CỘNG ÐỒNG TRƯỚC MẶT

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

Ð

ã 24 năm rồi, hàng năm cứ mỗi lần đến ngày kỷ niệm 30 tháng 4, 1975 là một lần lòng tôi ngổn ngang bao tâm tình đau xót tủi nhục không bao giờ quên của một ngày đen tối nhất trong lịch sử dân tộc.

Với ngày đó, Lịch Sử Dân Tộc của tôi đã sang trang. Không phải những trang huy hoàng hiển hách được viết bằng những chiến thắng oanh liệt chống ngoại xâm của các Anh Hùng Dân Tộc, mà sử sách đã ghi lại như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Huệ ... Với những chiến thắng đó, bất cứ người Việt Nam nào cũng có quyền hiên ngang ngẩng mặt nhìn trời, hãnh diện với thế giới, với bạn bè...

Trái lại, với biến cố tháng tư đen 1975, mọi người Việt phải cúi măït xấu hổ, kể cả những người tự phụ là kẻ chiến thắng, giờ đây cũng cảm thấy xấu hổ vì đó chỉ là chiến thắng giả tạo!! Có bao giờ kẻ chiến thắng lại khom lưng cúi đầu van lạy người chiến bại!! So sánh với các dân tộc khác, đặc biệt các quốc gia bạn, dân tộc Việt quả là một dân tộc bất hạnh, vì kể từ ngày đó, lịch sử Việt Nam đã bị bôi đen bằng máu, nước mắt, bằng nghèo đói, lạc hậu, bằng chết chóc, ngục tù!!..

Muốn Quang Phục và Xây Dựng Quê Hương, người ta không thể nào quên Cộng Ðồng Trước Mặt. Ðây chính là một tập thể những đồng bào ruột thịt mà mỗi người chúng ta có nhiệm vụ yêu thương và phục vụ. Từ những suy tư này, nhân ngày quốc hận, xin được đóng góp một số ý kiến xây dựng với Cộng Ðồng Trước Mặt.

THỰC TRẠNG CỘNG ÐỒNG NGƯỜI VIỆT TẠI HOA KỲ

Trong phạm vi bài báo, khi nói đến Cộng Ðồng Trước Mặt, chúng tôi xin thu hẹp nội dung trong Cộng Ðồng Người Việt tại Hoa Kỳ. Ðối với các quốc gia khác như Pháp, Gia Nã Ðại, Úc, Liên Xô, Ðông Âu ... hiện cũng có những cộng đồng Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ là quốc gia có đông người Việt nhất và có khả năng gia tăng thêm nữa. Với đất nước Hoa Kỳ, Cộng Ðồng Người Việt được coi như một cộng đồng non trẻ nhất nhưng cũng năng động không kém.

a) Quá trình hình thành Cộng Ðồng Người Việt
tại Hoa Kỳ.

Ðọc lịch sử nước Mỹ, người ta thấy Lịch sử Di dân tại Hoa Kỳ khởi đầu từ năm 1783, khi đất nước này có chính sách di dân. Và Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua những đạo luật cho phép người di dân nhập tịch từ năm 1790.

Nếu người Trung Hoa là những người Á Ðông đầu tiên đến lập nghiệp sớm nhất trên đất Mỹ, trong những đoàn di dân làm đường xe lửa xuyên bang vào các năm 1860 đến 1880 thì người Việt Nam lại là những người Á Châu di dân đến định cư muộn nhất tại đây. Danh từ "Di Dân hay Tỵ Nạn Việt Nam" chỉ xuất hiện trong các văn thư hành chánh Hoa Kỳ sau năm 1975, nghĩa là cách đây 24 năm.

Cộng Ðồng Người Việt tại Hoa Kỳ được hình thành do nhiều thành phần khác nhau, đặt chân đến đất nước này qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trước hết họ là những sinh viên du học tự túc hoặc được cấp học bổng. Sau đó là những công chức và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa sang đây phục vụ hoặc tu nghiệp trước năm 1975. Thêm vào đó là những người tỵ nạn chính trị, những công tư chức làm việc trong các tổ chức hay cơ quan Hoa Kỳ. Tổng số những người thuộc thành phần này không quá 20,000 người.

Thành phần kế tiếp là gần 130,000 người di tản trực tiếp từ Việt Nam qua Hoa Kỳ trước và sau biến cố 30 tháng 4, 1975 do Chính Phủ Hoa Kỳ đài thọ và chuyên chở cùng với những nhân viên của họ. Nhưng thành phần đông đảo đáng kể nhất là những thuyền nhân đến từ các trại tỵ nạn Ðông Nam Á và Hương Cảng, được Chính Phủ Hoa Kỳ nhận vào định cư như quốc gia đệ tam, đón tiếp họ như dân tỵ nạn cộng sản thực thụ. Tiếp đó là những người Việt đến Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình (ODP), những cựu tù nhân chính trị (HO), các em Mỹ lai (AC) là những người con của các quân nhân Hoa Kỳ trước đây sang chiến đấu tại Việt Nam. Gần đây nhất là chương trình tái định cư các thuyền nhân đã trở về Việt Nam, gọi là ROVR ( Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees). Ngoài ra hiện còn có thành phần các sinh viên du học tự túc hoặc được cấp học bổng. Tổng số người Việt tại Hoa Kỳ đến nay đã trên một triệu người. Con số này không ngừng tại đây mà sẽ còn gia tăng thêm nữa, sau khi việc giao thương giữa hai quốc gia được mở rộng.

Hầu hết trong 50 tiểu bang Hoa Kỳ, nơi nào cũng có người Việt Nam đến lập nghiệp, ngay cả những tiểu bang xa xôi lạnh buốt như Alaska quanh năm tuyết phủ hoặc Hawaii trung tâm nghỉ mát lý tưởng của người Mỹ.

Nếu phân tích nơi định cư của người Việt trên đất Mỹ, người ta thấy có 5 cộng đồng đông người Việt hơn cả. Ðó là tiểu bang California với trên 450,000 người và Tiểu Sàigòn (Little Saigon) được coi là Thủ Phủ của người Việt tỵ nạn, bao gồm nhiều khu phố và cơ sở kinh doanh sầm uất. Sau California là vùng Houston, Dallas thuộc tiểu bang Texas nay đã trên 300,000. Vùng Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn, Trung Tâm Quyền Lực của nước Mỹ, bao gồm Washington DC, Virginia và Maryland với 60,000; Vùng Seattle tiểu bang Washington có 50,000 và vùng New Orleans mà người Việt gọi là Ngọc Lân, tiểu bang Louisiana với trên 50,000 người.

b) Những Thuận Lợi.

Mặc dầu Hoa Kỳ được coi là quốc gia của những người di dân, nhưng không phải lúc nào những người tỵ nạn hay di dân cũng được đón tiếp dễ dàng, vì Chính sách Di dân của Hoa Kỳ thay đổi tùy theo hoàn cảnh và cũng tùy theo giai đoạn lịch sử.

Căn cứ trên những đạo luật mới về di dân trong những thập niên gần đây như Chương Trình Ra Ði Có Trật Tự (Ordely Departure Program) cho phép những ai hội đủ điều kiện được bảo lãnh thân nhân đến định cư tại Mỹ, ban hành năm 1979 hoặc đạo luật Amerasian Homecoming Act (năm 1987) về Chương trình Con Lai; đạo luật Refugee Act hay Released Reeducation Detainees Program, thường gọi là Chương Trình HO, cho phép các cựu tù nhân chính trị đến định cư tại Mỹ, cuối cùng là Chương trình ROVR nói trên, người ta có thể nói người Việt Nam là một sắc tộc thiểu số có nhiều may mắn nhất được đến lập nghiệp trên đất nước này. Không một sắc tộc nào được hưởng nhiều chương trình phong phú như người Việt chúng ta, cả về định số (quota) cũng như các loại trợ cấp.

Xét về phương diện Kinh tế Xã hội, có lẽ nhờ những yếu tố thuận lợi trên mà đa số người Việt đã hội nhập khá nhanh vào dòng sinh mệnh chính (Main stream) của đất nước Hoa Kỳ. Theo một tài liệu được công bố: 60% nam giới và 51% nữ giới trên 18 tuổi đã có công ăn việc làm. Về lợi tức hàng năm của người Việt tại Hoa Kỳ, những con số thống kê đã chứng minh thực tế này: 18% có lợi tức trên $15,000/năm; 15% trên $25,000/năm; 16% trên $35,000/năm; 13% trên $50,000/năm; 5% trên $75,000/năm và 3% trên $100,000/năm. Số người Việt tại Hoa Kỳ đã mua được nhà là 30%. Nhiều người đã có những cơ sở thương mại lớn hay nhỏ, còn đa số là công tư chức.

Xét theo phương diện Giáo Dục, nhờ tinh thần hiếu học và môi trường giáo dục tốt, Giới Trẻ Việt Nam đã gặt hái được những thành quả rất đáng khích lệ: Cứ 10 người Việt tại Mỹ thì có 4 người cắp sách đến trường. Thống kê giáo dục năm 1996 cho biết Cộng đồng Người Việt tại Hoa Kỳ có 57,862 người có bằng Cử nhân; 15,099 người có bằng Cao học và 2,037 người có bằng Tiến sĩ.

c) Những Trở Ngại.

Trở ngại căn bản đối với người Việt đến định cư tại Mỹ là vấn đề hội nhập vào xã hội mới này. Vì không thể duy trì một quốc gia trong một quốc gia nên người di dân chỉ có một con đường duy nhất là Hội Nhập vào xã hội mới càng sớm càng tốt. Thực ra không ai bó buộc người di dân đến định cư trong một xã hội mới mà họ không thích! Trái lại, đã đến lập nghiệp tại đất nước này thì mặc nhiên hay minh nhiên họ đã nhận nơi này là quê hương thứ hai của họ.

Người Hoa Kỳ cũng chấp nhận tính đa nguyên (Pluralism) trong Văn hóa của họ. Theo tâm lý, đa số các sắc dân thiểu số không muốn bị đồng hóa hoặc đánh mất căn tính văn hóa đặc thù của mình. Do đó Văn Hóa Hoa Kỳ đã chủ trương Ða Nguyên để giúp các nền Văn hóa các sắc dân thiểu số được phát triển trên đất nước họ. Nhờ đó Văn Hóa Hoa Kỳ đã trở nên phong phú, sinh động, đa dạng hơn các nền văn hóa đơn điệu khác.

Người ta có thể kể rất nhiều trở ngại trong việc hội nhập vào một quốc gia mới: ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán xa lạ, trình độ kiến thức khác biệt, tuổi tác cao, quan niệm sống dị biệt giữa Ðông và Tây. Những trở ngại về hội nhập này nhiều khi đã trở thành nguyên nhân gây nên những tội phạm, những băng đảng, gian lận, trộm cắp, những tai tiếng cho cộng đồng, vì không thể hội nhập nên nhiều cá nhân đã làm liều, vi phạm pháp luật.

Về phương diện Chính Trị, muốn tồn tại và phát triển, cộng đồng thiểu số phải tích cực tham gia các sinh hoạt chính trị, văn hóa, xã hội của người địa phương. Hãy gia nhập quốc tịch càng sớm càng tốt để có Quyền Công Dân, thực thi quyền ứng cử và bầu cử. Qua lá phiếu, họ có thể lựa chọn những vị dân cử xứng đáng bênh vực quyền lợi cho Cộng Ðồng. Không gia nhập quốc tịch, không được ứng cử và bầu cử, người di dân chỉ là công dân hạng hai, không thể làm gì tranh đấu cho quyền lợi của Cộng Ðồng. Ngoài ra, còn một phương thức tranh đấu hữu hiệu khác mà luật pháp Hoa Kỳ cho phép: Ðó là Vận Ðộng Hậu Trường (Lobbying) nơi các Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu trong Quốc Hội cấp liên bang và tiểu bang, để tạo ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập pháp và chính sách quốc gia hoặc chính sách tiểu bang bênh vực quyền lợi cho đồng bào trong Cộng đồng.

NHỮNG TRĂN TRỞ VỀ CỘNG ÐỒNG TRƯỚC MẶT

Là những người Việt nam sống lưu vong tại hải ngoại, chúng ta không khỏi buồn khi thấy cả một Quê Hương thân yêu với gần 80 triệu đồng bào ruột thịt còn đang quằn quại trong đau thương nghèo đói, lạc hậu dưới một chế độ tàn bạo khát máu. Muốn quang phục quê hương, chúng ta không thể nào không Xây dựng Cộng Ðồng Trước Mặt, vì nơi đây quy tụ những đồng bào đang cùng ta sinh sống lập nghiệp, cùng có chung một ước vọng tái thiết quê hương.

a) Vấn Ðế Ðoàn Kết Cộng Ðồng.

Người Việt Nam chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm về di dân, nhất là di dân đến một miền đất xa lạ như Hoa Kỳ. Những năm đầu đặt chân đến đây, những thế hệ đi trước cũng phải mò mẫm để thích nghi và tiến lên. Mô Hình Cộng Ðồng là một sinh họat thích hợp nhất, để liên kết mọi thành phần di dân thiểu số trên vùng đất định cư mới. Các sắc tộc người Trung Hoa, Do Thái, Nhật Bản, Ðại Hàn cũng đã tổ chức Cộng Ðồng từ lâu trước chúng ta.

Trăn trở số 1 khi nói về Cộng Ðồng Người Việt tại Hoa Kỳ là sự Ðoàn Kết Khối Người Việt tỵ nạn trong một quốc gia và sau đó là hải ngoại. Thật là phi lý khôi hài khi có những chia rẽ giữa những người, mà ta gọi là đồng bào ruột thịt đang cùng sống lưu vong và đang cùng theo đuổi một Lý Tưởng Chung là Quang Phục Quê Hương! Không gì đau buồn xấu hổ khi nhìn thấy trong một cộng đồng lại có hai ban đại diện thường xuyên đấu đá bôi đen nhau!! Những gì làm ta chia rẽ!? Quyền lợi cá nhân, tranh chấp địa vị, quan điểm chính trị!? Hãy quan sát các cộng đồng Do Thái, Trung Hoa, Cuba. Họ cũng là những người di dân, cũng nuôi ý chí quang phục quê hương, nhưng tại sao họ tạo được sự tương trợ đoàn kết và sự kính nể tín nhiệm của người địa phương.

Quyết tâm bỏ nước ra đi, chúng ta đã lựa chọn cho mình một thái độ chính trị là không chấp nhận chế độ cộng sản, đồng thời nhận lãnh một Sứ Mệnh Lịch Sử là Quang Phục Quê Hương. Ðoàn Kết Cộng Ðồng gắn liền với Danh Dự Cộng Ðồng. Ðoàn Kết là một Mệnh Lệnh của Cộng Ðồng. Thiếu đoàn kết chúng ta không thể làm được gì, dù một việc bé nhỏ!! Ðã 24 năm rồi, chúng ta đã phung phí quá nhiều công sức, bỏ lỡ nhiều cơ hội!! Hãy đặt Tương Lai của Dân Tộc, Hạnh Phúc của Ðồng Bào trên những "cái tôi " ích kỷ nhỏ nhen của mỗi người. Nếu không, chúng ta sẽ có tội với Lịch Sử!!..

b) Duy Trì Bản Thể Dân Tộc

Làm sao để duy trì Bản Thể Dân Tộc: Ðó là trăn trở số 2 của Cộng Ðồng. Mất Căn tính Dân tộc là Mất Tất Caû. Người Trung Hoa và Do Thái luôn tự hào về nguồn gốc dân tộc và văn hóa mà họ đã hấp thụ. Dù phải sống xa quê hương, họ vẫn giữ được bản sắc dân tộc, không bị đồng hóa với các dân tộc khác, nhờ cố gắng duy trì ngôn ngữ riêng của họ là chữ Hán và Hy Bá. Vì ngôn ngữ dân tộc là phượng tiện duy nhất trở thành gạch nối rất cần thiết tất cả những đồng bào lưu vong lại với nhau.

Người Việt Nam chúng ta cũng có quyền tự hào về Nguồn Gốc Văn Hóa của Ðất Nước, với cả một quá trình lịch sử trên 4,000 năm dựng nước và cứu nước. Chúng ta cũng có một ngôn ngữ riêng biệt, phong phú về ý nghĩa và đặc sắc về âm điệu là Việt Ngữ. Nhiều nhà ngôn ngữ học ngoại quốc rất trân trọng ngôn ngữ của ta. Vì thế ưu tư duy trì tiếng Việt trong gia đình, trong Cộng đồng cần được mọi người quan tâm. Ðể duy trì bản sắc dân tộc, cần thiết lập và khuếch trương các lớp Việt Ngữ trong các cộng đồng lớn nhỏ. Trong đó ngoài việc học chữ Việt, học sinh được học về lịch sử, địa lý, phong tục và tập quán dân tộc. Nếu không quyết tâm duy trì bản thể dân tộc qua Việt ngữ thì chỉ vài ba thế hệ sau, con em chúng ta sẽ không biết cội nguồn của mình và sách báo Việt hải ngoại sẽ đi về đâu?! Ðó là trăn trở mà mỗi người chúng ta không thể không đặt ra với chính mình.

c) Niềm Hy Vọng Của Cộng Ðồng

Với những ai quan tâm theo dõi tình hình trong nước, đặc biệt các sinh hoạt của các Cộng Ðồng hải ngoại, người ta không khỏi lo lắng và đau buồn trước vấn đề chia rẽ của nhiều cộng đồng!! Nhưng sau biến cố Trần Trường, với cả một Phong Trào Giới Trẻ Dấn Thân Lên Ðường Nhập Cuộc, để tiếp nối cha anh nhận lãnh trách nhiệm lịch sử, chúng ta phấn khởi vui mừng vì đã nhìn thấy một chút ánh sáng cuối đường hầm! Không phủ nhận công lao các chính đảng, tổ chức chính trị đã đóng góp để Quang Phục Quê Hương, nhưng với sự Dấn Thân Lên Ðường của Tuổi Trẻ khắp nơi tại hải ngoại, với sự dìu dắt cố vấn của các bậc cha anh, người Việt tỵ nạn tin tưởng Ngày Trở Về Tái Thiết Quê Hương sẽ không còn xa, vì trên hai triệu người Việt đã nhập cuộc.

Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt trên chiến trường, nhưng dân tộc Việt vẫn còn phải tranh đấu cho một cuộc chiến khác không kém phần gian lao cao cả cho đến khi toàn dân được sống trong Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong cuộc chiến này, người ta không thể nào quên nhiệm vụ Xây Dựng Cộng Ðồng Trước Mặt về lâu dài. Chế độ tàn bạo khát máu cộng sản sẽ xụp đổ, nhưng vấn đề Xây Dựng Quê Hương và Cộng Ðồng vẫn tồn tại. Kinh nghiệm Ðông Âu cho hay: Dân Chủ và Nhân Quyền không thể phát triển nếu dân trí dân sinh còn thấp kém. Hãy trang bị cho các thế hệ trẻ hải ngoại lòng Yêu Thương Quê Hương và Quý Trọng Cộng Ðồng. Hãy giúp các bạn trẻ hải ngoại lợi dụng môi trường giáo dục tân tiến Hoa Kỳ để tiến thân, vì đất nước này là đất nước của sự "Ðồng Ðều Về Cơ Hội" (Equality Of Opportunity). Ai biết lợi dụng khai thác, người đó sớm muộn sẽ thành công.

Ưu tư hàng đầu của Việt Nam thời hậu cộng sản để tái thiết đất nước là Phát Triển Giáo Dục. Chỉ có Giáo Dục mới có thể xóa bỏ ngu dốt nghèo đói và lạc hậu! Chỉ có Giáo Dục mới xóa bỏ hận thù chia rẽ mà người cộng sản đã gieo rắc trên quê hương! Chỉ có Giáo Dục là yếu tố quyết định duy nhất chấp cánh cho dân tộc tiến lên bằng người. Phải chăng đó chính là Nhiệm Vụ Hàng Ðầu mà Cộng Ðồng Trước Mặt tự trang bị cho mình trước viễn tương Quang Phục và Tái Thiết Quê Hương Việt Nam thân yêu của chúng ta.

© Copyright by Tran Quy Thien