NIỀM TIN CÔNG GIÁO VIỆT NAM CẤT CÁNH

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

V

ictor Hugo (1802 - 1885), một Văn hào nổi tiếng người Pháp đã phân tích: "Sự cao cả của một dân tộc không được đo lường bằng những con số, cũng như sự cao cả của một con người không được đánh giá theo tầm vóc lớn bé: Ðơn vị duy nhất để đánh giá một dân tộc chính là nếp sống đạo đức và truyền thống cao đẹp của dân tộc ấy."

Xưa và nay, trong bất cứ xã hội nào, con người mọi nơi và mọi thời luôn tôn trọng luân thường đạo lý, vì đó là nền tảng để xã hội được tồn tại và cũng là nguyên tắc cho mọi giao tiếp của con người. Lý do không phải chỉ trong một thời gian ngắn mà đạo đức cá nhân hoặc truyền thống dân tộc được hình thành. Ðối với con người, nó là kết quả của một thời gian dài tập luyện khắc khổ. Ðối với dân tộc, truyền thống đạo đức cao đẹp là những tích lũy nối tiếp nhau qua bao thăng trầm của lịch sử mà tổ tiên họ đã để lại cho con cháu bồi đắùp.

Hậu quả đáng nói nhất sau một cuộc chiến không phải là những tàn phá vật chất, những sụp đổ tan tành nhà cửa, làng mạc, dinh thự, thành thị hoặc những tổn thất về sinh mạng con người nhiều hay ít, nhưng chính là những hệ lụy tinh thần, những mất mát khổ đau sẽ tồn tại lâu dài nơi tâm hồn con người trước những đau thương ấy.

Trong cuộc chiến ý thức hệ như cuộc chiến Việt Nam trước đây, giữa Lý Tưởng Quốc Gia tự do dân chủ nhân quyền và Chủ Nghĩa Cộng Sản vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc, những hệ lụy to lớn về tinh thần, những tàn phá nền tảng đạo đức, những mất mát về ý nghĩa cao đẹp của truyền thống dân tộc là những tổn thất đáng kể nhất, vì phải trải qua nhiều thế hệ mới có thể khôi phục được.

Chính vì nguyên nhân này, trong các hoài niệm của cuộc chiến, sau một phần tư thế kỷ nhìn lại, các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đã đặc biệt quan tâm đến khía cạnh tinh thần, những truyền thống đạo đức của người Việt Nam trong nước cũng như trong Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại. Trong tâm tư suy nghĩ của nhiều ký giả người Mỹ, họ vẫn muốn tìm hiểu "Hội Chứng Việt Nam" đã tác động thế nào trong Cộng đồng những người Việt bỏ nước ra đi.

NHẬT BÁO THE NEW YORK TIMES VIẾT GÌ VỀ MỘT GIÁO XỨ VIỆT NAM TẠI NEW ORLEANS?

Nhân ngày 30 tháng 4, 2000, kỷ niệm 25 năm kết thúc chiến tranh Việt nam, trong khi các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ khác gửi phóng viên về Việt Nam để tìm hiểu về thực trạng xã hội Việt Nam, sau khi người cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, đồng thời đặt toàn bộ đất nước này dưới chế độ cộng sản, Nhật báo The New York Times, một nhật báo lớn và có uy tín trong làng báo Mỹ, đã gửi ký giả Gustav Neibuhr đến với một Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam tại Thành Phố New Orleans, Tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ.

Tưởng cũng nên biết: Louisiana là một tiểu bang tọa lạc tại miền Ðông Nam Hoa Kỳ, tiếp giáp với các tiểu bang bạn như Texas (phía Tây), Arkansas (phía Bắc), Mississipi (phía Ðông) và phía Nam hướng về Vịnh Mexico. - Theo lịch sử, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha, ông Alvarez Pineda, đã khám phá ra miền đất này năm 1519. Năm 1682, một thuyền trưởng người Pháp, ông Sieur de la Salle, đã đổ bộ đến mũi tàu Mississipi Delta và công bố dâng hiến phần đất này cho Hoàng Ðế Louis XIV nước Pháp. Và cũng từ đó, miền đất này được đặt tên là Louisiana để kính nhớ Hoàng Ðế Louis XIV. Năm 1731, Louisiana chính thức trở thành phần đất thuộc địa của nước Pháp. Nhưng năm 1803, Hoàng Ðế Napoléon đã bán lại miền đất này cho nước Mỹ, và cũng từø đó đến nay Louisiana trở thành một trong 50 tiểu bang của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Theo tài liệu mới nhất công bố năm 2000, tiểu bang Louisiana có diện tích 112,836 cây số vuông (43,566 squares miles), với dân số 4,368.967 người và thành phố Baton Rouge là thủ phủ của tiểu bang chỉ có 211, 551 dân cư. Tuy nhiên, New Orleans với số dân cư gấp đôi là 465,538 cư dân lại là thành phố lớn nhất, đứng đầu trên 10 thành phố khác thuộc tiểu bang. Theo bảng phân tích kiểm tra dân số năm 1990, trong tổng số dân cư toàn tiểu bang là 4,368.967 người thì dân Mỹ trắng chiếm 67,3 %; dân Mỹ đen: 30,8 %; người Mễ: 2,2 %; người gốc Á Châu chỉ có 1, 0 % tức 41,099 người.

Ngày nay các du khách ngoại quốc, đồng bào các tiểu bang khác và cả trong nước có dịp đến thăm viếng Thành Phố New Orleans, mà người Việt chúng ta thường thân mật gọi là "Ngọc Lân", đã nhìn thấy tận mắt những hình ảnh về sự thành công của người Việt hải ngoại, với hàng trăm cơ sở thương mại như siêu thị, nhà hàng, tiệm kim hoàn, văn phòng du lịch, quán ăn, các văn phòng dịch vụ mà trong những ngày lễ tấp nập đông đảo kẻ mua người bán, cho chúng ta có cảm tưởng như đang sống tại Thủ Ðô Sài Gòn trước năm 1975.

Nhật báo The New York Times, số phát hành ngày 24 tháng 4, 2000, có đăng một bài của ký giả Gustav Niebuhr, sau hai lần đến tham quan thành phố New Orleans để tìm hiểu những đặc điểm của Cộng Ðồng Người Việt tỵ nạn cộng sản tại đây. Qua đó ông đã chú ý đến một điểm khá đặc biệt của tập thể người công giáo Việt Nam hiện đang sinh sống tại Giáo Xứ Maria Nữ Vương Việt Nam: Ðó là giáo xứ này hiện có rất đông thanh thiếu niên nam nữ muốn dâng hiến cuộc đời để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân trong đời sống tu trì.

Dưới nhan đề bài báo "Guess Where The Church is Booming? " (Bạn Hãy Ðoán Xem Nơi Ðâu Giáo Hội Ðang Bùng Nổ?), bài ký sự này đã có một tác dụng đặc biệt với Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ, vì hiện nay đang bị khủng hoảng trầm trọng vì có rất ít người muốn dấn thân đi tu!! Nhiều tu viện bỏ trống, nhiều thánh đường bị phát mại, nhiều giáo xứ thiếu linh mục tu sĩ nam nữ săn sóc!! Do đó bài ký sự này đã được đăng lại trong Nguyệt san Catholic Digest, số tháng Giêng năm 2001 vừa qua.

Ðể quý độc giả cùng chia sẻ những tư tưởng của ký giả Gustav Niebuhr, đồng thời cũng là những suy nghĩ, những tâm tình của người công giáo Mỹ với giáo dân Việt Nam, chúng tôi xin được hân hạnh chuyển ngữ bài ký sự này cống hiến quý độc giả.

Trước đây 25 năm, ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi người cộng sản miền Bắc cưỡng chiếm Thủ Ðô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa, giải đất từ con đường Dwyer Road chạy dài từ thành phố New Orleans đến Vịnh Mexico cách đó mấy chục dặm chỉ là những bãi sình lầy sũng nước ẩm thấp dơ bẩn!!

Ðức Ông Mai Thanh Lương, hiện là Cha Sở Giáo Xứ Maria Nữ Vương Việt Nam, kiêm Giám Ðốc Văn Phòng Mục Vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, thời đó là linh mục Việt Nam đầu tiên đặt chân đến vùng đất này vào cuối thập niên 1970, nói với ký giả Gustav Niebhuhr: "Lúc đó, nơi đây chỉ là những vùng sình lầy ngập nước!". Nhưng hiện nay, từ văn phòng của Ngài, Ðức Ông Mai Thánh Lương vui mừng nhìn thấy nơi đây đã hoàn toàn thay da đổi thịt, một ngôi thánh đướng khá lớn uy nghi vươn lên giữa những thảm cỏ xanh tươi bao bọc chung quanh, với một kỳ đài cao mang ba lá cờù: quốc kỳ Hoa Kỳ, cờù Thánh Tâm Chúa Kytô và quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa màu vàng ba sọc đỏ đang tung bay trước làn gió nhẹ.

Ðức Ông Mai Thanh Lương giải thích cho ký giả Gustav Niebuhr: Ngôi thánh đườùng của Giáo Xứù Maria Nữ Vương Việt Nam này đã được xây cất trên miền đất mà trước đây là vùng đầm lầy ngập nước. Nó chính là niềm tự hào và biểu tượng tinh thần của trên 6,000 giáo dân Việt Nam thuộc giáo xứ này. Nó cũng tượng trưng cho sự lớn mạnh của Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam trên nước Mỹ và cả với Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ qua các chương trình định cư các sắc dân trên quốc gia hiếu khách này.

Trong những thập niên gần đây, nhờ những thay đổi lớn qua chính sách di trú mềm dẻo uyển chuyển hơn cùng với nên kinh tế phát đạt, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã trở thành vùng đất lành chim đậu qua nhiều đợt nhập cảnh định cư đến từ Ðông Âu, Châu Mỹ La Tinh, Phi Châu và Á Châu. Những đợt di dân này đã tác động mạnh và thay đổi bộ mặt của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ khác nào những đợt định cư của những người Ái Nhĩ Lan, người Ý, người Ðức cách đây trên một thế kỷ, vì đa số những người mới đến định cư này là những người công giáo.

Trong các nhóm định cư Á Châu, Cộng Ðồng Người Việt tuy chỉ là một sắc dân thiểu số non trẻ nhưng năng động không kém, vì đã đóng góp tích cực cho sự phồn thịnh tại những vùng đất mà họ sinh sống. Cùng với các đồng hương khác, người Công Giáo Việt Nam sinh sống rải rắc khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ, ngay cả tiểu bang Alaska lạnh lẽo giá buốt quanh năm tuyết phủ hoặc tiểu bang Ha Uy Di, nơi được mệnh danh là thiên đàng hạ giới, cũng có một cộng đoàn công giáo Việt Nam trên 500 giáo dân.

Riêng tại thành phố New Orleans và phụ cận, Ðức Ông Mai Thánh Lương cho biết có tới trên 16,000 giáo dân. Những năm trước Giáo Xứ Maria Nữ Vương Việt Nam phải cần đến 7 linh mục phục vụ, nhưng vài năm gần đây số giáo dân ngày càng đông, nên phải thành lập thêm một giáo xứ mới là Giáo Xứ Lê Thị Thành do linh mục Vũ Hân vớiø 2 linh mục phụ trách. Ngoài ra còn có 5 cộng đoàn nhỏ, trong đó có Ðền Thánh Ðức Mẹ La Vang New Orleans, do linh mục Nguyễn Ðức Huyên đặc trách, hàng năm tổ chức Ðại Hội Ðức Mẹ La Vang quy tụ hàng chục ngàn giáo dân khắùp nơi đổ về.

Hàng trăm cộng đoàn, giáo xứ Việt Nam đã được thành lập khắp nơi, từ thành phố New Orleans đến các tiểu bang Texas, Nam Bắc California, Georgia, Illinois, Michigan, Washington DC. Nhưng đặc điểm đáng quý nhất làm ký giả Gustav Niebuhr phải thán phục: Những cộng đoàn công giáo Việt Nam này là nơi thường xuyên cung cấp rất nhiều người trẻ tình nguyện dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa trong nếp sống tu trì.

Theo những tài liệu do các giới chức thuộc Hội Ðồng Công Giáo Hoa Kỳ (USCC) hợp tác với Cơ Quan Di Trú Chính Phủ Mỹ trong công tác định cư, phần đông những người Việt Nam đến định cư tại Mỹ là những Phật Tử, nhưng 1/3 trong tổng số này là người Công Giáo, tức 450,000 giáo dân. So sánh với tổng số giáo dân của toàn thể Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ là 62,018.436 (tức 23% dân số toàn nước Mỹ), tổng số giáo dân Việt Nam trên đây không tới 1.0%, một tỷ lệ khá khiêm tốn! Nhưng theo Trung Tâm Nghiên Cứu Tông Ðồ trực thuộc Ðại Học Công Giáo Georgetwn: Trong tổng số 3,500 đại chủng sinh đang theo học các đại chủng viện để thụ phong linh mục thì số đại chủng sinh Việt Nam chiếm 3% tức 105 thày. Ðó là người ta chưa kể đến rất đông các tập sinh nam nữ Việt Nam trong các tu viện trên khắp nước Mỹ. Do đó có tình trạng một số khá đông linh mục Việt Nam được bổ nhiệm làm Cha Sở coi sóc các giáo xứ người Mỹ. Trong nhiều tu viện nam nữ, vị tu viện trưởng xuất thân là người Việt Nam. Phải chăng đây chính là một vinh dự cho người Việt Nam chúng ta.

Ông Michael W. Foley, Giáo sư Khoa Chính trị học thuộc Ðại Học Công Giáo Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn, là người điều hành một tiểu ban khảo sát về các sắc tộc mới đến định cư tại Mỹ để cung cấp tài liệu cho Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ, nhận xét: "Số đại chủng sinh Mỹ ghi danh vào các đại chủng viện ngày càng giảøm kể từ thập niên 1960. Người ta hy vọng một sự bù đắùp nơi các sắc tộc thiểu số mới đến định cư. Vấn đề khủng hoảng này cũng là tình trạng chung của nhiều quốc gia. Nhưng 20 năm qua, sở dĩ Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ không thiếu hụt người đi tu là nhờ những đợïät di dân của những quốc gia đệ tam."

Một sự kiện cụ thể để minh chứng: Tháng 5, 1999 vừa qua, Tổng Giáo Phận New Orleans đã phong chức Phó Tế cho 7 đại chủng sinh. Một trong 7 người đó là Thày Hoàng Minh Tường, 31 tuổi, là một giáo dân thuộc Giáo Xứ Maria Nữ Vương Việt Nam. Thày là một thuyền nhân đã cùng với gia đình đến Mỹ cách đây ít năm. Sau đó thày đã đáp tiếng Chúa kêu gọi và xin gia nhập đại chủng viện. Thày nói với ký giả Gustav Niebuhr: "Ða số các gia đình Công giáo Việt Nam đều đông con. Và các cha mẹ thường hy vọng được hân hạnh dâng ít nhất một người con của họ cho Thiên Chúa. Vì đó là một vinh dự lớn lao cho gia đình có một người con làm linh mục hay tu sĩ nam nữ. Gia đình tôi chỉ có 3 anh chị em nhưng tôi cũng quyết tâm đi tu."

Chính gia đình Ðức Ông Mai Thanh Lương cũng là một thí dụ điển hình. Gia đình ngài có tất cả 11 người con: 8 con trai và 3 con gái. Một người em trai của ngài cũng là linh mục và hiện đang phục vụ cho giáo dân người Thượng tại Miền Trung Việt Nam. Bản thân ngài được thụ phong linh mục năm 1965 tại New York. Trong hai thập niên qua, nhiều giáo dân Việt tại Mỹ biết đến ngài, từ khi Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ bổ nhiệm ngài làm Giám đốc Văn Phòng Mục Vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ngài cho biết:

"Trong những ngày đầu mới đến vùng New Orleans, những giáo dân Việt Nam đã gặp muôn vàn khó khăn! Chúng tôi chỉ có hai bàn tay trắng! Trong 2 năm đầu, chúng tôi phải cử hành các nghi lễ ngoài trời! Ðôi khi thời tiết xấu, chúng tôi phải cử hành thánh lễ Chúa Nhật dưới những chiếc lều vải để che mưa nắng!!"

Giáo xứ Maria Nữ Vương Việt Nam được thành lập năm 1983, ngay sau thời gian dài một thập niên bùng nổ những đợt di dân Người Việt liên tiếp đến vùng này. Như một vùng đất lành chim đậu, nhiều đồng bào khắùp nước Mỹ cũng tìm về đây sinh sống. Phát ngôn viên Tòa Tổng Giám Mục New Orleans cho biết: Hiện có trên 20,000 người công giáo gốc Á Châu thuộc Tổng Giáo Phận, nhưng đông nhất vẫn là giáo dân Việt Nam, chiếm 4 % trong tổng số 500,000 giáo dân của tổng giáo phận.

Trên đất nước Hoa Kỳ hiện nay, có nhiều trung tâm đông đảo người công giáo Việt như tại Houston, San Jose Bắc California và đặc biệt Quận Cam miền Nam California. Ngoài ra cũng có rất nhiều cộng đoàn công giáo nhỏ như tại thị trấn Sioux, tiểu bang Iowa, mà Ðức Ông Mai Thanh Lương vừa đến giới thiệu một linh mục Việt Nam nhận nhiệm vụ tại đây. - Phía sau văn phòng giáo xứ là một ngôi trường mẫu giáo khang trang đẹp đẽ, hai tầng lầu, do các nữ tu Việt Nam dòng Ðức Mẹ Mân Côi điều hành.

Nữ tu Mary Faustina Nguyễn Bạch Yến, 28 tuổi, năm 1979 khi gia đình vượt biển đi tìm tự do mới chỉ có 8 tuổi. Sau một năm tạm trú tại trại tỵ nạn, gia đình chị đã tìm đến định cư tại New Orleans. Là người con thứ ba trong gia đình 8 anh chị em, khi đến Mỹ chị giúp gia đình buôn bán nhưng chị cho biết: "Tuy nhiên tôi vẫn khao khát tìm cho mình sự bình an tâm hồn trong đời sống nội tâm." Thế là ít năm sau, đáp lời Chúa mời gọi, chị xin gia nhập Dòng Ðức Mẹ Mân Côi để phục vụ trong công tác giáo dục. Chị cho biết tại Hoa Kỳ Dòng của chị có tất cả 40 nữ tu, 4 tập sinh, nhưng đây chỉ là một chi nhánh nhỏ thuộc nhà mẹ gốc tại Việt Nam với hàng trăm nữ tu.

Một thí dụ khác về một dòng nam xuất phát từ Việt Nam hiện đang sinh hoạt tại Hoa Kỳ: Ðó là Dòng Ðức Mẹ Ðồng Công, có một tu viện rất lớn tại thành phố Carthage, tiểu bang Missouri. Mỗi năm vào mùa hè, nhà dòng tổ chức Ðại Hội Thánh Mẫu quy tụ từ 50,000 đến 70,000 giáo dân Việt Nam khắp nơi về tham dự, trong đó có cả giáo dân của Ðức Ông Mai Thanh Lương.

Nhưng một vấn nạn được đặt lên: Tuy những giáo dân Việt Nam đã hội nhập vào xã hội Mỹ, nhưng lòng sùng đạo của họ có thể tồn tại bao lâu, khi mà hàng ngày họ phải va chạm với một nền văn hóa nặng về hưởng thụ vật chất và đề cao tự do cá nhân?! Người ta chưa tìm được câu trả lời. Nhưng một vài nữ tu dòng Ðức Mẹ Mân Côi đã thú nhận với ký giả Gustav Niebuhr: "Ngày nay thật rất khó khi phải đề cập vấn đề đi tu với các thanh thiếu niên hơn là với những người lớn tuổi! ". Nữ tu Rosa Vũ Tin, Giám đốc nhà trẻ, nói: "Nhiều thanh thiếu niên Việt Nam bây giờ sớm chạy theo văn hóa Mỹ. Với các em, tiềân bạc và thời trang là quan trọng hơn hết!" - Nữ tu Mary Faustina, giáo viên dạy giáo lý, cũng đồng ý: "Ða số các em Việt Nam bây giờ bị áp lực nhiều trước trào lưu vật chất! Nói về đạo và đi tu với các em là vấn đề thật khó khăn!"

NGHĨ VỀ NIỀM TIN CÔNG GIÁO VIỆT NAM CẤT CÁNH

Ðọc qua nội dung bài ký sự trên đây của ký giả Gustav Niebuhr đăng trên Nhật báo The New York Times và Nguyệt san Catholic Digest, viết về sự đóng góp của Cộng Ðồng Người Việt tại Hoa Kỳ, đặc biệt của giới Công Giáo Việt Nam với Giáo Hội Công Giáo Mỹ, có lẽ đã mang lại cho chúng ta một niềm vui pha lẫn nhiều suy nghĩ.

Trước hết chúng ta vui mừng trước những thành công của Cộng Ðồng Người Việt trên miền đất này, mà chúng ta đã nhận làm quê hương thứ hai cho mình và cho con cháu sau này. Riêng với sự hiện diện của người Công Giáo Việt Nam tại đây trên hai thập niên qua, từ ngày họ không chấp nhận chế độ cộng sản bỏ nước ra đi, để được tự do sống đạo và hành đạo, họ đã được vinh dự thay đổi một phần nào bộ mặt và trực tiếp đóng góp thêm vào sức sống cho sự phát triển của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ.

Nếu trước đây trên dưới một thế kỷ, những đoàn giáo dân đến từ Ái Nhĩ Lan, Ý, Ðức, đã cung cấp rất nhiều người đi tu và hiện đang giữ những chức vụ cao cấp trong Hàng Giáo Phẩm Công Giáo Hoa Kỳ, thì phải chăng ngày nay, những giáo dân Việt Nam cũng đã cùng với các sắc dân công giáo khác đang tiếp nối sự nghiệp cao quý này. - Sự hiện diện đông đảo của 541 linh mục dòng triều, 32 Phó Tế vĩnh viễn, 12 dòng nam, 25 dòng nữ với trên 1,000 nam nữ tu sĩ, chủng sinh, đệ tử. Và chỉ tính từ năm 1975 đến nay đã có thêm trên 250 linh mục Việt thụ phong tại đây, đó không phải là một đóng góp ý nghĩa và tích cực sao?!

Quả thật đây không phải chỉ là một suy luận suông, nhưng là một thực tế cụ thể có thể minh chứng: Trong dịp phái đoàn Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ chính thức sang thăm viếng Giáo Hội Việt Nam, do Ðức Tổng Giám Mục Joseph A. Fiorenza, Chủ Tịch Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ hướng dẫn, trong một thánh lễ trọng thể ngày 29 tháng 8 năm 1999, tại Nhà Thờ Chánh Tòa Thủ đô Hà Nội, ÐứcTổng Giám Mục Fiorenza đã nhân danh Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ, chính thức ngỏ lời cám ơn và ca tụng sự đóng góp tích cực của người Công Giáo Việt Nam tại đây.

Sự đóùng góp của người Công Giáo Việt Nam với Giáo Hội Hoa Kỳ hiện nay có thể mang nhiều ý nghĩa: Nó chứng minh lòng trung kiên sắt đá của họ với Niềm Tin Công Giáo. Là con cháu của trên 300,000 anh hùng tử đạo tuẫn tiết vì Ðạo Chúa dòng dã gần 4 thế kỷ qua, người Công Giáo Việt Nam ngày nay luôn coi đó là một vinh dự lớn lao, nên họ sẵn sàng dâng hiến những người con, người cháu của mình cho Thiên Chúa để phục vụ tha nhân. Chúng tôi biết rất rõ có những gia đình chỉ có một người con duy nhất, nhưng họ vẫn chấp nhận hy sinh để dâng hiến con mình cho Giáo Hội trong đời sống tu trì. - Nó cũng chứng tỏ sự trưởng thành của Niềm Tin Công Giáo Việt Nam đã cất cánh, khác nào những con chim én đã đủ lông cánh, bắt đầu tung cánh bay xa, tạo nên những Mùa Xuân Mới cho Giáo Hội Công Giáo.

Cũng như ký giả Gustav Niebuhr, chúng tôi lo ngại tự đặt cho mình và các phụ huynh Việt Nam trên miền đất này một vấn nạn: Làm sao để duy trì và phát triển lòng sùng đạo đó nơi con em chúng ta? Câu trả lời xin nhường lại cho quý vị phụ huynh suy nghĩ.

© Copyright by Tran Quy Thien