết nguồn gốc của chính mình, con người đã bộc lộ, con người là sinh vật có linh hồn và có nguồn gốc vậy.

Xin mời qúy vị đọc hai bài thơ sau đây, của hai tác giả khác nhau, nhưng cùng nói lên nỗi khắc khoải muốn biêt về chính mình: tôi từ đâu đến? cuộc sống này có ý nghĩa gì? và rồi tôi sẽ đi về đâu?

Qua hai bài thơ này đã đủ minh chứng sự u mê của Cộng sản. (Cộng sản chối bỏ Thượng Đế và con người có linh hồn. Một lý thuyết mà chối bỏ yếu tố tâm linh của con người thì tự nó đã tố cáo sự u mê của chính nó, hay nói cách khác, lý thuyết đó, chỉ đáng nằm trong thùng rác.)

Người ở từ đâu đến địa cầu?
Rồi khi mãn kiếp lại về đâu?
Mênh mông chỉ thấy bầu trời rộng!
Mù mịt như ngồi đáy giếng sâu!
Hỡi ơi sống để làm chi vậy?
Mà cứ đua nhau chác việc sầu?

Ngồi mà ngẫm nghĩ thân tôi,
Đâu là ý nghĩa cuộc đời chóng qua?
Nơi đây ai dựng tôi ra?
Nơi đây tôi sống để mà làm chi?
Đời qua còn lại những gì?
Xuôi tay nhắm măt tôi thì đi đâu?
Hôm nay qua mấy nhịp cầu,
Nhìn dòng nươc chảy hai câu thơ vàng,
Gửi người nhân chuyến đò ngang,
Qua sông chân lý chiều vàng hăt hiu!

Khi Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo chưa du nhập vào Việt Nam, niềm tin của dân Việt đã tiềm ẩn trong tâm trí và được bày tỏ qua ngôn ngữ, lời nói, hành động. Niềm tin đó là tin có một Đấng Tối Cao, vô hình, quyền phép, bảo tồn vạn vật, ban ơn cho người ngay lành, trừng phạt kẻ gian ác. Đấng Tối Cao đó người Việt gọi là TRỜI, Ông Trời, Thiên, và sau này xưng hô cung kính hơn, Trời còn được gọi là Đưc Chúa Trời, Thiên Chúa, Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa.

Điều này minh chứng rõ rệt và mạnh mẻ có Đấng Tạo Hóa. Đấng Tạo Hóa khi dựng nên con người đã đặt vào con người linh hồn và một bản lề luật mà chúng ta gọi là lương tâm; và nhờ bản lề luật đó con người luôn khao khát sự hằng hữu, được an vui khi làm điều thiện và bất an khi làm điều gian ác.

Hầu hêt cac gia đình Việt Nam trươc đây, đều có một bàn thờ tổ tiên trong nhà để tưởng nhớ đến ông bà, cha mẹ đã khuât, còn có một bàn thờ ở ngoài sân, bày biện đơn sơ, để khấn vái cầu nguyện với Trời.

Các vua chúa cũng có những phong tục bày tỏ sự tôn kính, biêt ơn và cầu khẩn với Trời, như lễ Tế Trời để tạ ơn khi đất nươc thịnh vượng bình an; hoặc lễ tạ lỗi với Trời, xin mưa khi gặp hạn hán.

Ca dao, tục ngữ, những câu nói, câu chuyện trong dân gian của dân tộc ta nói lên: niềm tin có TRỜI, niềm tin vào TRỜI.

Trời sinh voi, sinh cỏ. Trời đánh còn tránh miếng ăn.
Trời sinh, Trời dưỡng. Trời cao có mắt.
Trời cho ai nấy hưởng; Trời gọi ai, nấy dạ.
Sống nhờ ơn Trời, chêt về chầu Trời.
Trời cho không ai thấy, Trời lấy không ai hay.
Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt.
Thiên bât dung gian. (Trời không dung thứ kẻ gian ác)
Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh (Trời sinh ra muôn vật, chỉ có con người là khôn hơn hêt)
Đại phú do Thiên, tiểu phú do cần (Giàu to là do Trời cho, giàu nhỏ là do cần kiệm)
Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên. (Con người mưu kế, nhưng thành bại là do Trời định đoạt)
Thuận Thiên giã tồn, nghịch Thiên giã vong (Theo Trời thì sinh tồn, nghịch Trời thì diệt vong)
Ở hiền thì lại gặp lành, những người nhân đức Trời dành phúc cho.
Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân (Trời không phụ bạc người có lòng tôt)
Duyên ba sinh Trời đã dành sẵn (duyên phận vợ chồng là do Trời săp đặt)
Trời nào có phụ ai đâu, hay làm thì giàu, có chí thì nên.
Trời cho hơn lo làm. Chỉ có Trời cứu.
Mong đèn Trời soi xét. Có Trời chứng giám.

Trời cao đất rộng, em vọng lời nguyền:
Đất trời còn đó, em giữ truyền thủy chung.

Dù ai nói ngược nói xuôi,
Ta đây vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng,
Dù ai chác lợi mua danh,
Miễn ta, ta được đạo lành thì thôi.

Ơn Trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cầy sâu,
Công lênh chẳng quản dài lâu,
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.

Lạy Trời mưa xuống, Lấy nươc tôi uống,
Lấy ruộng tôi cầy, Lấy đầy bat cơm.

Nhờ Trời mưa thuận gió hòa,
Nào cầy nào cấy trẻ gìa đua nhau;
Lạy Trời mưa thuận gió đều,
Cho đồng lúa tốt, cho chìu lòng em.

Con chim nó hót trên cành,
nếu Trời không có, có mình làm sao?
Con chim nó hót trên cao,
nếu Trời không có, làm sao có mình?

Ngẫm hay muôn sự tại Trời, Trời kia đã băt làm người có thân, băt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao. .v.v..

Và sau đây là câu chuyện được truyền tụng trong dân gian bài tỏ niềm tin của con người vào sự quan phòng của Trời. Câu chuyện An Tiêm và qủa dưa hấu. Chuyện kể rằng An Tiêm là một người thông minh lanh lợi, được Vua Hùng Vương thương mến cho làm quan và gã con gái nuôi cho. An Tiêm có nhiều của cải và trang hoàng nhà cửa thật đẹp và sang trọng. Khi cac quan trong triều khen ngợi thì ông trả lời đó là ơn Trời ban. Các quan ganh tị, ghen tưc với An Tiêm nên trình với Vua rằng An Tiêm là kẻ vô ơn, bạc nghĩa, đã được Vua ban cho nhiều của cải, bổng lộc mà không biết ơn, lúc nào cũng bảo là ơn Trời ban. Vua nghe được thì nổi giận truyền đày hai vợ chồng An Tiêm ra một đảo hoang, với một it thưc ăn mang theo để xem Trời có gì để ban cho không?

Khi ra đến đảo, người vợ An Tiêm than với chồng “Thưc ăn Vua ban cho chỉ đủ độ vài tháng, sau đó thì làm sao mà sống?”

An Tiêm nói với vợ: “Trời sinh, Trời dưỡng”. Ông cùng vợ xây cât chổ ở tạm và tìm nguồn nươc ngọt để sống.

Một ngày kia khi ra đồng, An Tiêm nghe tiếng chim kêu, An Tiêm chạy đến thì chúng bay đi và nhả rơi lại những hạt đen cứng. An Tiêm không biêt là hạt gì, ông đem vùi dưới đất và chăm bón cho chúng mọc lên, thành những dây bò lan rât xanh tôt và ra những trái lớn. An Tiêm bổ ra, thấy trong ruột đỏ, ông ăn thử thấy ngon ngọt, ông bảo vợ: “Đây là của ăn Trời ban cho chúng ta”. Từ đó, hai vợ chồng An Tiêm dùng hạt của những trái đó để trổng nhiều thêm làm của ăn.

Một hôm có chiêc thuyền đánh cá vì gío lớn phải tấp vào đảo.

An Tiêm cho người trên thuyền ăn trái dưa thì họ gật đầu khen “Hẩu, hẩu” (ngon). An Tiêm cho người trên thuyền nhiều dưa và nói với họ mang thực phẩm vật dụng ra đổi. Vì dưa ngon, nhiều người ưa chuộng, từ đó nhiều thuyền buôn mang gạo, thịt, cá, vật dụng ra đổi lấy dưa và cũng từ đó tiếng Dưa Hấu được nhiều người biêt đến. Khi gia đình quây quần bên bữa ăn ngon, vợ An Tiêm mới nói với chồng, “Trời nuôi chúng ta thật”.

Sau it năm, Vua sai người ra đảo để xem vợ chồng An Tiêm đã sống, chết ra sao, thì được cho biêt rằng chẳng những họ không chêt, mà còn sống sung túc phát đạt. Vua cho là chuyện lạ, bèn truyền cho cả hai vợ chồng trở về thuật lại những gì đã xảy ra. Sau khi nghe họ kể lại câu chuyện, nhà Vua nói: “Thật là Trời đã nuôi chúng nó”.

NGUYỄN HY VỌNG