Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN
ới những ai theo dõi và viết lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thời cận đại, có lẽ không người nào mà không ngạc nhiên trước một sự kiện xã hội đặc biệt: Ðó là sự xuất hiện hàng trăm cộng đồng lớn nhỏ Người Việt với gần ba triệu người tại 80 quốc gia trên thế giới, trong đó Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại là một trong những thành phần dân chúng không thể không quan tâm đặc biệt.
Riêng với các quốc gia có đông đồng bào định cư như Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Gia Nã Ðại, nếu Cộng Ðồng Người Việt được coi như những cộng đồng non trẻ nhất nhưng năng động không kém, vì đã trực tiếp góp phần vào sự giàu mạnh nơi những quốc gia mà họ sinh sống thì hàng trăm Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam được coi là những đoàn thể được tổ chức chặt chẽ nhất, với những sinh hoạt thường xuyên về tôn giáo, văn hóa, xã hội rất đa dạng, năng động và hiệu lực.
Ðiểm qua những chặng đường lịch sử của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện những Giáo Xứ, những Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam như thế tại hải ngoại. Ngược dòng lịch sử theo vết chân rao giảng Tin Mừng của các nhà truyền giáo ngoại quốc đến Việt Nam cách đây trên 4 thế kỷ, đúng hơn cách đây 467 năm (1533 - 2000), khi tu sĩ dòng Tên Inikhu theo đường biển vào giảng đạo tại hai làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân, tỉnh Nam Ðịnh ngày nay, Tin Mừng của Ðức Kytô khác nào hạt cải nhỏ bé trong dụ ngôn Phúc Âm đã được các nhà truyền giáo và cha ông chúng ta tiếp tay gieo vãi trên giang sơn gấm vóc đất Việt, từ miền Bắc xuống miền Nam, nhưng chưa bao giờ lại có những đoàn giáo sĩ và giáo dân Việt được tung đi khắp bốn phương trời như hiện nay. Ðó là một sự kiện đáng mừng đầy hứa hẹn cho tương lai Giáo Hội Việt Nam và cũng là một niềm khích lệ an ủi cho công cuộc truyền giáo trên đất nước ta sau những bách hại đẫm máu kéo dài gần 4 thế kỷ.
Sau biến cố tháng tư đen năm 1975 đến nay đã 25 năm trôi qua! Hai mươi lăm năm được coi như một thế hệ, một phần tư thế kỷ, một thời gian tương đối đủ để một con người từ giã tuổi ấu thơ, tuổi thiếu thời để bước vào những năm trưởng thành tự lập. Do đó chúng tôi kính mời quý độc giả cùng nhìn lại quãng đường đã đi qua của Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại để hướng nhìn về tương lai. Sau đó chúng tôi xin phép được đóng góp một vài suy tư, một vài đề nghị bé nhỏ để tìm hiểu tập thể Người Công Giáo Hải Ngoại có thể cống hiến gì cho Giáo Hội Mẹ và Quê Hương Việt Nam thân yêu.
Ðể tránh những ngộ nhận, chúng tôi xin thưa trước rằng: Mục đích của bài viết này chỉ trình bày những dữ kiện lịch sử, với những con số về người và sự việc tuy không chính thức nhưng cũng khá xác thực, vì cho đến nay chưa có một thống kê chính thức nào được công bố về tập thể người công giáo hải ngoại, vì thế sẽ có nhiều thiếu sót cần được bổ túc. Tuy nhiên dầu sao bài báo này cũng đã cung cấp cho quý độc giả có một cái nhìn tổng quát khá đầy đủ về Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại.
NHỮNG VỊ DU HỌC TIỀN PHONG CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM.
Trong nội dung danh từ "Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại", không ai đơn sơ nghĩ rằng chỉ gồm thành phần những giáo sĩ, những tu sĩ nam nữ hoặc những người giáo dân, nhưng danh từ tổng quát này phải được bao gồm cả hai thành phần trên, vì không thể nói đến giáo dân mà không có giáo sĩ hoặc ngược lại. Nếu chúng ta hiểu danh từ theo nội dung ý nghĩa này, tất nhiên khi đề cập đến Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại, chúng ta không thể tách lìa hai thành phần đã tạo thành Cộng Ðoàn Dân Chúa trong Giáo Hội.
Ðọc lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, người ta thấy ngay từ giữa thế kỷ XVII, các nhà lãnh đạo Giáo Hội đã có những viễn ảnh sáng suốt khi gửi các chủng sinh đi du học tại nước ngoài để sau này phục vụ đắc lực cho Giáo Hội. Ðàng khác trong buổi bình minh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam, chưa có đủ điều kiện thành lập các chủng viện riêng để đào tạo nhân lực thì việc gửi các chủng sinh xuất ngoại du học là một tiên liệu khôn ngoan hợp tình hợp lý. Ðó là trường hợp cha Giuse Trang, Linh Mục Việt Nam Tiên Khởi, được thụ phong linh mục dịp Ðại Lễ Phục Sinh tháng 3 năm 1668 tại Thái Lan. Cùng lớp với ngài có cha Luca Bền thụ phong linh mục năm 1669. Hai hai tân linh mục này đều là những chủng sinh được gửi đi du học tại đại chủng viện Juthia tức Bangkok, Thủ Ðô Thái Lan ngày nay.
Tiếp theo các vị du học tiên phong trên đây là quý cha Gioan Văn Huệ, Bentô Văn Hiền, Philipphê Nhân, Giuse Phước cũng được tiếp tục xuất ngoại du học tại Thái Lan. Sau đó các đại chủng viện hoặc tập viện tại Penang (Mã Lai), Manila (Phi Luật Tân) và Ma Cao là những nơi thường được các giám mục hoặc bề trên dòng gửi các chủng sinh triều và các tập sinh dòng Tên, dòng Ða minh đi du học để có đủ điều kiện trước khi thụ phong linh mục. (Xem Việt Nam Giáo Sử của Lm Phan Phát Huồn, Cứu Thế Tùng Thư 1997, trg 223 - 230).
Ngay cả sau khi các đại chủng viện được thành lập trong nước, các giám mục và các bề trên dòng cũng vẫn lựa chọn những chủng sinh xuất sắc để gửi đi du học tại các Ðại Học Công Giáo nổi tiếng tại Tòa Thánh Vatican, nước Ý; Thủ đô Paris, nước Pháp; Hồng Kông và Thủ đô Manila, Phi Luật Tân, để sau này có đủ điều kiện giữ vai trò lãnh đạo trong Giáo Hội. Ðó là trường hợp của Quý Ðức Cha Nguyễn Bá Tòng, Giám Mục Phát Diệm; Ðức Cha Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám Mục Sàigòn; Ðức Cha Ngô Ðình Thục, Tổng Giám Mục Huế; Ðức Cha Phạm Ngọc Chi, Giám Mục Bùi Chu; Ðức Cha Trương Cao Ðại, Giám Mục Hải Phòng; Ðức Cha Hoàng Văn Ðoàn, Giám Mục Bắc Ninh; Ðức Cha Nguyễn Văn Hiền, Giám Mục Ðà Lạt; Ðức Cha Nguyễn Huy Mai, Giám Mục Ban Mê Thuột; Ðức Cha Lê Văn Ấn, Giám Mục Xuân Lộc; Ðức Cha Huỳnh Ðông Các, Giám Mục Quy Nhơn; Linh Mục Lê Văn Lý, Viện Trưởng Ðại Học Ðà Lạt; Linh mục Ðinh Lưu Nhân, Giám Ðốc Tiên Khởi Chủng viện Piô XII của Giáo Phận Hà Nội v.v.
Trong nội dung danh từ Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại, ngoài các giám mục, linh mục nói trên và một số khá đông quý vị khác hiện còn sống là những người tiên phong được xuất ngoại du học, người ta không thể nào quên không nhắc đến hai giáo dân được coi là hai nhà văn hóa lớn, những người có tinh thần ái quốc cao đã tích cực đóng góp vào việc canh tân đất nước.
Ðó là trường hợp quý ông Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871), quê tỉnh Nghệ An, năm 1859 được gửi đi du học tại nước Ý và Pháp. Sau khi du học về nước, ông được mọi người quý mến ngưỡng mộ về 58 tập điều trần, từ năm 1863 đến 1871, đệ trình vua Tự Ðức những quốc kế dân sinh cải tiếân đất nước trong tất cả các lãnh vực quốc gia, chính trị, giáo dục, kinh tế, xã hội, quân sự, canh nông v.v.. Rất tiếc vua Tự Ðức đã bỏ qua không thực hiện những kế hoạch đề nghị của ông.
Ông Petrus Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898), quê Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long, du học tại Penang, Mã Lai, thông thạo nhiều ngôn ngữ như Hy Lạp, Anh, Pháp, Ấn Ðộ, Trung Quốc,Cao Miên, Lào, Miến Ðiện v.v. Ông là học giả nổi tiếng và tác giả nhiều tác phẩm văn học viết bằng Việt ngữ, chữ Nôm, Pháp ngữ và soạn thảo Tự Ðiển Pháp Việt đầu tiên. Nhưng điểm nổi bật nhất được lịch sử ghi nhận: Ông là người Việt Nam đầu tiên có sáng kiến phát hành tờ báo Việt ngữ đầu tiên "Gia Ðịnh Báo" năm 1867, cùng cộng tác với ông để điều hành Gia Ðịnh Báo còn có quý ông Paulus Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký và Tôn Thọ Tường. (Xem Việt Nam Giáo Sử đã dẫn, trg 645 - 663).
CỘNG ÐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI HOA KỲ.
Hiện nay tại hải ngoại, trong các quốc gia có đông đảo người Việt định cư, người ta thấy không có nước nào mà đồng bào chúng ta tìm đến để nhận làm quê hương thứ hai bằng Hoa Kỳ. Có nhiều nguyên nhân lịch sử và xã hội giải thích sự lựa chọn này của đồng bào. Trước năm 1975, họ là nhân viên quân cán chính của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa được gửi sang đây để phục vụ hoặc tu nghiệp. Họ là những nghiên cứu sinh hoặc thanh niên nam nữ được cấp học bổng hoặc gia đình gửi sang Mỹ du học. Họ là những nhân viên được Chính Phủ Hoa Kỳ tuyển mộ sang Mỹ phục vụ trong các cơ quan công quyền hoặc những gia đình giàu có thế giá Việt Nam lo ngại chiến tranh sang đây kinh doanh lập nghiệp. Sau biến cố tháng tư đen năm 1975, tất cả đều ở lại định cư tại Hoa Kỳ.
Do ảnh hưởng và hệ lụy việc tham chiến của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, từng đoàn người Việt đã được Chính phủ Mỹ mở rộng vòng tay đón nhận và giúp đỡ định cư trong các đợt di tản, thuyền nhân vượt biển, đoàn tụ gia đình (ODP), cựu tù nhân chính trị (HO), con lai của các quân nhân Mỹ tham chiến tại Việt Nam và hiện nay là các đợt du học sinh tìm đến nước Mỹ để học tập hoặc các chuyên viên được Chính Phủ Mỹ tài trợ sang tu nghiệp. Sau một phần tư thế kỷ, Cộng Ðồng Người Việt tại Hoa Kỳ đã nghiễm nhiên trở thành một cộng đồng lớn mạnh uy tín đối với các sắc tộc thiểu số khác.
Ngày nay các du khách ngoại quốc và ngay cảø đồng bào trong nước có thểõ nhìn thấy tận mắt những hình ảnh về sự thành công của người Việt tại Hoa Kỳ, nếu họ có dịp hân hạnh đến tham quan các tiểu bang có đông đồng bào cư ngụ như Nam và Bắc California, Texas, Louisiana, Virginia, Maryland, Washington D.C., Pennsylvania, Michigan, Illinois, Oregon, Massachusetts v.v. Hàng trăm cơ sở thương mại, văn phòng dịch vụ, tiệm kim hòan, siêu thị, nhà hàng, quán ăn, ngày thường và các ngày lễ nghỉ tấp nập đông đảo kẻ mua người bán, cho chúng ta cảm tưởng như đang sống tại Thủ Ðôâ Sàigòn trước năm 1975.
Riêng Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ có hai tổ chức dưới đây:
a) Cộng Ðồng Giáo Sĩ và Tu Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ:
Từ năm 1970, Cộng Ðồng Giáo Sĩ và Tu Sĩ Việt Nam đã được thành lập như một hội thân hữu bao gồm các Linh mục và Tu Sĩ nam nữ được gửi đi du học tại miền Bắc Mỹ, bao gồm Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại. Nhưng sau biến cố 1975, số Linh mục, Tu Sĩ nam nữ tại Hoa Kỳ do hoàn cảnh lịch sử đã tăng lên gấp bội nên các thành viên Cộng Ðồng đã họp tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania, và quyết định thành lập riêng Cộng Ðồng Giáo Sĩ và Tu Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tuy vẫn mang tính cách thân hữu và tương trợ nhưng không quy tụ riêng các linh mục tu sĩ du học, mà phần đông là các Linh mục Tu Sĩ nam nữ di cư đang phục vụ tại các Giáo xứ và Cộng đoàn Công giáo Việt Nam hoặc đang sinh hoạt trong các tu viện nam nữ khắp đất nước Hoa Kỳ.
Hiện nay Cộng Ðồng Giáo Sĩ Tu Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ gồm khoảng 520 linh mục dòng và triều, 32 Phó Tế Vĩnh Viễn, trên 1,000 tu sĩ nam nữ, chủng sinh và đệ tử. Từ nhiều năm nay, Cộng Ðồng Việt Nam này vẫn được Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ đánh giá cao, vì đã cung cấp rất nhiều ơn kêu gọi cho các giáo phậân và tu viện nam nữ tại Hoa Kỳ. Chỉ tính từ năm 1975 đến nay, đã có trên 250 linh mục Việt Nam thụ phong tại đây và đang hăng say phục vụ trong các giáo phận Mỹ. Một số khá đông linh mục Việt Nam được bổ nhiệm làm cha sở coi sóc các giáo xứ địa phương của người Mỹ. Ðó là chưa nói đến hàng trăm tu sĩ nam nữ Việt đã khấn dòng và đang hoạt động trong các tu viện Việt - Mỹ và rất nhiều chủng sinh, tập sinh Việt Nam đang được huấn luyện tại các đại chủng viện hoặc các tu viện nam nữ Hoa Kỳ.
Trong nội bộ hệ thống tổ chức, Cộng Ðồng luôn luôn cố gắng thực hiện mục đích tương trợ trên các lãnh vực tinh thần, tu đức, mục vụ và tông đồ. Vì thế, Cộng Ðồng Giáo Sĩ và Tu Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ được chia thành 8 miền theo số giáo dân và theo địa dư để dễ dàng thực hiện việc liên kết và sinh hoạt thường xuyên:
1 - Miền Ðông Bắc Hoa Kỳ gồm 8 tiểu bang: Maine, New Hampshire, Rhode Island, Vermont, New York, New Jersey, Massachusetts và Connecticut.
2 - Miền Trung Ðông Hoa Kỳ gồm 6 tiểu bang: Delaware, Pennsylvania, Maryland, Virginia, West Virginia và Thủ đô Washington DC.
3 - Miền Trung Hoa Kỳ gồm 14 tiểu bang: Illinois, Indiana, Iowa, Kentucky, Ohio, Kansas, Michigan, Minnesota, Missouri, Nebraska, North Dakota, South Dakota, Wisconsin và Wyoming.
4 - Miền Ðông Nam Hoa Kỳ gồm 9 tiểu bang: Alabama, Arkansas, Georgia, Louisiana, Missisipi, Tennessee, North Carolina, South Carolina và Florida.
5 - Miền Nam Hoa Kỳ gồm 3 tiểu bang: New Mexico, Oklahoma và Texas.
6 - Miền Tây Nam Hoa Kyø gồm 4 tiểu bang: Arizona, South California, Guam và Hawai.
7 - Miền Tây Hoa Kỳ gồm 3 tiểu bang: North California, Colorado và Nevada.
8 - Miền Tây Bắc Hoa Kỳ gồm 6 tiểu bang: Idaho, Montana, Oregon, Utah, Washington và Alaska.
Mỗi miền có ban chấp hành riêng do các linh mục và tu sĩ nam nữ bầu lên để phục vụ anh chị em với nhiệm kỳ 4 năm. Các thành viên trong miền thường xuyên có những sinh hoạt tương trợ nhau như tĩnh tâm, hành hương và trao đổi các sinh hoạt mục vụ.
b) Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ:
Trước biến cố tháng tư đen năm 1975, tổng số người Việt Nam tại Hoa Kỳ khoảng trên 3,000 người. Nhưng cuối năm 1975 đã tăng vụt lên hàng trăm ngàn. Hiện nay sau 25 năm tổng số đã lên tới trên 1,500,000 người. (Ðây là con số mà Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã đề cập trong bài diễn văn đọc tại viện Ðại Học Quốc Gia Việt Nam tại Hà Nội trong chuyến viếng thăm ngày 17 tháng 11, 2000). Trong tổng số này, theo ước lượng khá chính xác từ các Giáo xứ, các Cộng đoàn Công Giáo Việt nam tại các tiểu bang, có khoảng 35 % là người Công giáo. Do đó tổng số người Công giáo tại Hoa Kỳ khoảng từ 450,000 đến 500,000 giáo dân. Ðây là số giáo dân khá đông đảo gầân bằng tổng số giáo dân tại hai Giáo phận lớn nhất Việt Nam là Tổng Giáo Phận Sàigòn và Giáo phận Xuân Lộc.
Cùng với các đồng bào khác, người Công Giáo Việt Nam sinh sống rải rắc khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ. Ngay cả tiểu bang Alaska lạnh lẽo giá buốt quanh năm tuyết phủ hoặc tiểu bang hải đảo Hạ Uy Di, nơi được mệnh danh là thiên đàng hạ giới, cũng có một cộng đoàn công giáo Việt Nam trên 500 giáo dân.- Những tiểu bang quy tụ đông đảo giáo dân Việt Nam nhất là các tiểu bang: Nam California nơi có Giáo phận Orange vớiù 12 cộng đoàn công giáo Việât do 18 linh mục săn sóc. Nơi đây cũng có Tiểu Sài Gòn (Little Saigon) được coi như Thủ Ðô Người Việt Hải Ngoại. Cũng tại Nam California, còn có 10 cộng đoàn Việt Nam thuộc Tổng Giáo Phận Los Angeles; Tại miền Nam California, trong Giáo Phận San Diego có 9 cộng đoàn công giáo Việt Nam; Tại miền Bắc California trong Giáo Phận San Jose, nơi có Giáo xứ St Patrick và 3 cộng đoàn nhưng số giáo dân Việt không dưới 25,000 người; Tại tiểu bang Texas, miền Nam Hoa Kỳ, hàng chục Giáo xứ và Cộng đoàn Công giáo Việt Nam sinh hoạt sát cạnh nhau rất sầm uất trong các thành phố hoặc thị trấn như Houston, Austin, Arlington, Dallas, Forthworth. Bên cạnh đó là tiểu bang Louisiana, các giáo xứ và cộng đoàn Việt Nam hoạt động rất hăng say trong các giáo phận New Orleans, Baton Rouge, Biloxi. Các tiểu bang khác cũng có đông đảo Giáo xứ và cộng đoàn Công giáo Việt Nam như Georgia, Maryland, Virginia, Washington DC, Pennsylvania (Philadelphia), Illinois (Chicago, Joliet), Michigan (Grand Rapids, Lansing, Detroit) v.v.
Tại 50 tiểu bang Hoa Kỳ, người công giáo Việt Nam sống quy tụ và sinh hoạt rất đều đặn trong 250 cộng đoàn được các linh mục Việt Nam coi sóc do các Giám mục địa phương bổ nhiệm. Trong số này hiện đã có 30 cộng đoàn được chính thức trở thành Giáo Xứ thể nhân. Theo giáo luật, tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ cũng như giáo dân Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ, đều trực thuộc hệ thống tổ chức của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ về phương diện tôn giáo hành chánh và mục vụ.
Tưởng cũng nên biết: Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ trực thuộc Tòa Thánh Vatican có tổng số giáo dân là 62,018,436, chiếm 23 % dân số toàn nước Mỹ (Dân số Hoa Kỳ tính đến tháng 12/1999: 272,878,000 người), được phân phối trong 33 Giáo tỉnh, 189 Giáo Phận, 19,583 Giáo Xứ, 586 bệnh viện, 2,260 cơ quan xã hội, hàng ngàn đại học, trung tiểu học công giáo do các dòng tu điều hành. Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ là một tổ chức tôn giáo rất vững mạnh từ trung ương đến các xứ đạo và rất có uy tín trong cũng như ngoài nước.
Văn Phòng Mục Vụ Ngoại Kiều của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ (National Conference of Catholic Bishops = NCCB) cũng đặt một Văn Phòng Mục Vụ Việt Nam để giúp các sinh hoạt tôn giáo cho các cộng đoàn không có linh mục Việt Nam. Bên cạnh Hội Ðồng này còn có Hội Ðồng Công Giáo Hoa Kỳ (United States Catholic Conference = USCC) là cơ quan bất vụ lợi, mà trong 25õ năm qua đã giúp đỡ rất nhiều cho đông đảo gia đình Việt Nam không phân biệt tôn giáo trong thủ tục nhập cảnh và định cư tại Hoa Kỳ.
Theo tài liệu Văn Phòng Chủ Tịch Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam công bố trong Niên Lịch Phụng Vụ năm 2001, Liên đoàn đã tổ chức liên tiếp các kỳ Ðại Hội dưới đây:
- Năm 1980, Ðại Hội Công Giáo Việt Nam lần I được tổ chức long trọng tại thành phố Mountainview, tiểu bang California. Trong Ðại Hội này, Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam đã được chính thức thành lập và ra mắt trước sự chứng kiến của Ðức Sứ Thần Tòa Thánh, Ðức Tổng Giám Mục Chủ Tịch Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ, Ðức Giám Mục Chủ Tịch Ủy Ban Di Trú và Ðịnh Cư của Hội Ðồng Công Giáo Hoa Kỳ (USCC) và hầu hết các Giám Mục thuộc các giáo phận có đông đảo giáo dân Việt Nam.
- Năm 1984, Ðại Hội Công Giáo Việt Nam lần II được tổ chức lớn lao tại thành phố New Orleans, tiểu bang Louisiana, quy tụ khoảng 15,000 giáo dân từ khắp các tiểu bang đổ về, nói lên sự lớn mạnh và sức sống phong phú của người Công Giáo Việt Nam tỵ nạn tại Hoa Kỳ.
- Năm 1989, Ðại Hội Công Giáo Việt Nam lần III được tổ chức tại Giáo Phận Orange, tiểu bang California, quy tụ trên 20,000 giáo dân, để mừng kính 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam vừa được tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1988.
- Năm 1993, Ðại Hội Công Giáo Việt Nam Ngoại Thường được tổ chức tại Thủ phủ Denver, tiểu bang Colorado, nhân dịp Ðại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ VIII tổ chức tại đây. Trong Ðại Hội này, Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam được vinh dự đón tiếp Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong một cuộc triều yết đặc biệt dành cho giáo dân Việt Nam, một vinh dự mà không sắc dân nào được có trong Ðại Hội Giới Trẻ này. Trên 15,000 người Việt Nam, hơn một nửa là giới trẻ, đã hân hoan sung sướng được nghênh đón Ðức Thánh Cha và trực tiếp nghe Sứ Ðiệp lần đầu tiên Ngài gửi cho người Việt Nam khắp thế giới cũng như tại quê nhà.
- Năm 1998, Ðại Hội Công Giáo Việt Nam lần IV được tổ chức tại Giáo phận Orange, California, để long trong mừng kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam, để an ủi giáo dân trong thời Văn Thân bách hại đạo Công giáo, đồng thời chuẩn bị mừng Năm Thánh 2000.
- Ðại Hội Công Giáo Việt Nam lần V được dự trù tổ chức vào tháng 8 năm 2001, với sự hỗ trợ của Dòng Ðồng Công, tại thành phố Carthage, tiểu bang Missouri, nhân dịp Dòng Ðồng Công tổ chức Ðại Hội Thánh Mẫu Thường Niên lần thứ 24.
Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ được điều hành do một Ban Chấp Hành Trung Ương, gồm vị Chủ Tịch do Cộng Ðồng Giáo Sĩ Tu Sĩ bầu lên và một số linh mục, tu sĩ và giáo dân khác. Mỗi nhiệm kỳ là 4 năm. Theo nội quy, Chủ Tịch Cộng Ðồng Giáo Sĩ Tu Sĩ cũng kiêm Chủ Tịch Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam. Ban Chấp Hành này có nhiệm vụ thi hành các quyết định của Ðại Hội 4 năm một lần và các quyết định khác của Hội Ðồng Lãnh Ðạo Trung Ương gồm các vị Chủ Tịch Miền và Ban Thường Vụ Trung Ương. (Xem Niên Lịch Phụng Vụ Công Giáo, Năm 2001, trg 235 - 236).
c) Các Dòng Tu Nam Nữ Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Có thể nói tất cả các dòng tu nam nữ mà trước năm 1975, người ta thấy đã sinh hoạt tại Việt Nam đều được tái lập và sinh hoạt rất phong phú và rất đắc lực tại Hoa Kỳ. Thêm vào đó, nhiều thanh niên thiếu nữ Công Giáo Việt Nam còn xin gia nhập vào nhiều dòng tu khác hiện đang hoạt động trong các Giáo Phận Hoa Kỳ, mà trước đây chưa thấy xuất hiện tại Việt Nam. Chính ưu điểm phong phú về ơn gọi đi tu này đã giải thích lý do tại sao các Giám Mục Hoa Kỳ rất quý mến giáo dân Việt Nam.
Trong các Dòng Tu Nam đang hoạt động tại Hoa Kỳ, người ta thấy có: Dòng Tên, Dòng Ða Minh, Dòng Phanxicô, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Bênêđitô, Dòng Ðức Mẹ Ðồng Công, Dòng Truyền Giáo Ngôi Lời, Dòng Salésien Don Bosco, Dòng Maryknoll, Dòng Sư Huynh La San, Dòng Thánh Thể, Dòng Chúa Thánh Thần, Dòng Thánh Tâm, Dòng Truyền Giáo Phanxicô Xavier, Tu Hội Nhà Chúa, Tu Hội Tậân Hiến. Một cách khách quan, chúng tôi nhận thấy những dòng tu nam như Dòng Ðồng Công, Dòng Ngôi Lời, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Ða Minh là những dòng đã khá thành công tại Hoa Kỳ vì phát triểàn nhân lực mạnh và sinh hoạt đa dạng.
Dòng Ðức Mẹ Ðồng Công do Cha Trần Ðình Thủ sáng lập tại Giáo phận Bùi Chu, Bắc Việt Nam năm 1952, hiện có Chi Dòng tại thành phố Carthage, tiểu bang Missouri, Hoa Kỳ, với trên 60 linh mục, có Tập Viện, Ðệ Tử Viện riêng, hàng năm tổ chức Ðại Hội Thánh Mẫu quy tụ từ 50,000 đến 70,000 giáo dân Việt Nam về tham dự. Hiện các linh mục dòng còn nhận coi sóc nhiều cộng đoàn và giáo xứ Việt Nam tại Hoa Kỳ.- Dòng Truyền Giáo Ngôi Lời (Society of The Divine Word), trụ sở trung ương tại thành phố Chicago, tiểu bang Illinois, là một dòng tu quốc tế do Chân Phước Arnold Jansen thành lập năm 1875 tại Hòa Lan, hiện có 5,800 thành viên đủ các sắc tộc trên thế giới và đang hăng say phục vụ tại 59 quốc gia trong các lãnh vực tôn giáo, giáo dục, kỹ nghệ, y tế, canh nông. Trong 25 năm qua, giới trẻ Việt Nam gia nhập dòng này khá đông, hiện có 30 linh mục dòng là người Việt và tại viện Triết Học, chủng sinh Việt đã chiếm tỷ lệ áp đảo 90 trên 135 tổng số (1998).
Các Dòng Tu Nữ Việt Nam đang hoạt động tại Hoa Kỳ, người ta thấy có: Dòng Nữ Tu Ða Minh, Dòng Kín Camêlô, Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Dòng Phan Sinh Thừa Sai, Dòng Mến Thánh Giá của các Giáo Phận: Phát Diệm, Thanh Hóa, Thái Bình, Vinh, Quy Nhơn, Sài Gòn (Chợï Quán), Hà Nội, Huế, Dòng Ðức Mẹ Mân Côi, Dòng Chúa Chiên Lành, Dòng Ðức Mẹ Trinh Vương, Dòng Vinh Sơn Phaolô, Dòng Nữ Salésienne, Dòng Nữ La San, Dòng Daughters of St Paul, Dòng Christian Charity, Dòng Franciscan Mission of Mary, Dòng Sisters of the Holy Family of Nazareth, Dòng Thánh Phêrô Clavier, Dòng Nữ Tử Bác Ái Kytô Giáo, Dòng Nữ Tỳ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Tu Hội Tận Hiến, Tu Hội Tình Thương. - Trong các dòng Nữ Việt Nam đang sinh hoạt tại Hoa Kỳ, người ta thấy: Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm có trụ sở chính tại Santa Anna, tiểu bang California và Dòng Nữ Tu Ða Minh, có nhà mẹ tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, là hai dòng nữ phát triển mạnh nhất, vì hiện có rất đông nữ tu, có tập viện, đệ tử viện riêng và sinh hoạt rất đa dạng phong phú.
d) Các Sinh Hoạt Tôn Giáo,Văn Hóa, Xã Hội:
Là những người Việt Nam lưu vong, trong bất cứ hoàn cảnh vui buồn nào, Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, từ các giáo sĩ, tu sĩ nam nữ tới giáo dân, luôn luôn hòa mình chung sống với mọi người Việt định cư tại đây. Trong các cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ nhân quyền cho quê hương, trong vận động tranh đấu cho các thuyền nhân, các cựu tù nhân chính trị được định cư tại Hòa Kỳ, trong các cuộc tổ chức lạc quyên, đi bộ gây quỹ, giúp đồng bào tại các trại tỵ nạn Ðông Nam Á, đặc biệt tại làng Việt Nam Palawan, Phi Luật Tân, người giáo dân Việt Nam, không phân biệt già trẻ lớn bé nam nữ, đã cùng bắt tay với mọi đồng bào các tôn giáo khác chung tay hợp tác hoạt động, với ước mong quê hương thứ hai này trở thành nơi an cư lạc nghiệp trù phú thịnh vượng, đem lại hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng và cho xã hội, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ khôi phục và tái thiết quê hương ngàn trùng xa cách. Trong bất cứ đoàn thể chính trị, xã hội, văn hóa nào được tổ chức trong các Cộng Ðồng Việt Nam tại các tiểu bang, người ta thấy người công giáo Việt Nam đều hăng say tích cực tham gia hoạt động.
Trong bầu không khí tự do sống đạo và hành đạo, có nhìn thấy những hình ảnh giáo dân Việt Nam hàng ngày đến các thánh đường cầu nguyện sớm tối, nhận lãnh các bí tích, đặc biệt các thánh lễ Chúa Nhật giáo dân tấp nập đến thánh đường các giáo xứ và cộng đoàn dâng lễ, để cùng ca hát cầu kinh bằng tiếng Việt thân yêu, để gặp gỡ nhau, người ta mới cảm nhận được tinh thần sống đạo mạnh mẽ đã trở thành lẽ sống, mà trước đây họ đã liều mình đánh đổi sinh mạng vượt biển đi tìm tự do. Trong hầu hết các cộng đoàn giáo xứ công giáo Việt tại Hoa Kỳ, hàng tuần các linh mục đều phát hành tờ Thông Tin nội bộ, tổ chức các hội đoàn Công Giáo Tiến Hành, các lớp Giáo Lý, các lớp Việt Ngữ để các trẻ em học hỏi thêm về ngôn ngữ, lịch sử và truyền thống dân tộc.
Trong lãnh vực Văn Hóa, ngoài các nhật báo, tuần báo, nguyệt san, đặc san do các vị chủ nhiệm là người công giáo điều hành, trong Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, người ta thấy có: Nguyệt san Hiệp Nhất, do các Cộng Ðoàn Giáo phận Orange, California phát hành; Nguyệt san Dân Chúa, tòa soạn tại Gretna, tiểu bang Louisiana, đây là ấn bản Dân Chúa Mỹ Châu, ngoài ra còn có ấn bản Dân Chúa Âu Châu, phát hành tại Ðức Quốc và ấn bản Dân Chúa Úc Châu, phát hành tại Flemington, Victoria, Úc châu; Nguyệt san Ðức Mẹ Hàng Cứu Giúp do Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại tại thành phố Long Beach, California ấn hành; Nguyệt san Trái Tim Ðức Mẹ, do Chi Dòng Ðức Mẹ Ðồng Công tại thành phố Carthage, Missouri chủ trương; tạp chí Người Tín Hữu do linh mục Dao Kim và một số linh mục, giáo dân chủ trương với mục đích xây dựng tâm linh con người thời đại mới; đặc san Sứ Ðiệp do các linh mục và giáo dân tiểu bang Massachusetts ấn hành; đặc san Thờiø Ðiểm Công Giáo phát hành tại Garden Grove, California; đặc san Ðồng Hành do Phong Trào Linh Thao Hoa Kỳ, Canada và Pháp chủ trương; đặc san Tuyển Tập Thần Học do một nhóm giáo sĩ và giáo dân Việt Nam thực hiện không định kỳ để giúp độc giả theo dõi và học hỏi Thần Học Công giáo. Sau cùng là tạp chí Người Tín Hữu, phát hành tại Houston, Texas, nhằm mục đích xây dựng tâm linh con người thời đại mới.
Trong lãnh vực truyền thông, Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam cũng có nhiều chương trình phát thanh công giáo: Tiếng Vọng Tình Thương phát thanh tại thành phố San Jose, Bắc California; Sống Ðức Tin do cơ sở truyền thông Hiệp Nhất, Santa Ana phụ trách; Radio Mẹ Hằng Cứu Giúp do Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế thực hiện; Ánh Sáng Tin Mừng do các linh mục và một nhóm giáo dân vùng Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn thực hiện hàng tuần và đã đưa lên mạng lưới thông tin toàn cầu từ năm 1998; Chương Trình Sống Ðạo do Giáo xứ St Patrick San Jose chủ trương; Hội Luận Sống Ðạo do một nhóm giáo dân Giáo phận Orange phụ trách. - Trong lãnh vực Truyền hình, có chương trình Ánh Sáng Niềm Tin do một số giáo dân giáo phận Orange thực hiện.
Một điểm son đáng chú ý nhất trong lãnh vực truyền thông mà Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đã thực hiện và được mọi người tán thành: Ðó là Thông Tấn Xã Công Giáo Việt Nam (http://www.vietcatholic.net) từ năm 1996 đã được đưa lên mạng lưới thông tin toàn cầu do linh mục Trần Công Nghị và một nhóm kỹ sư thực hiện. Ngoài ra cũng có tổ chức Người Tín Hữu (http://www.nguoitinhuu.com) do linh mục Nguyễn Dao Kim và một số giáo dân chuyên viên chủ trương từ năm 1997. Qua hai mạng lưới thông tin toàn cầu này, mọi người Việt Nam trên khắp thế giới có thể liên lạc, nhận và gửi tin tức đi khắp nơi, miễn là họ có máy điện toán.
Ðối với các du khách Việt Nam và ngoại quốc, người ta không thể quên không giới thiệu những cơ sở mang sắc thái truyền thống dân tộc ngay giữa lòng dân tộc Hoa Kỳ: Ðó là Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, tọa lạc tại 1538 North Century Blvd, thành phố Santa Ana, tiểu bang California, với tháp chuông và cổng tam quan giống thánh đường Phát Diệm. Ðây là công trình kiến trúc do 12 cộng đoàn công giáo Giáo phận Orange thực hiện và Ðức Ông Nguyễn Ðức Tiến làm Giám Ðốc. Tại nơi đây thường xuyên có thánh lễ, các lớp Giáo lý, lớp Việt Ngữ và các sinh hoạt văn hóa như ra mắt sách, hội thảo, các sinh hoạt hội đoàn và hội họp.- Tại vùng Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn, ngày 4 tháng 11, 2000 vừa qua, một thánh đường với đường nét và màu sắc hoàn toàn Việt Nam mới được khánh thành. Thánh đường mái cong, ngói đỏ, ba tầng, với kiến trúc hình vuông tượng trưng bánh chưng bánh dày do linh mục Nguyễn Thanh Long và Giáo Xứ Mẹ Việt Nam thực hiện.
CỘNG ÐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI PHÁP QUỐC.
Ðọc lịch sử Việt Nam, người ta thấy đối với các nước trong Cộng Ðồng Âu Châu, không có quốc gia nào mà hoàn cảnh lịch sử đã tạo thành những liên hệ chính trị, tôn giáo, xã hội với Việt Nam bằng nước Pháp. Từ thế kỷ XVII, những liên hệ này còn mờ nhạt nhưng đã trở thành sâu đậm vào đầu thế kỷ XIX, khi nước Pháp áp đặt chế độ thuộc địa gần một trăm năm trên đất nước ta trong thời nhà Nguyễn.
Trên lãnh vực tôn giáo, nước Pháp được coi như một quốc gia toàn tòng công giáo với những địa danh công giáo nổi tiếng khắp thế giới như Ðại Vương Cung Thánh Ðường Notre Dame de Paris, Trung Tâm Hành Hương Lourdes, Vương Cung Thánh Ðường Lisieux, Chartres, Sacré Coeur, Reims, Strasbourg v.v.
Nếu tôi không nhầm, Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại có nguồn gốc lịch sử lâu đời nhất phải là Cộng Ðồng Việt Nam trên đất Pháp. Nó bắt nguồn từ khi Việt Nam còn sống dưới chế độ Pháp thuộc. Nhiều chàng thanh niên Việt đã tình nguyện hoặc bị ép buộc đi lính khố xanh khố đỏ cho mẫu quốc trong Ðệ I Thế Chiến (1914 - 1918) đánh nhau với Ðức. Sau đó nhiều chàng trai đất Việt trong đoàn quân viễn chinh đã tình nguyện ở lại định cư tại đây. Thảng hoặc có những phụ nữ Việt lấy chồng là người Pháp hoặc quân nhân Pháp, cuộc chiến tàn, theo chồng trở về cố hương. Với những người thuộc thế hệ thứ nhất này, hiện nay đã có ba bốn thế hệ kế tiếp từ thượng bán thế kỷ XX đến nay. Tiếp theo là những đoàn du học sinh được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hoặc các gia đình gửi sang Pháp theo học. Sau năm 1975 là những người Việt đến Pháp theo diện đoàn tụ gia đình và những thuyền nhân được Pháp bảo lãnh. Theo một thống kê không chính thức được công bố thì Cộng Ðồng Người Việt tại Pháp có tới 250,000 người, sống rải rắc khắp các thành phố từ Thủ Ðô Paris và phụ cận, đến Marseille, Toulouse, Lyon, Nice, Bordeaux, Nantes v.v.
Sau Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, người ta phải nói ngay đến Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Pháp vì những liên hệ tình nghĩa anh em giữa hai Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và Pháp Quốc. Theo dõi vết chân các nhà truyền giáo tiên khởi đến đất nước Việt Nam, hiện nay người ta vẫn còn ghi nhớ công ơn cao quý của một khuôn mặt lớn là Giáo Sĩ Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes) với sự nghiệp soạn thảo cuốn Tự Ðiển Việt Bồ La đầu tiên năm 1651, đặc biệt công trình nghiên cứu la tinh hóa chữ quốc ngữ (Việt Ngữ) và đào tạo các linh mục Việt Nam đầu tiên. Ngoài ra người ta cũng nhớ ơn Ðức Giám Mục Lambert de la Motte với sáng kiến thành lập Hội Dòng Mến Thánh Giá, một dòng nữ đầu tiên dành cho các thiếu nữ Việt muốn dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và tha nhân năm 1670.
Ðối với những giáo dân Việt Nam lớn tuổi thuộc các thế hệ trước, hình ảnh những linh mục thừa sai ngoại quốc, từ những phương trời xa, tình nguyện từ giã quê hương đến đất nước chúng ta, hội nhập vào phong tục tập quán nước Việt, học tiếng Việt, với mục đích duy nhất Rao Giảng Tin Mừng Ðức Kytô cho người dân Việt, từ thành thị tới miền thôn quê hoặc các đồng bào sắc tộc nơi miền rùng núi Cao Nguyên và Thượng Du, vẫn là những hình ảnh đẹp khó phai mờ trong tâm trí giáo dân và chắc chắn không bao giờ phai mờ trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
Theo những tài liệu lịch sử: Ðể đáp ứng nhu cầu huấn luyện các nhà truyền giáo, Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê (Les Missions Etrangères de Paris) đã được thành lập năm 1663, tại số 128 Rue du Bac, Thủ Ðô Paris, nước Pháp. Nơi đây đã trở thành cái nôi đào tạo hàng ngàn linh mục thuộc nhiều quốc tịch Âu Châu, đặc biệt các thanh niên Pháp, muốn tình nguyện dâng hiến cuộc đời để thi hành sứ mệnh truyền giáo mà Ðức Kytô đã kêu mời họ. Dòng dã trong thời gian dài 337 năm (2000 - 1663), tại nơi đây biết bao thế hệ nhà truyền giáo đã được sai đi, những bước chân họ đã đặt tới các quốc gia xa xôi thuộc Á Châu và Viễn Ðông trong đó có Việt Nam.- Do đó ngày nay đến viếng thăm phòng khách Hội Thừa Sai Ba Lê, du khách sẽ không ngạc nhiên khi thấy một bia đá cẩm thạch lớn mang dòng chữ "Reconnaissance à la Société des Missions Etrangères de Paris (1658 - 1958) " (Tri ân Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê, Kỷ niệm 300 năm) do Ðức Hồng Y tiên khởi Giuse Trịnh Như Khuê, Tổng Giám Mục Hà Nội, đã tặng trước khi ngài qua đời. Ðúng là phong cách lịch lãm của người Việt chúng ta ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Hiện nay vì hoàn cảnh đặc biệt, các linh mục thừa sai ngoại quốc không được trực tiếp đến phục vụ tại Việt Nam, Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê đã cấp học bổng cho gần 50 linh mục Việt sang du học tại Pháp và hiện đang sống tại đại chủng viện này. Ðây là một sáng kiến rất đáng ca ngợi và rất ý nghĩa trong kế hoạch "trồng người". Ngoài ra Hội Thừa Sai còn có một thư viện rất lớn với đầy đủ rất nhiều tài liệu quý giá liên quan đến đất nước và Giáo Hội Việt Nam. Nhưng điểm đặc sắc nhất vẫn là Hội đã có sáng kiến thành lập Phòng Triển Lãm các Thánh Tích Tử Ðạo, từ năm 1843, với những chiếc gông, chiếc xiềng, chiếc khăn thấm máu đào tử đạo, giây thừng treo cổ, sắc lệnh nhà vua cấm đạo bằng Hán tự, những bộ xương khô, những chiếc sọ của các vị Tử Ðạo Việt Nam đặït trong khung kính. Tuy chỉ là một bảo tàng viện nhỏ nhưng có giá trị lịch sử rất lớn, vì không nơi nào trong ngoài nước hiện nay còn lưu giữ.
Theo những tài liệu riêng, chúng tôi được biết Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Pháp, ngoài 2 giám mục hưu trí là Ðức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện, nguyên Giám Mục Vĩnh Long (1961 - 1968), hưu tại Les Cèdres, Nice, Pháp và Ðức Cha André Jacques, Dòng Ða Minh, nguyên Giám Mục Lạng Sơn, hưu tại Sens, Pháp, hiện nay tại Pháp có số giáo sĩ khá cao là 140 linh mục dòng triều, 4 phó tế vĩnh viễn, 20 đại chủng sinh và rất đông nữ tu Việt Nam. - Trong đó có khoảng 50 linh mục dòng và tu sĩ nam hiện đang du học hoặc sinh hoạt trong các dòng nam như: Dòng Tên, Dòng Bênêđitô, Dòng Ða Minh, Dòng Phan Sinh, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Lazaristes, Dòng Thánh Thể, Dòng Oblats de Marie, Dòng Maristes, Tu Hội Xuân Bích, Dòng Spiritain, Dòng Trinitaire, Dòng Sainte Famille v.v. Bên các dòng nữ, người ta thấy có khoảng 130 nữ tu đang sinh hoạt trong các nữ tu viện như Dòng Kín Camêlô, Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Dòng Nữ Xitô, Dòng Nữ Ða Minh, Dòng Nữ Bênêđitô, Hội Dòng Mến Thánh Giá các Giáo phận: Sàigòn, Hà Nội, Huế, Phát Diệm, Dòng Ðức Bà Truyền Giáo, Dòng Chúa Quan Phòng, Dòng Tiểu Muội (Petites Soeurs de Jésus), Dòng Agneau de Dieu, Dòng Assomption, Dòng Augustines Hospitalières, Dòng Apostolique de St Jean, Dòng Clarisses de Roman, Dòng Oblates Mariales, Dòng Charité de Ste Jeanne, Dòng Fraternité de Jérusalem, Dòng Fraternité de Bethléem, Tu Hội Oeuvres de Saint Paul và một số các hội dòng và tu hội đặc biệt khác. Tất cả các linh mục dòng triều và tu sĩ nam nữ đều sinh hoạt trong Hội Liên Tu Sĩ Việt Nam được thành lập từ nhiều năm nay tại Pháp.
Người ta không rõ tổng số giáo dân Việt tại Pháp là bao nhiêu, vì một số khá đông qua nhiều thế hệ đã gia nhập Pháp tịch, đang sinh hoạt trong các giáo xứ Pháp, nhưng chắc chắn tổng số này lên tới hàng chục ngàn đang thường xuyên sinh hoạt trong các cộng đoàn công giáo Việt Nam tại các Giáo Phận nước Pháp.- Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Pháp có một Giáo Xứ Việt Nam duy nhất ngay tại Thủ đô Paris, đã sinh hoạt từ nhiều năm nay, qua nhiều vị giám đốc và hiện nay trở thành Trung Tâm Công Giáo Việt Nam do Ðức Ông Mai Ðức Vinh quản nhiệm.,
Người Công Giáo Việt Nam tại Pháp, ngoài những sinh hoạt như lớp Giáo Lý, lớp Việt ngữ, các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành, vẫn thường xuyên tích cực tham gia các sinh hoạt đấu tranh chính trị, những hoạt độâng văn hóa và xã hội với mọi người trong Cộng Ðồng Người Việt tại Pháp. Trong lãnh vực truyền thông, từ nhiều năm nay người ta thấy xuất hiện tam cá nguyệt san Tin Nhà, do một số linh mục, tu sĩ và giáo dân và một số văn hữu biên sọan và phát hành.
CỘNG ÐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI Ý QUỐC.
Theo hệ thống tổ chức, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là thành viên của Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ mà trung tâm điểm là Tòa Thánh Vatican, trong nội vi Thủ đô Rôma, Ý Quốc. Vị lãnh đạo tối cao hiện nay là Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người Ba Lan, 80 tuổi, sinh ngày 18 tháng 5, 1920, lên ngôi giáo hoàng ngày 16 tháng 10, 1978. Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 264 kế vị Thánh Phêrô, Tông Ðồ Trưởng. Ðể hỗ trợ Ngài điều hành Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, bao gồm trên một tỷ giáo dân trên khắp thế giới, có Giáo Triều Vatican, gồm 11 thánh bộ, 11 Hội Ðồng Giáo Hoàng và 3 tòa án: tối cao pháp viện, ân giải tối cao và chống án trung ương, do các Hồâng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục và Tu sĩ đảm nhiệm. Giáo triều Vatican được coi như một thứ siêu chính phủ với đầy đủ quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp bao trùm mọi giáo dân khắùp thế giới.
Theo dòng lịch sử, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tuy trực thuộc Tòa Thánh Vatican nhưng giữa Ý Quốc và Việt Nam không có những liên hệ lịch sử như Hoa Kỳ và Pháp Quốc. Tổng số người Việt Nam và giáo dân định cư tại Ý Quốc rất hạn chế, khoảng 3,000 người, gồm một số nhỏ nhân viên Tòa Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa định cư tại đây sau biến cố 1975, hoặc một số thuyền nhân được Chính Phủ Ý bảo trợ và một số chủng sinh Việt Nam vượt biển để tiếp tục con đường tu trì được Bộ Truyền Giáo nhận năm 1979. Nhưng trên khía cạnh khác, Tòa Thánh Vatican hoặc Thủ Ðô Rôma lại là nơi quy tụ rất nhiều thế hệ chủng sinh, linh mục, tu sĩ nam nữ do các giáo phận gửi đi du học và tu tập. Ðó là nguyên nhân giải thích sự xuất hiện Hội Liên Tu Sĩ Rôma (LTSR) được chính thức thành lập năm 1957, cách đây 43 năm (2000 - 1957).
Tiền thân của Liên Tu Sĩ Rôma là Hội Alma Mater do Ðức Cha Ngô Ðình Thục khởi xướng và thành lập từ năm 1918, với các lớp chủng sinh đầu tiên được coi như các vị tiền bối do các Giáo Phận gửi đi du học Rôma: Huếù (Gm Ngô Ðình Thục, Lm Lành); Hà Nội (Lm Phạm Bá Trực, Lm Nguyễn Văn Huấn); Phát Diệm (Lm Luca San); Sàigòn (Lm Triệu); Quy Nhơn (Lm Tín). - Trong niên khóa 1997 - 1998, Liên Tu Sĩ Rôma có tất cả 124 hội viên: 1 Tổng Giám Mục; 35 Linh mục triều dòng; 3 Phó Tế; 15 chủng sinh và trợ sĩ và 72 nữ tu thuộc các dòng: Nữ tu Ða Minh, Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Mến Thánh Giá Phát Diệm, Vô Nhiễm Phú Xuân, Nữ Salésienne và L'éau Vive.
Theo tài liệu tập Kỷ Yếu phát hành kỷ niệm 40 năm thành lập (1957 - 1997), Hội Liên Tu Sĩ Rôma được thành lập nhằm mục đích liên lạc giữa tất cả các anh chị em tu sĩ Việt Nam tại Rôma, để gây tình tương thân cộng tác trong hiện tại và tương lai. Do đó Hội liên tụïc hoạt động và mở rộng đón tiếp tất cả các thành viên linh mục, chủng sinh, tu sĩ nam nữ tới Rôma để du học hoặc làm việc. Ðể thực hiện mục đích này, Hội thường xuyên tổ chức các ngày lễ hội, đặc biệt thành lập Thư Viện Lê Bảo Tịnh tại trường Truyền Giáo và thường xuyên phát hành đặc san Liên Kết, sau này đổi thành tờ Liên Lạc Thông Tin Liên Tu Sĩ Rôma.
Tưởng cũng nên biết có 4 Học viện kỳ cựu danh tiếng mà các thế hệ chủng sinh, linh mục, tu sĩ Việt Nam khi được gửi đến Rôma du học và tu tập, mà sau này khi về nước được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục hay các chức vụ cao cấp khác hoặc ở lại phục vụ trong các cơ quan trung ương của Giáo Triều Vatican hoặc được hân hạnh chọn lựa vào ban giảng huấn của các đại học này. Ðó là Ðại Học Giáo Hoàng Urbano còn gọi là Trường Truyền Giáo (Pontificio Collegio Urbano di Propagande Fide) do Ðức Giáo Hoàng Urbano VIII thành lập năm 1627 tiếp nhận các chủng sinh từ các xứ truyền giáo đến Rôma; Ðại Học Thánh Phêrô Tông Ðồ (Pontificio Collegio San Pietro Apostolo) thành lập năm 1947, dành để huấn luyện các linh mục đến từ mọi miền trên thế giới khác biệt nhau về ngôn ngữ, chủng tộc, văn hóa và truyền thống; Học Viện Giáo Hoàng Truyền Giáo Quốc Tế Thánh Phaolô (Pontificio Collegio Internazionale Missionario di San Paolo Apostolo) do Thánh Bộ Phúc Âm Hóa Các Dân Tộc thành lập ngày 20 tháng 4, 1977, tiếp nhận các linh mục từ các giáo phận nhiều nước khác nhau trực thuộc thánh bộ này; Học Viện các Tu Sĩ Dòng Ða Minh còn gọi là Ðại Học Angelicum, dành riêng để đào tạo các linh mục, tu sĩ dòng Ða Minh. Học viện này là hậu thân của các trường: Giáo Hoàng Chủng Viện Thánh Albertô Nam Ðịnh thành lập năm 1930 và Học Viện Rosaryhill Hồng Kông (1954 - 1958).
Ngoài 4 học viện nói trên, người ta còn phải kể đến một số trường hoặc trụ sở dưới đây:
Foyer Phát Diệm còn gọi là Procura Vietnamita, thành lập năm 1948, là nơi trọ học và tiếp nhận các phái đoàn giáo sĩ tu sĩ Việt Nam và các đoàn hành hương từ các nơi đến Rôma; Trụ sở Dòng Chúa Cứu Thế; Nhà Bề Trên Tổng Quyền Dòng Thánh Phaolô thành Chartres; Nhà Bề Trên Tổng Quyền Dòng Xiô; North American College; Trụ sở Legionari di Christo; Collegio San Anselmo; Trụ sở Dòng Figlie di Maria Auxiliatrice (FMA); Trụ sở Dòng La San; Foyer Paolo VI, Cơ sở L' Eau Vive, Convitto Internazionale San Tomaso v.v..
Thật là một thiếu sót lớn lao nếu đề cập đến Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Ý Quốc mà quên không nhắc tới Chương Trình Phát Thanh Việt Ngữ của Ðài Phát Thanh Vatican (Radio Vatican), một đài do Ðức Cố Giáo Hoàng Piô IX khánh thành ngày 12 tháng 2, 1931, với sự cộng tác của ông Guglielmo Marconi, nhà bác học người Ý đã phát minh ra vô tuyến điện và được giải Nobel Vật Lý năm 1909, do Dòng Tên đảm nhiệm. Hiện nay Ðài Vatican hàng ngày phát thanh 40 Chương trình với 40 ngôn ngữ khác nhau.
Ngày 27 tháng 7 năm 1979, Ðức Cố Hồng Y Giuse Trịnh Như Khuê gửi thỉnh nguyện thư lên Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II xin thành lập Chương trình Việt Ngữ tại đài Vatican. Ðược Ðức Thánh Cha chấp nhận và trực tiếp can thiệp, Chương Trình Việt Ngữ tại Ðài Vatican đã chính thức phát sóng nửa đêm ngày 31 tháng 12 năm 1980 và vẫn tiếp tục đến ngày nay, với hai lần phát thanh mỗi ngày sáng tối và số lượng thời gian là 42 phút. Chương trình Việt Ngữ này còn phát sóng qua Internet từ năm 1998.
CỘNG ÐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI GIA NÃ ÐẠI
VÀ ÚC ÐẠI LỢI.
Ðọc lịch sử thế giới, người ta thấy Gia Nã Ðại và Úc Ðại Lợi đều là cựu thuộc địa của người Anh và thuộc Khối Thịnh Vượng Chung Anh Quốc. Nhưng với chúng ta, mối liên hệ giữa hai quốc gia này với Việt Nam chỉ trở nên gần gũi vào những thập niên cuối thế kỷ XX, khi Gia Nã Ðại tham gia Ủy Hội Quốc Tế Ðình Chiến sau Hiệp Ðịnh Genève ngày 20.07.1954 và nước Úc đưa quân đội vào tham chiến tại Việt Nam với tư cách là một quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ.
Nhưng sau biến cố tháng tư đen năm 1975, khi từng đoàn người Việt bỏ nước vượt biển đi tìm tự do, hai quốc gia này đã mở rộng vòng tay đón tiếp rất nhiều người Việt Nam đến định cư lập nghiệp. Trước đó nơi đây chỉ có một số nhỏ thanh niên thụ hưởng Chương Trình Học Bổng Colombo hoăïc gia đình tự túc du học. Như một vùng đất lành chim đậu, từng đoàn thuyền nhân trong các trại tỵ nạn Ðông Nam Á và Hồng Kông được hai Chính Phủ Úc và Gia Nã Ðại bảo trợ song song với các Chương Trình Ðoàn Tụ Gia Ðình, từ đó tạo thành hai Cộng Ðồng Người Việt tại Gia Nã Ðại và Úc Ðại Lợi. Theo nhận định chung của những nhà chuyên môn, hiện nay tổng số người Việt Nam tại mỗi quốc gia này vào khoảng trên dưới 250,000 người. Trong đó người Công Giáo Việt Nam sinh hoạt trong các Cộng Ðoàn Công Giáo trực thuộc các Giáo Xứ địa phương. Cũng như tại Hoa Kỳ, tổng số giáo dân tại hai quốc gia Úc và Gia Nã Ðại chiếm khoảng 35 % đối với Cộng Ðồng Người Việt Nam hai nơi đây.
Hai Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Úc và Gia Nã Ðại đều thuộc thành phần các gia đình trẻ, rất năng động, sinh hoạt đa dạng, trong nhiều tổ chức hội đoàn văn hóa, xã hội, chính trị khác nhau, ngoài các Hội Ðoàn Công Giáo Tiến Hành. Họ cũng là những chuyên gia, những huynh trưởng lãnh đạo trong các đoàn thể hăng say tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền cho Quê Hương.
Theo tài liệu, người ta thấy Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Úc có khoảng 56 linh mục dòng và triều và khá đông chủng sinh, nam nữ tu sĩ đang sinh hoạt tại các vùng New South Wales, Queenland, Victoria, Nam Úc, Tây Úc trong các dòng như Dòng Tên, Dòng Ða Minh, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Ngôi Lời, Dòng Don Bosco, Dòng Thánh Tâm, Dòng La San, Nữ Tu Ða Minh, Nữ Tử Bác Ái, Nữ Salésienne, Ðức Mẹ Trinh Vương, Dòng Tiểu Muội, Sisters of Mercy v.v.
Trong lãnh vực truyền thông, Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại đây có nguyệt san Dân Chúa, phát hành tại Flemington,Victoria, Úc. Ấn bản này song song với hai ấn bản Dân Chúa tại Hoa Kỳ và Âu Châu.- Gần đây Công Ðồng Công Giáo Việt Nam có một sinh hoạt văn hóa rất đặc biệt được tổ chức tại thành phố Melbourne: Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử các dòng tu Việt Nam, một cuộc triển lãm tranh của một nữ tu Việt trên đất Úc, sơ Marguerite Nguyện, thuộc Dòng Nữ Tu Salesian Don Bosco, được tổ chức ngày 1 tháng 11, 2000 và kéo dài trong hai tuần tại Trung Tâm Mục Vụ Dòng Thánh Thể, với chủ để "Chiêm Ngưỡng Thiên Nhiên" gồm 36 bức tranh thủy mạc, được ông Paul Fitzread, một họa sư nổi tiếng nhất nước Úc khai mạc.
Trong Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Gia Nã Ðại, người ta thấy có sự hiện diện của trên 45 linh mục dòng triều đang coi sóc các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam và một số đông dòng tu nam nữ. Tại thành phố Calgary, tỉnh bang Alberta, miền Tây Nam Gia Nã Ðại, có cơ sở của Phụ Tỉnh Dòng Nam Ða Minh Việt Nam Hải Ngoại, nơi đây có phát hành tam cá nguyệt san Chân Lý, để phổ biến các tư tưởng công giáo và tinh thần Thánh Tổ Phụ Ða Minh với các độc giả.
CỘNG ÐỒNG CỘNG GIÁO VIỆT NAM TẠI CÁC QUỐC GIA KHÁC.
Cộng Ðồng Người Việt xuất hiện tại hải ngoại đã một phần tư thế kỷ, nhưng cho đến nay chưa có một cơ quan tổ chức nào thống kê tổng số người Việt và các sinh hoạt của họ. Thực ra cũng khó thực hiện vì sau biến cố 1975, người Việt Nam hiện diện rải rắc gần 80 quốc gia khác nhau, lãnh thổ địa dư quá rộng bao trùm khắp nơi, với những sinh hoạt rất đa dạng nên không thể có một thống kê chính xác được.
Tuy nhiên để quý độc giả có một cái nhìn tổng quát, trên phạm vi Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại, chúng tôi xin liệt kê những quốc gia hiện có sự hiện diện của các linh mục Việt Nam, vì thông thường nơi nào có một linh mục định cư, nơi đó tất nhiên có một số giáo dân Việt không nhiều thì ít. Có nhu cầu tôn giáo về mục vụ thì nơi đó đòi hỏi sự hiện diện của một linh mục. Do đóù số linh mục tại mỗi quốc gia dưới đây nhiều hay ít tương đương với số cộng đoàn công giáo Việt tại các quốc gia này.
a) Miền Âu Châu và Bắc Âu:
Tại Ðức Quốc (Germany), chúng tôi thấy có 30 linh mục Việt Nam ghi tên trong Niên Lịch Phụng Vụ năm 2001, 12 đại chủng sinh và các một số nữ tu sinh hoạt trong các Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm, Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, Nữ Tu Ða Minh (Dominikannerin), Dòng Kín Camêlô (Karmelitinen) và Dòng Ursulinen/Calvarienberg. Tại Ðức Quốc, các linh mục và tu sĩ nam nữ cũng tổ chức Hội Liên Tu Sĩ Việt Nam và các giáo dân sinh hoạt trong Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam.- Ấn bản Nguyệt san Dân Chúa Âu Châu, phát hành tại thành phố Stuttgatt, nước Ðức là cơ quan truyền thông của giáo sĩ và giáo dân vùng Âu Châu, do Hội Liên Tu Sĩ Việt Nam chủ trương, bên cạnh có Nhà Sách Dân Chúa Âu Châu.
Tại Bỉ Quốc (Belgium), có 12 linh mục Việt Nam, 4 đại chủng sinh, nam tu sĩ và một số nữ tu sinh hoạt trong các dòng: Dòng Kín Việt Nam Boussu và Bruxelles, Thừa Sai Ða Minh, Thánh Tâm Chúa Giêsu, Nữ Tu Bác Ái, Soeurs de Marie và Travailleuses Missionaires. Các linh mục và tu sĩ nam nữ cũng sinh hoạt chung trong tổ chức Hội Liên Tu Sĩ Việt Nam tại Bỉ.
Tại Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan (England & Ireland) có 14 linh mục, một Phó Tế vĩnh viễn, 6 đại chủng sinh và một số nữ tu. Tại Thủ đô Luân Ðôn cổ kính xứ sương mù, các giáo sĩ và giáo dân Việt Nam cũng sinh hoạt chung tại Trung Tâm Mục Vụ Việt Nam do Ðức Ông Ðào Ðức Ðiểm đặc trách với những sinh hoạt tôn giáo văn hóa và xã hội. Cộng Ðồng Công Giáo tại Anh Quốc có đặc san Hồn Việt phát hành ba tháng một lần.
Tại các nước Bắc Âu: Nước Ðan Mạch (Danemark) có 3 linh mục định cư tại Thủ đô Copenhagen và hai tỉnh Hadersler, Abenraa - Nước Na Uy (Norway) có 5 linh mục và một số nữ tu thuộc Dòng Mến Thánh Giá Quy Nhơn, Mến Thánh Giá Chợ Quán và Dòng Nữ Ða Minh. - Nước Phần Lan (Finland) cũng như nước Thụy Ðiển (Sweden) mỗi nơi có một linh mục tại hai thủ đô Helsinki và Stockholm.
Một trong những quốc gia Âu Châu có khá đông người Việt Nam định cư là nước Hòa Lan (Holland), hầu hết họ là những thuyền nhân do tàu Hòa Lan vớt từ Biển Ðông và đưa về định cư. Tại quốc gia này có 5 linh mục, 5 đại chủng sinh và một số nhỏ nữ tu. - Tại Áo Quốc (Austria) người ta cũng thấy có 2 linh mục và một Trung Tâm Công Giáo dành cho các sinh hoạt của người Việt Nam.
b) Vùng Á Châu và Nam Thái Bình Dương:
Tại Á Châu, không ai ngờ một nước có khá đông linh mục Việt Nam đang phục vụ đó là quốc gia Ðài Loan (Taiwan). Tại đây hiẹân có 27 linh mục, 14 chủng sinh và tu sĩ thuộc Chủng viện Ðài Loan, Dòng Thánh Gioan Tẩy Giả, Dòng Tên và Dòng Ngôi Lời. Về phía nữ tu cũng có trên 20 chị đang sinh hoạt trong Dòng Kín Linh Y, Dòng Tiểu Muội, Dòng Thánh Têrêxa, Dòng Mến Thánh Giá Ðà Lạt và Hội Nữ Tá Tông Ðồ.
Sau Ðài Loan, tại Nhật Bản, người ta cũng thấy sự hiện của 10 linh mục và một số đại chủng sinh và tu sĩ thuộc Dòng Truyền Giáo Ngôi Lời, Dòng Tên, Dòng Phan Sinh và Dòng Bênêđitô. Chúng tôi không biết rõ số giáo dân Việt Nam tại Nhật Bản bao nhiêu, sinh hoạt thế nào, nhưng chắc chắn có một số giáo dân là thuyền nhân được Chính Phủ nhận vào định cư và một số giáo dân đến đây theo diện đoàn tụ gia đình, vì có thân nhân là con em trước đây du học tại Nhật Bản.
Sau Nhật Bản, người ta phải nói đến Phi Luật Tân, vì quốc gia này có nhiều liên hệ với Việt Nam và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Tại Thủ đô Manila, có một học viện thời danh lâu đời là Ðại Học Thánh Tôma (University of Santo Tomas) thành lập từ năm 1611 của các linh mục Dòng Ða Minh thuộc Tỉnh Dòng Rất Thánh Mân Côi Tây Ban Nha. Rất nhiều linh mục dòng Ða Minh Việt Nam xuất thân từ viện Ðại Học này và đặc biệt nhất tại khuôn viên đại học có tượng đài Thánh Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm (1732 - 1773), Linh mục Dòng Ða Minh Tử Ðạo, là cựu sinh viên đại học này.- Phi Luật Tân cũng là một trong những quốc gia Ðông Nam Á có những trại tỵ nạn đón tiếp nhiều đợt thuyền nhân Việt trước khi định cư tại các quốc gia khác. Và hiện nay làng Việt Nam tại quần đảo Palawan là một bằng chứng lịch sử.
Tại Phi Luật Tân, người ta không rõ số giáo dân Việt là bao nhiêu nhưng hiện có 5 linh mục, một nam tu sĩ Dòng Tiểu Ðệ (Little of Brothers) và một số nữ tu thuộc Dòng Nữ Tử Bác Ái.
Nhắc đến Phi Luật Tân, hiện nay nhiều giáo dân trong và ngoài nước đều biết đến Chương Trình Việt Ngữ của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu (Veritas Asia), do Liên Hiệp các Hội Ðồng Giám Mục Á Châu thành lập cách đây 31 năm. Chương trình Việt Ngữ bắt đầu phát sóng về Việt Nam ngày 1 tháng 2 năm 1969 từ Thủ đô Manila. Mỗi ngày phát thanh tổng cộng 3 giờ với 4 lần phát thanh sáng trưa chiều tối. Trong Chương trình Việt Ngữ cũng phát thanh mỗi ngày 25 phút bằng tiếng Hmong cho anh chị em người Mèo sống tại Việt Nam, Lào và Trung Quốc. Hiện nay Ðức Ông Nguyễn Văn Tài là Giám Ðốc Chương trình Việt Ngữ và toàn Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu.
Ngoài ra tại Hồng Kông, người ta cũng thấy có 4 linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, Hội Thừa Sai Truyền Giáo Ba Lê Pháp và một số nữ tu Dòng Canonesses of Our Lady và Little Sisters of Jesus. Tại Thái Lan có 3 linh mục và 1 nữ tu. Tại Nam Hàn có một linh mục và một số nữ tu Dòng Chúa Chiên Lành và tại Singapore cũng có một linh mục. Vùng Nam Thái Bình Dương: Tân Tây Lan (New Zealand) có một linh mục coi sóc một cộng đoàn công giáo Việt Nam. Còn tại Tân Ðảo (New Caledonia) có một linh mục coi sóc một số khá đông giáo dân Việt Nam, từ BắcViệt Nam được Pháp di dân đến định cư tại thủ phủ Nouméa từ thập niên 1930 để khai thác đồn điền cao su.
c) Vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ và Phi Châu:
Không một người Việt nào có thể nghĩ rằng, sau biến cố 1975, qua những đợt mạo hiểm vượt biển đi tìm Tự Do, các thuyền nhân Việt Nam đã tìm đến định cư tại những vùng đất xa xôi mà cha ông chúng ta không bao giờ ngờ trước: Ðó là các quốc gia Trung Mỹ, Nam Mỹ và Phi Châu. Tại Ba Tây (Brazil) có Ðức Ông Nguyễn Văn Tốt đang phục vụ tại tòa Sứ Thần Tòa Thánh tại Thủ đô Brasilia. Trong khi đó, Ðức Ông Phạm Văn Thưởng làm việc tại Tòa Khâm Sứ tại Abidjan, nước Côte d'Ivoire. Ngoài ra cũng có Ðức Ông Cao Minh Dung, hiện là Cố Vấn Tòa Sứ Thần Tòa Thánh tại Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn.- Các nước Peru, Paraguay và Haiti thuộc Nam Mỹ và Trung Mỹ mỗi nơi cũng có một linh mục Việt Nam. Các nước Cameroun, Kenya, Zambia và Madagascar cũng có linh mục, tu sĩ nam hoăïc nữ tu Việt Nam đang định cư và phục vụ.
Hơn nữa chúng tôi cũng được biết tại Liên Xô và các nước Ðông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Slovakia, Hungary, Bulgaria, Roumania là những quốc gia có rất đông đồng bào Việt Nam. Họ là những nghiên cứu sinh, những du học sinh, chuyên gia hoặc công nhân xuất khẩu lao động đang định cư tại đây. Tổng cộng số đồng bào Việt tại các quốc gia này lên tới hàng trăm ngàn nhưng không ai biết rõ số giáo dân là bao nhiêu.
ÐÔI DÒNG SUY TƯ VÀ ÐỀ NGHỊ.
Trước hết chúng tôi xin thưa rằng: Trong phạm vi một bài báo đề cập đến một đề tài quá rộng lớn mà tài liệu lại rất hạn chế, vượt khả năng của tác giả, chắc chắn còn nhiều thiếu sót hoặc những điểm không đúng sự thực cần được bổ túc, xin quý độc giả rộng tình miễn thứ.
Người đời thường nói: Lịch sử là sự tái diễn trong hiện tại những gì đã xảy ra trong quá khứ. Nghiên cứu những sự kiện đã xảy ra trong lịch sử của bất cứ tổ chức đoàn thể lớn nhỏ nào, người ta cũng thường thấy xảy ra như vậy. Nếu nhận định này lại được soi sáng dưới Ánh Sáng Niềm Tin Công Giáo, vì không có biến cố nào xảy ra ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa, thì với cái nhìn tổng quát nhưng tương đối đầy đủ sau khi đọc bài viết này, sẽ đưa chúng ta đến nhiều suy tư cần thiết và hữu ích.
Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 phân chia Việt Nam thành hai miền Nam Bắc, ngang theo vĩ tuyến 17, đã đưa đến biến cố gần một triệu đồng bào từ miền Bắc di cư xuống miền Nam. Biến cố này đã trở thành một chất xúc tác làm sống lại và phát triển cả miền Nam trong mọi lãnh vực chính trị, tôn giáo, văn hóa, xã hội và giáo dục, nếu người ta vô tư so sánh tình trạng miền Nam trước cuộc di cư lịch sử 1954 với Việt Nam Cộâng Hòa trước biến cố 1975.
Trong lãnh vực sinh hoạt công giáo, trước năm 1954 Giáo Hội Công Giáo miền Nam chỉ có 5 giáo phận: Huế, Kontum, Quy Nhơn, Sàigòn và Vĩnh Long. Thời đó một số giáo xứ hiện nay thuộc hai giáo phận Cần thơ và Long Xuyên còn trực thuộc Giáo phận Sàigòn hoăïc Nam Vang, Cam Bốt. Nhưng trước biến cố 1975, ngoài Giáo Tỉnh Hà Nội có 10 giáo phận, hai Giáo Tỉnh Huế và Sàigòn, ngoại trừ 5 giáo phận cũ nói trên, đã tăng thêm 10 giáo phận mới là Ðà Nẵng, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Phan Thiết, Ðà Lạt, Xuân Lộc, Phú Cường, Mỹ Tho, Cần Thơ và Long Xuyên, với tổng số giáo sĩ, tu sĩ nam nữ và giáo dân gấp nhiều lần trước đây.
Nếu chúng ta công nhận biến cố di cư năm 1954 đã làm sống lại miền Nam là một sự kiện lịch sử nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa thì sau biến cố tháng tư năm 1975, sự xuất hiện cả một Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại, định cư tại 80 quốc gia, với tổng số gần ba triệu người, chắc chắùn không phải là một sự kiện tình cờ nhưng đã nằm trong sự an bài của Thiên Chúa, để Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại này mang trách nhiệm khôi phục và tái thiết quê hương thời hậu cộng sản. Ðây không phải chỉ là một suy luận suông nhưng là một thực tế lịch sử, vì bất cứ ai cũng nhìn nhận rằng đây là một Cộng Ðồng có đầy đủ nhân lực,vật lực và tài lực có khả năng đắc lực góp phần xây dựng quê hương trong tương lai.
Dù nhìn dưới bất cứ khía cạnh nào, người Việt trong và ngoài nước cũng đều khách quan nhìn nhận Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại là một cộng đồng non trẻ nhưng năng động và đã tích cực đóng góp vào sự phồn thịnh nơi các quốc gia mà họ sinh sống. Với gần ba triệu người mà ngày càng tăng thêm qua các chương trình định cư, với gần 300,000 chuyên viên tốt nghiệp đại học và hậu đại học thuộc đủ mọi lãnh vực: không gian, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y học, thương mại, văn hóa, giáo dục, xã hội và theo báo chí nguyên năm 1999 đã gửi về nước hơn một tỷ hai trăm triệu mỹ kim. Với kho tàng chất xám và tài lực này, trước đây họ bị người ta coi là cặn bã xã hội chạy theo bơ sữa hải ngoại thì nay chính những người khinh chê mỉa mai họ lại đề cao họ là "khúc ruột ngàn dậm ". Tại sao lại có thái độ trái ngược như thế! Hỏi tức là đã trả lời vậy.
Trong Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại, với ước tính khiêm tốn nhất, người ta thấy có cả một khối nhân lực dồi dào: trên 900 linh mục, gần 1,700 nam nữ tu sĩ chủng sinh và trên 600,000 giáo dân. Trong đó có rất nhiều nhân tài về mọi lãnh vực, mọi ngành nghề,mà có lẽ không một giáo phận nào bên nhà có thể có được. Khối Cộng đồng này trong thời gian 25 năm qua đã thực sự đóng góp vào sự phát triển của các Giáo Hội tại Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Úc và Gia Nã Ðại và nhiều quốc gia khác. Nhiều giám mục và linh mục Việt Nam nếu có dịp xuất ngoại đã nhìn thấy sự đóng góp tích cực đó.
Và đây là một trong những bằng chứng cụ thể: Trong dịp Phái Ðoàn Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳchính thức sang thăm viếng Giáo Hội Việt Nam, do Ðức Tổng Giám Mục Joseph A. Fiorenza, Chủ Tịch Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ, hướng dẫn đến Thủ đô Hà Nội. Trong một thánh lễ trọng thể, ngày 29 tháng 8 năm 1999, tại Nhà Thờ Chánh Tòa Hà Nội, Ðức Cha Fiorenza đã chính thức nói lời cám ơn và ca tụng sự đóng góp của Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam đối với Giáo Hội Hoa Kỳ.
Thế nhưng một vấn nạn luôn luôn được đặt ra đối với tác giả bài viết này và có lẽ cũng là thắc mắc chung của quý độc giả: Riêng Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam này có thể cống hiến gì cho Giáo Hội bên nhà và cho Quê Hương Dân Tộc?! Nếu trên đây chúng ta đã đồng thuận công nhận sự xuất hiện của Cộng Ðồng Công Giáo là một cơ duyên lịch sử trong sự quan phòng của Thiên Chúa thì tất nhiên họ không thể nào không đóng góp nhiều hay ít cho sự nghiệp chung, miễn là những nhà lãnh đạo, những người có trách nhiệm đưa ra những kế hoạch và mời gọi họ cộng tác. Chắc chắn họ sẽ cho sự đóng góp này là một vinh dự đối với cá nhân và tập thể của họ. Chúng tôi xin mạn phép góp ý hai đề nghị dưới đây:
a - Cần mở rộng sinh hoạt Văn Phòng Phối Kết Tông Ðồ Mục Vụ Hải Ngoại:
Nếu tôi không nhầm văn phòng này chỉ được cấp thời thành lập cho nhu cầu tổ chức Ðại Lễ Phong Thánh Tử Ðạo Việt Nam ngày 19 tháng 6, 1988. Năm đó Tòa Thánh đã bổ nhiệm Ðức Ông Trần Văn Hoài làm Giám đốc. Trong thời gian 11 năm làm việc, ngài đã cố gắng thành lập Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại với mục đích liên kết các thành phần trí thức công giáo và huấn luyện giới trẻ hải ngoại qua các khóa Ðại Học Hè và Trại Hè tại Âu Châu và Hoa Kỳ để hướng về quê hương. Năm 1999, ngài về hưu và Tòa Thánh bổ nhiệm Ðức Ông Ðinh Ðức Ðạo, Phó Giám Ðốc Trung Tâm Linh Hoạt Truyền Giáo (CIAM) thay thế. Nhưng trong hoàn cảnh thiếu nhân sự và tài chánh, văn phòng này chỉ có thể hoạt động rất hạn chế trong việc tổ chức những khóa tĩnh tâm cho các giáo sĩ, tu sĩ nam nữ và giáo dân đồng thời hướng dẫn các sinh hoạt mục vụ trong các dịp Ðại Lễ Tử Ðạo Việt Nam và Năm Thánh.
Nếu muốn quy tụ và liên kết người công giáo hải ngoại, chúng tôi thiển nghĩ cần phải mở rộng văn phòng nay bằng cách đề nghị Tòa Thánh nâng cấp văn phòng này thành một bộ phận do một vị giám mục Việt Nam đặc trách và đặt trực thuộc Hội Ðồng Mục Vụ Di Dân và Kiều Dân Tị Nạn của Tòa Thánh. Sở dĩ có đề nghị này, vì trong nhiều quốc gia hiện nay có người công giáo Việt Nam, đặc biệt các nước Ðông Âu, Phi Châu, Ðông Nam Á người công giáo Việt sống bơ vơ không có linh mục, tu sĩ nam nữ phụ trách. Hơn nữa, qua báo chí, chúng tôi được biết Nhà Nước Việt Nam đang thực hiện chương trình xuất khẩu lao động đi khắp nơi với số lượng hàng triệu người trong các năm tới để giải quyết vấn đề thất nghiệp trong nước. Họ sẽ là những đoàn chiên bơ vơ không người săn sóc!! Ai là người có trách nhiệm tinh thần hướng dẫn họ nơi đất khách quê người, trong khi họ phải sống trong những quốc gia hoàn toàn khác về ngôn ngữ, phong tục và tập quán!? Nếu không kế hoạch lo cho những giáo dân này và cả các cộng đồng công giáo đã hình thành trong các quốc gia khác, chỉ một vài thề hệ sau những giáo dân Việt Nam này sẽ đi về đâu? Họ còn hướng về Quê Hương và Giáo Hội Mẹ Việt Nam không?!
b - Cần thành lập một Ủy Ban Ðặc Trách Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại.
Ðã 25 năm rồi, nhìn vào cung cách xuất hiện và phát triển các Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại hải ngoại, mặc dầu số cộng đoàn công giáo ngày càng đông đảo, người ta thấy nó có tính cách tự phát tùy tiện và liên kết với giáo quyền địa phương. Theo giáo luật, tuy cộng đồng giáo dân hải ngoại không trực tiếp thống thuộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam như các giáo phận trong nước, nhưng trên phương diện huyết thống, tình cảm đồng bào, nhất là theo truyền thống dân tộc và đạo lý Á Ðông, người công giáo hải ngoại vẫn tha thiết với Quê Hương và chân thành muôn đóng góp những gì mình có cho Giáo Hội Mẹ như những người con vì hoàn cảnh lịch sử phải sống xa quê hương.
Ðể đáp ứng tình cảm tốt đẹp này và để hệ thống hóa việc đóng góp của họ được hữu hiệu và kết quả, thiết tưởng đã đến lúc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nên thành lập một Ủy Ban Ðặc Trách Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại. Ủy Ban này sẽ trở thành gạch nối giữa Văn Phòng Phối Kết Mục Vụ Hải Ngoại tại Rôma với mọi giáo dân hải ngoại trong mọi lãnh vực: mục vụ, huấn luyệân, tương trợ, kết nghĩa v.v.. Ủy Ban này sẽ giải quyết những khó khăn, thắc mắc cho các linh mục và giáo dân hải ngoại về các bí tích, cấp chứng chỉ các nhiệm tích và đặc biệt trong việc điều tra hôn phối.
Ủy ban này sẽ giữ chức vụ như Ủy Ban Phát Triển (Corev) của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam trước năm 1975 do Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đảm trách, để hệ thống hóa và đặt nhu cầu ưu tiên cho các yêu cầu hải ngoại giúp đỡ tài chánh cho các giáo phận, giáo xứ tại quê nhà trong việc xây cất thánh đường, tu viện, khuếch trương cơ sở xã hội văn hóa, cứu trợ nạn nhân bão lụt hoặc hỏa hoạn. Ủy ban cũng đặt kế hoạch yêu cầu các giáo sĩ, tu sĩ nam nữ và cả giáo dân chuyên gia, trong hoàn cảnh cho phép, trở về nước trong thời gian ngắn hạn để dạy trong các đại chủng viện, tu viện; thành lập các đoàn y tế, giáo dục về miền quê giúp đồng bào nghèo; thành lập những trung tâm dạy nghề cho các trẻ em mồ côi; tổ chức những khóa học máy điện toán nữ công gia chánh cho người nghèo hoặc cung cấp những tài liệu sách vở chuyên môn để nghiên cứu học hỏi, tài trợ những chương trình vay vốn sinh kế cho miền quê v.v. Ðó là chưa kể Ủy Ban có thể đặt kế hoạch giới thiệu các giáo xứ hoặc cộng đoàn hải ngoại trực tiếp kết nghĩa với các giáo xứ nghèo trong nước để cùng nhau phát triển nâng cao đời sống và trình độ trí thức.
Nếu có Ủy Ban đặc trách này, người ta sẽ tránh được những lạm dụng và giải quyết được những khó khăn cho người công giáo hải ngoại trước vấn đề đóng góp tài chánh trong nước. Thật đau lòng khi người ta phải đọc những thông cáo của Hội Ðồng Linh Mục Việt Nam tại Giáo Phận Orange tức giáo phận có đông giáo dân Việt nhất đã ra quy định, (đầu tháng 12, 2000), từ nay các linh mục tu sĩ từ Việt Nam qua không được giảng hoặc nói trong nhà thờ, dù trước hay sau thánh lễ, không được xin tiền trong nhà thờ hoặc khuôn viên nhà thờ. Riêng Tòa Giám Mục Orange vừa phổ biến tới các linh mục Việt Nam trong vùng một văn thư quy định: Các tu sĩ từ Việt Nam sang xin tiền phải có giấy ủy quyền của Giám mục hoặc Bề Trên của họ tại Việt Nam và phải được sự chấp thuận của Tòa Tòa Giám Mục Orange và nhất là sự đồng ý của cha sở tại địa phương (Trích Tuần báo Sàigòn Nhỏ, số 398, ngày 8 tháng 12, 2000, trg 79).
Dưới Ánh Sáng Niềm Tin Công Giáo, chúng ta luôn tin tưởng rằng mọi biến cố vui buồn, dù bé nhỏ hoặc lớn lao, đều không ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngài luôn luôn thực hiện những biến cố thật kỳ diệu, ngoài sự hiểu biết hạn hẹp và tâm trí bé nhỏ của chúng ta, phương chi sự xuất hiện cả một Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại hải ngoại. Nhưng bất cứ biến cố lịch sử nào Thiên Chúa cũng đòi hỏi sự cộng tác của con người tùy theo khả năng của mình. Ngài không làm phép lạ và chúng ta cũng không có quyền thụ động chờ Ngài làm phép lạ!! Trên đây là những tâm tình rất chân thành và những thao thức mà tác giả xin kính cẩn gửi đến quý độc giả, đặc biệt các độc giả công giáo, trong mùa Tết Nguyền Ðán Tân Tỵ cổ truyền của dân tộc đã trở về.