DẤU ẤN CỦA VĨNH CỬU

Lm Trần Quý Thiện

L

à con người sinh ra để góp mặt với đời, ai trong chúng ta cũng mong muốn tìm cho đời mình một lý tưởng để phục vụ, vừa để đóng góp xây dựng quốc gia xã hội, vừa để thăng hoa đời sống chính mình.

Có một lý tưởng để phục vụ và thăng hoa đời sống chính mình. Tìm kiếm một lẽ sống cho cuộc đời. Ðó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người sống trên trần gian.

Nhưng chung quanh ta, biết bao người không bao giờ nghĩ đến vấn đề quan trọng ấy là xây dựng cho đời mình một lý tưởng. Nhìn vào xã hội hôm nay, ta thấy có rất nhiều người sống như không có lý tưởng. Ðời họ trôi nổi xuôi theo những thăng trầm vui buồn của người đời, khác nào những cánh bèo trôi dạt trên giòng sông, vật vờ theo làn nước.

Trong khi đó, bên cạnh họ, có những người đã cố tìm cho đời mình một ký tưởng, dâng hiến cuộc đời để yêu thương và phục vụ tha nhân. Họ là những Dấu Ấn của Vĩnh Cửu. Vì kinh nghiệm cho hay: Không bao giờ con người hoàn toàn thỏa mãn với những gì có trong tầm tay, nếu không biết tự chế. Tự đáy tâm hồn, con người vẫn luôn luôn dằn vặt, vẫn khắc khoải, vẫn thao thức muốn vươn lên để sống một cuộc sống cao thượng hơn, ý nghĩa hơn, hiện thân của vĩnh cửu.

CHỨNG TỪ CỦA MỘT LỰA CHỌN: GIÃ TỪ CHỨC VỤ LUẬT SƯ ÐỂ TRỞ THÀNH LINH MỤC

Giữa một xã hội tràn ngập tin tức của thời đại truyền thông, một bài báo do ký giả Paul Zielbauer viết trên Nhật báo lớn The New York Times, phát hành ngày13 tháng 6, 1999, đã lôi cuốn sự chú ý của rất nhiều độc giả Mỹ, đặc biệt Cộng đồng Công giáo Tổng Giáo Phận New York. Sau đó sự kiện này lại được nữ ký giả Marybeth Christie phổ biến trên Nguyệt san Maryknoll, số tháng 10, 1999 vừa qua.

Ðó là thánh lễ Thụ Phong Linh mục của Joseph Everson, một cựu luật sư nổi tiếng, giàu có và uy tín thuộc Tổ hợp Luật sư Meagher & Flom thành phố New York, tại Thánh đường Dòng Maryknoll ngày 12 tháng 6, 1999. Sự kiện hiếm có này đã được chính Ðức Hồng Y John O' Connor, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận New York, vị chủ tế trong thánh lễ thụ phong linh mục, đã công khai xác nhận là "Một Dấu Ấn Kỳ Diệu và Khích Leä" đối với mọi người.
Giữa lúc danh vọng đang lên, giữa lúc tiền bạc đang vào ngút ngàn và trước sự kinh ngạc bàng hoàng của mọi người, luật sư Joseph Everson, đã từ bỏ tất cả để đi tu!

Quyết định giã từ danh vọng, giã từ tiền bạc, giã từ thế tục, giã từ tất cả của luật sư Everson thực sự đã làm ngạc nhiên rất nhiều người: Những người thân trong gia đình, các bạn đồng nghiệp, đặc biệt rất nhiều thân chủ mộ mến ông đã thúc đẩy ký giả Paul Zielbauer thực hiện một cuộc phỏng vấn trước quyết định kỳ lạ này. Xin mời bạn đọc theo dõi nội dung cuộc phỏng vấn mà tân linh mục Joseph Everson dành cho ký giả Paul Zielbauer sau ngày được thụ phong.

Joseph Everson, 37 tuổi, là một luật sư trẻ, nổi tiếng, nhiều uy tín trong giới luật sư Hoa Kỳ và thành phố New York. Ông là con út sinh trưởng trong mộït gia đình công giáo đạo đức có 10 người con tại thành phố San Francisco, tiểu bang California. Thuở thiếu thời, Everson được hấp thụ một nền giáo dục công giáo với các nữ tu Dòng Chúa Nhân Từ (God of Mercy). Lúc trưởng thành, anh theo học với các linh mục Dòng Tên tại trường Trung học St. Ignatius. Năm 1984, Everson tốt nghiệp xuất sắc văn bằng Cử nhân Sử học tại Ðại học Berkeley, tiểu bang California.

Sau đó anh chọn theo học ngành Luật tại Ðại học Luật Khoa tiểu bang Texas và tốt nghiệp với điểm danh dự. Là một người có năng khiếu về Luật, dù là sinh viên anh đã sáng lập và làm chủ biên tập san về Luật (Texas Law Review). Những năm sau, anh được bổ nhiệm làm chánh án tòa tại thành phố West Palm Beach, tiểu bang Florida. Sau đó anh di chuyển về thành phố New York, đứng đầu Tổ hợp Luật sư Meagher & Flom.

Nội dung cuộc phỏng vấn đã tiết lộ cho chúng ta tâm sự của một tâm hồn đáng quý. Trong 8 năm hành nghề, là một luật sư trẻ, nổi tiếng, giàu có và nhiều uy tín trong giới luật sư Mỹ, ngay trong chính thời gian được mọi người mến mộ thì Joseph Everson lại cảm thấy tận đáy tâm hồn mình một sự khắc khoải, mọât thao thức không ngừng!! Chính Everson đã tâm sự: "Là một luật sư, có thể nói tôi đã thành công về thế tục, có bằng cấp, có sự nghiệp, giàu có, uy tín, đồng nghiệp quý mến, làm chủ một biệt thự lộng lẫy nhìn xuống bầu trời thành phố New York đầy quyến dũ... Nhưng sự thành công này không mang lại cho tôi sự mãn nguyện về tâm linh! Tôi quyết định chọn và dâng hiến đời tôi để yêu thương và phục vụ những người nghèo."

Từ suy nghĩ ấy, năm 1992, sau khi tìm hiểu và đo lường khả năng thiện chí của mình, luật sư trẻ Joseph Everson đã quyết định bước vào Dòng Maryknoll, một dòng tu chiêm niệm khổ hạnh chuyên phục vụ những người nghèo trên khắp thế giới. Hiện nay Dòng Maryknoll có hàng ngàn linh mục, tu sĩ đang âm thầm phục vụ tại 32 quốc gia, đặc biệt những người dân sắc tộc nghèo khó, lam lũ, ít học tại Nam Mỹ, Phi Châu và Á Châu. Sau 6 năm vừa theo học Triết và Thần Học vừa thực tập sống nghèo với những người bình dân mộc mạc thuộc sắc tộc Aymara tại miền Cao nguyên nước Peru, Nam Mỹ, Joseph Everson được nhà dòng chính thức chấp nhận vào đời sống tận hiến trong thiên chức linh mục.

Trong ngày thụ phong linh mục, thứ bảy 12 tháng 6, 1999, người ta thấy có sự hiện diện đông đảo của các anh chị em, thân bằng quyến thuộc, những luật sư đồng nghiệp, đặc biệt có bà cố Virginia Everson, 77 tuổi, hiện đang hưu dưỡng tại một nhà dưỡng lão tại thành phố San Francisco. Thân mẫu tân Linh mục Joseph Everson đã xúc động nói: "Ðây là một biến cố quá kỳ diệu và đặc biệt mà Thiên Chúa đã thương ban cho gia đình chúng tôi."

Trước hàng ngàn giáo dân, linh mục, tu sĩ nam nữ đến tham dự ngày thụ phong tại thánh đường The Queen of Apostles của Dòng Maryknoll tại thành phố New York, Ðức Hồng Y O' Connor đã nhắn nhủ tân linh mục với những tâm tình thật ý nghĩa: "Joseph Everson con thân mến, không phải con đã chọn Thiên Chúa để phục vụ người nghèo nhưng chính Thiên Chúa đã chọn con." Thâm thúy và sâu sắc thay lời nhắn nhủ thân tình đã thâu gọn lý tưởng cuộc đời tạân hiến của tân linh mục Joseph Everson.

Riêng tân linh mục Joseph Everson lại cho biết: Từ nay ngài không còn phải quan tâm đến những dịch vụ tài chánh qua những chuyển dịch các trương mục ngân hàng. Không còn phải lo lắng về những dịch vụ mua bán nhà cửa, những vụ kiện tụng rắc rối và những tai nạn xe cộ! Nhưng ngài có sứ mệnh cao cả là chia sẻ Tin Mừng của Ðức Kytô cho những người nghèo khó thuộc sắc tộc Aymara trên miền đồi núi cao nguyên nước Peru, Nam Mỹ Châu.

Chính trong khi phục vụ những anh chị em bình dân, nghèo khó, thất học, suốt đời lam lũ cực nhọc trên miền đất cao 12,500 feet đối với mặt biển ấy, đã dạy cho ngài biết đâu là cốt lõi của cuộc sống: Một đời sống nghèo, đơn sơ, gần thiên nhiên đã thực sự đưa con người thoát tục, vượt trên những cạm bẫy, những quyến dũ của thế tục!! Ngài thú nhận: Tôi mang ơn những người nghèo khó bình dân ấy, vì họ đã dạy cho tôi hiểu được chỉ có đời sống đơn giản, với tinh thần nghèo khó, mới làm cho con người sống thanh thản, không còn phụ thuộc, không còn làm nô lệ vào tất những gì mà người đời tranh chấp, lừa đảo nhau để thụ hưởng: tiền bạc, danh vọng, lạc thú!!

Tôi rất hân hoan, sau khi thụ phong linh mục, được trở lại chung sống với những anh chị em sắc tộc Aymara nước Peru vào đầu tháng XI dương lịch năm 1999 sắp tới. Ðó mới đích thực là lý tưởng mà suốt đời tôi thao thức tìm kiếm. Ðó cũng chính là đại gia đình của tôi mà Thiên Chúa quan phòng mời gọi tôi đến để yêu thương và phục vụ: Những người nghèo khó thuộc sắc tộc Aymara thân mến của tôi. Với suy nghĩ tác giả bài viết này: Thật là kỳ diệu sự an bài và hoạt độâng của Thượng Ðế!

DẤU ẤN CỦA VĨNH CỬU: ÐỜI SỐNG TU TRÌ

Ngoài Công giáo, tôi không được hân hạnh biết nhiều về đời sống tu của các tu sĩ nam nữ thuộc các tôn giáo khác như Phật giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo, Tin Lành... Tôi cũng không được biết về đường lối tu đức (linh đạo), nếp sống kỷ luật cũng như đối tượng phục vụ của các tu sĩ tôn giáo bạn. Nhưng tôi luôn luôn khẳng định rằng tất cả những ai đã tình nguyện xa lìa thế tục, chọn cho mình một nếp sống tu trì, đều là những con người sẵn sàng đáp lại Tiếng Gọi của Ðấng Tối Cao trong tôn giáo mình. Những con người tận hiến này không còn sống cho mình như một người đời, mà họ đã tự nguyện quên mình để sống cho người khác trong yêu thương và phục vụ.

Nhưng kinh nghiệm cho hay: Cũng như tất cả mọi tu sĩ nam nữ thuộc các tôn giáo khác, chứng từ của sự lựa chọn dựng lại cuộc đời để sống có lý tưởng hơn của cựu luật sư Joseph Everson không phải là một sự lựa chọn dễ dàng. Ðể có một chọn lựa sáng suốt xác đáng đạt tới Lý Tưởng cuộc sống, chắc chắn anh đã phải trải qua nhiều trăn trở, nhiều thao thức giữa lý tưởng cao quý và cuộc sống thế tục.

Sự kiện từ một luật sư nổi tiếng, giàu có, uy tín để trở thành một linh mục khó nghèo khổ hạnh: Khoảng cách chỉ là một sự Dấn Thân và Tận Hiến Quảng Ðại. Nhưng dấn thân và tận hiến quảng đại không phải là một vấn đề dễ ai cũng có thể thực hiện. Do đó từ lâu rồi, tận đáy lòng tôi luôn luôn thông cảm và trân trọng quý mến đời sống của các vị chân tu nam nữ các tôn giáo, vì chính con tim bản thân tôi hàng ngày vẫn phải giằng co xâu xé để duy trì và nâng cao Lý Tưởng Tận Hiến mà tôi đã lựa chọn trước các quyến dũ của thế tục.

Chắc chắn đây không phải là một trường hợp họa hiếm duy nhất trong lịch sử dấn thân của các tu sĩ nam nữ các tôn giáo. Trên 20 thế kỷ sắp qua, ngay trong những thế kỷ sắp tới, vẫn có hàng hàng lớp lớp những con người vẫn muốn lựa chọn cho đời mình Lý Tưởng Tu Trì. Và hiện nay trên thế giới có hàng triệu con người đã trở thành chứng từ của sự lựa chọn như luật sư Joseph Everson. Có thể nói đời sống mỗi tu sĩ nam nữ là lịch sử của một sự lựa chọn: Sống tận hiến cho Thượng Ðế trong yêu thương phục vụ tha nhân. Do đó họ đã trở thành những Dấu Ấn của Vĩnh Cửu đối với mọi người.

Theo quan niệm Ðông Phương được diễn tả qua các vần ca dao: "Chán đời đi tu", "Tu là cõi phúc. Tình là giây oan" hoặc "Trốn việc quan đi ở chùa", có lẽ nhiều người sẽ khinh miệt khi nhìn thấy bóng dáng những chiếc áo nhà tu! Và họ sẽ không tiếc lời mỉa mai cho là bọn thất tình, chán đời, trốn trách nhiệm! Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Ðối với giới tu sĩ Công giáo, một điều chắc chắn là không một tu sĩ nam nữ nào dâng hiến đời sống trong bậc tu trì lại có quan niệm chán đời hay thất tình cả!!

Chúng tôi đi tu đâu phải để thoát nợ đời hoặc gỡ khỏi lưới tình quấn chân chúng tôi vào đường tục lụy. Xét cho cùng, Tình đâu có phải chuyện xấu và Yêu đâu có phải là một hành vi bất chánh. Nếu biết thực hiện tình yêu trong vòng lễ giáo, nhất là hướng về Thượng Ðế để yêu thương và phục vụ tha nhân thì bao giờ Yêu cũng tốt và Tình cũng đẹp.

Ðàng khác, chúng tôi cũng không bao giờ quan niệm đời sống vợ chồng là không đẹp, không cao thượng, vì đời sống hôn nhân là đường lối thông thường Thượng Ðế sáng tạo đã quan phòng để lưu truyền nòi giống nhân loại. Thực tế và kinh nghiệm cũng cho chúng tôi hay: Có những gia đình rất hạnh phúc, vợ chồng con cái yêu thương đùm bọc nhau. Có những gia đình rất ấm cúng và người ngoài phải thèm khát ước ao. Có những gia đình hoàn toàn cả hai phương diện tinh thần và vật chất: tốt lành đạo đức, đời sống sung túc.

Trái lại các tu sĩ nam nữ là những người muốn tôn thờ một Lý Tưởng siêu việt, muốn tận hiến cuộc đời để phụng sự một Tình Yêu Bao La không dành riêng cho ai, một tình yêu không biên giới nên họ tự nguyện không lập gia đình, để khả năng được phát triển dồi dào, có năng lực Phục Vụ một Gia Ðình Bao La hơn: Gia Ðình Nhân Loại.

Ông André Malraux (1901 - 1976), một Chính khách kiêm Văn hào người Pháp, đã viết trong tác phẩm "La Condition Humaine" (Thân Phận Con Người): "Con người là một thực tại đầy mâu thuẫn và tương phản". - Nếu con người bình thường mà còn mang nặng những yếu tố phức tạp, những giằng co thao thức như vậy, phương chi thân phận các tu sĩ nam nữ các tôn giáo! Mặc dầu đầy những mâu thuẫn và tương phản, họ cũng là những con người như trăm ngàn người khác, những hữu thể có đủ các khả năng về đức hạnh và nết xấu như bao người khác.

Người ta có thể nói: Dưới khía cạnh con người, họ là những người bị đặt vào một tình trạng khác thường. Là những con người đã được dâng hiến và trọn vẹn thuộc về Thượng Ðế, nên họ không có quyền xử dụng những phương thế mà người đời thường xử dụng. Nhưng là những con người, họ cũng mang một thân xác nặng nề, một con tim biết rung động trước mọi quyến dũ của dục tình. Vì thế người ta không lạ gì khi nhìn thấy những khuyết điểm, những lỗi lầm, những nết xấu nơi họ. Trái lại, người ta cũng phải công bằng thán phục biết bao nỗ lực hy sinh chiến đấu với chính mình của họ để luôn trung thành với Lý Tưởng Dâng Hiến.

Là con người, họ sống giữa thế gian nhưng phải sống khác thế gian! Là con người sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian! Vì Lý Tưởng và Sứ Mệnh họ luôn luôn được mời gọi biết thích nghi và đối thoại với thế gian để đưa thế gian về với Thượng Ðế. Tư thế này đòi buộc họ phải luôn luôn sáng suốt và thức tỉnh trong từng giây phút của cuộc đời. Tư thế này có thể so sánh họ như những người đi trên giây trong những đám xiệc, không khéo một chút là mất quân bình và té ngã trước những tiếng cười chê của người đời. Tư thế này có thể so sánh họ như những người bơi ngược giòng sông, nếu không đủ nghị lực sẽ bị giòng nước xoáy cuốn hút!!

Cũng như luật sư Joseph Everson, tại sao khi bao người khác đang thi đua và tranh chấp nhau chạy theo danh vọng, tiền bạc và lạc thú thì các tu sĩ lại chọn cho mình một cuộc sống đi trên giây và bơi ngược giòng như vậây?! Phải chăng sự hiện diện đông đảo của các tu sĩ nam nữ ấy chứng tỏ rằng, ngoài thế giới hữu hình này còn có một thế giới vô hình vĩnh cửu khác, mà các tôn giáo là những con đường đưa con người đến Vĩnh Cửu và Ðời Sống Bất Diệt. Và phải chăng chính cuộc sống của những tu sĩ nam nữ ấy là những Dấu Ấn của Vĩnh Cửu đang thể hiện trên thế giới vậy.