|
on người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, đó là điều mà không có một tạo vật nào trong vũ trụ được như vậy. Một mặt họ là tạo vật, nên cũng được Thiên Chúa ban ơn "hiện hữu" như các tạo vật khác. Mặt khác họ có suy tư và tự do, nên trong lịch sử đời họ, luôn có một đổi mới trong bản thân họ. Ðổi mới này phải là một bước tiến để gần gũi mỗi ngày một hơn với Thiên Chúa. Như vậy, ở con người có ơn được sáng tạo, và ơn được khả năng nên giống Thiên Chúa mỗi ngày một hơn. Con người chỉ là một, chúng ta không thể phân chia duy nhất ấy, nên khi nói về hai ơn Thiên Chúa ban ở trên, "tự nhiên" và "siêu nhiên", chúng ta vẫn phải giữ được quan niệm con người duy nhất.
I. CON NGƯỜI CHỈ LÀ MỘT.
Trước hết, ta phải công nhận rằng: Tuy con người không giống như các tạo vật khác, con người cũng vẫn không phải là Thiên Chúa. Người đã chỉ chọn họ để họ sống gần gũi với Người mà thôi. Trong vườn địa đường, ông bà Adam và Eva được thấy Thiên Chúa, sống bên Người, gặp gỡ và chuyện trò với Người. Sau khi phạm tội, ông bà nguyên tổ phải đuổi ra khỏi "địa đường", mất sự thân tình gần gũi Thiên Chúa. Nhưng vì yêu thương loài người, Thiên Chúa không muốn chia lìa với họ, nên đã sai Con Một của Người sinh xuống trần gian làm người để trở nên một với loài người, biến họ nên Nhiệm thể trong đó Chúa Kitô là đầu và mọi người đều là chi thể. Và như thế, loài người lại trở nên một trong Ðức Kitô để thông hiệp với Thiên Chúa.
Sau khi chấp nhận lựa chọn của Thiên Chúa đối với loài người là một ơn nhưng không, chỉ vì tình yêu, ta phải tìm hiểu ơn lựa chọn ấy trong lịch sử. Lựa chọn ấy, sau khi loài người phạm tội, bắt đầu ở dân Do Thái. Thiên Chúa đã lựa chọn dân này làm dân riêng của mình. Người đã giải thoát dân này khỏi cảnh nô lệ người Ai Cập, và sau khi thử thách lòng tin của họ trong sa mạc, đã cho họ chiếm được đất đai mà lập nên một quốc gia tự do để phụng sự Người. Dân này tuy nhỏ bé, nhưng đã được Thiên Chúa che chở, hướng dẫn cách riêng, để là dân riêng của Người và đón nhận ơn cứu độ của Người cho toàn thể nhân loại.
Trong Tân Ước, Tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người sa ngã biểu lộ trong việc Chúa Cha sai Con Một Người xuống trần gian làm người để cứu chuộc họ. Ơn này loài người chẳng có công lênh gì để đáng được ban (Rm 8,32; Ga 3,14). Họ chỉ cần tin vào ơn cứu độ, đón nhận mặc khải về ơn ấy, mà Chúa Giêsu đã giảng dạy bằng lời nói, đời sống và cái chết của Người trên trần gian.
Tội con người đã phạm là chối từ tình thương yêu của Thiên Chúa. Dù vậy, ta không được coi hoàn cảnh gây nên do mất mát này như tình trạng tự nhiên của loài người đối lập với tình trạng ân sủng mà Chúa Giêsu đã đem lại cho họ khi Người làm người và trở nên đầu Nhiệm thể trong đó mỗi người đều có khả năng là chi thể. Nói tóm lại, con người chỉ là một, dù họ đã được tạo dựng và sau khi phạm tội họ đã được cứu chuộc và ban ân sủng. Tuy có siêu nhiên (ân sủng) và tự nhiên (hiện hữu), mỗi người vẫn là một.
II. CON NGƯỜI CÓ TỰ NHIÊN VÀ SIÊU NHIÊN.
Ðể giải thích về con người là gì cho người ta hiểu, các nhà thần học phải sử dụng ngôn từ của một văn hoá và lý thuyết của một triết học của thời đại mình đang sống. Trước đây chúng ta đã thấy trong thần học triết thuyết của Platon coi con người như gồm có hồn và xác biệt lập và đối chọi nhau đã ảnh hưởng rất nhiều vào các nhà thần học tuy các ông vẫn ý thức rằng Kinh Thánh đã nói đến việc Thiên Chúa tạo dựng nên con người theo "hình ảnh" mình mà thôi.
Trước vấn đề tự nhiên (bản tính) và siêu nhiên (ân sủng), các nhà thần học lại vì triết học của Aristotes mà coi con người như một trong các loài sinh vật có bản tính của loài mình. Sau khi họ được dựng nên thì họ sống theo "thiên nhiên" của mình. Ở thời ấy, con người được định nghĩa như một sinh vật có lý trí và tự do. Các yếu tố trên làm nên con người trong "tự nhiên" của họ. Còn "siêu nhiên" mà Kinh Thánh cho biết nơi con người thì các nhà thần học cho là chỉ có bên lề (praeter) để nâng bản tính con người lên nhờ khả năng "tuân lệnh" (potentia obedientialis) nhờ đó mà "tự nhiên" có thể đón nhận "siêu nhiên". Cách quan niệm trên phổ biến trong các thể kỷ XV-XVII.
Quan niệm thần học trên có ưu điểm của mình: Nó cho thấy rõ sự nhưng không của ân sủng mà con người không có lý do nào để đòi hỏi. Sự siêu việt này ở trên bản tính con người và là sức mạnh nâng bản tính ấy lên một sự hoàn hảo mà tự nó không mong đợi. Nhưng quan niệm thần học này có nhiều thiếu sót nặng nề. Con người tự nhiên không bao giờ Kinh Thánh nói đến. Thiên Chúa dựng nên Adam và Eva trong tình trạng thân hữu và được thấy Thiên Chúa trong vườn địa đường. Sau khi họ phạm tội, họ bị đuổi ra khỏi địa đường, nhưng Thiên Chúa lại hứa cho họ thắng tội lỗi và được hiệp thông với Người nhờ Ðức Kitô. Như vậy, trong chương trình sáng tạo, chỉ có con người cụ thể gồm có tự nhiên và siêu nhiên, chứ không có con người tự nhiên mà thôi. Vì lý do trên, thánh Tôma quả quyết con người có ước ao được thấy Thiên Chúa, và Piô XII, trong thông điệp "Humani Generis" đã nói về Thiên Chúa sáng tạo nên con người có "xu hướng được xem thấy Người".
Ngày nay các nhà thần học cũng vẫn dựa theo suy luận của triết lý Hy Lạp coi con người là một sinh vật có tinh thần. Họ cho rằng con người cũng có một bản tính như các sinh vật khác. Bản tính ấy tự nhiên. Nhưng để giải thích con người có siêu nhiên như Kinh Thánh dạy, thì các nhà thần học căn cứ vào sự kiện họ có "tinh thần", nghĩa là xu hướng muốn được thấy Thiên Chúa. Ước vọng này vô hạn định vì Thiên Chúa vô hình và vô hạn định, còn hành động của con người để trở nên một với Thiên Chúa thì có hạn và tăng triển trong thời gian. Do đó, muốn thông hiệp trong tình yêu với Thiên Chúa một cách bền vững, thì phải có ân sủng, hay ơn siêu nhiên của Chúa Thánh Thần.
III. TỔNG HỢP.
Theo cách suy nghĩ thông thường của chúng ta, chúng ta nghĩ đến việc chúng ta đã có đấy, đã phạm tội, rồi mới suy đến việc Ngôi Con mặc lấy xác phàm để cứu chuộc chúng ta. Nhưng đây là cách trình bày cần phải sửa lại: Khi sáng tạo, thì vì lòng yêu thương vô biên của Thiên Chúa đối với loài người, ý nghĩ cho loài người được thông hiệp với Người trong Ðức Giêsu Kitô đã có rồi. Nói cách khác ơn sáng tạo không tách rời với ơn cứu độ. Nơi con người, tự nhiên và siêu nhiên luôn gắn bó với nhau ở mỗi con người.
Mặt khác, con người không hiệp thông với Thiên Chúa được nếu không tách biệt với Người: Người là Ðấng sáng tạo, còn con người là thụ tạo. Nhìn ở phương diện này, con người có một "bản tính" như các thụ tạo khác, đây là ơn "hữu hình" Thiên Chúa ban nhưng không bên cạnh ơn hiệp thông vào đời sống thần linh của Người cũng là một ơn nhưng không. Trí khôn ta dễ đón nhận hai ơn nhưng không tách biệt nhau làm cho con người có "tự nhiên" và "siêu nhiên".
Con người được tạo dựng theo "hình ảnh" Thiên Chúa chỉ một lần, ngoài việc được sáng tạo cho có, con người còn được mời gọi trở nên "Con Thiên Chúa". Ðể lĩnh hội chân lý này, con người nhìn thấy hai lúc ban ơn, tuy vẫn nhưng không, nhưng khác nhau: Tự do của Thiên Chúa khi tạo nên họ, và tự do của Người khi cho họ nên "con của Người". Vì thế quan niệm tách biệt con người theo bản tính và con người theo ân sủng dễ được con người chấp nhận.
Con người là sinh vật tự nhiên có "tinh thần" (spiritus). "Tinh thần chính là khả năng của bản tính tự nhiên để hướng về siêu nhiên. Nhưng có tinh thần, con người cũng vẫn chỉ là một tạo vật tự nhiên Thiên Chúa không định cho thông hiệp với Người và có hạnh phúc đời sau" (DS. 3899). Việc có tinh thần của con người không tạo nên đòi hỏi sự nhập thể của Ngôi Con. Ðó là lý do để các nhà thần học chấp nhận con người có "bản tính" độc lập. Chắc rằng con người có "siêu nhiên", nghĩa là có hiểu biết và tình yêu Thiên Chúa: Chúa Thánh Thần luôn soi sáng để họ hướng về sự thật và sự lành tuyệt đối, không có sự thật và sự lành nào có thể so sánh được là Thiên Chúa. Và để tiến đến gần sự thật và sự lành tuyệt đối trên, con đường duy nhất là hiểu biết và sống theo gương Ðức Giêsu là "đường, sự thật và sự sống".
LM GIUSE THÂN VĂN TƯỜNG
|