TÌNH NGƯỜI KHÔNG BIÊN GIỚI

Linh Mục TRẦN QUÝ THIỆN

T

rên dòng đời, con người không sống cô độc một mình. Ðời sống con người khác nào như những tấm thảm mà những mối liên hệ yêu thương là nhữøng sợi tơ. Mỗi gắn bó thân quen là những đường chỉ đan dệt với những người chung quanh.

Sống trong xã hội, mỗi người chúng ta đều có một sứ mệnh phải vuông tròn. Sứ mệnh này thật cao cả nhưng cũng vô vàn khó khăn: Ðó là Yêu Thương Tha Nhân hoặc nói chung là Phục Vụ Tình Người. Sứ Mệnh Yêu Thương Tha Nhân này sẽ trải dài trong suốt cuộc đời mỗi người chúng ta, từ khi cất tiếng khóc chào đời đến lúc vĩnh biệt tất cả để bước vào bên kia thế giới.

Là một tạo vật mang tính xã hội, con người sống là sống với người khác, vì người khác và cho người khác. Cuộc sống liên đới này cần phải thực hiện thế nào để bản thân ta không trở thành gánh nặng cho người khác, trái lại càng làm cho đời sống ngày càng thăng hoa và hướng thượng hơn.

Thế nhưng, đời sống con người lại gắn chặt với không gian và thời gian. Vì thế Tình Người nhiều khi cũng thay đổi theo thời gian và không gian. Trong thế giới hôm nay và ngay trong hoàn cảnh sống đặc biệt của xã hội Việt Nam, chúng ta có còn gặp được Mẫu Tình Người nào vượt trên mọi biên cương chủùng tộc, màu da, sắc tiếng, vươn qua mọi chính kiến và ý thức hệ không? Chúng tôi xin ghi lại câu chuyện có thực dưới đây như một biểu tượng đầy ý nghĩa sâu sắc của Tình Người Không Biên Giới để chúng ta cùng suy nghĩ.

TÂM TÌNH CAO QUÝ BA THẾ HỆ MỘT GIA ÐÌNH MỸ.

Theo dõi nhịp sống của nhân dân Hoa Kỳ, không ai có thể ngờ rằng chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 26 năm nay, nhiều người vẫn lầm tưởng nó đã thực sự trôi vào dĩ vãng và đã bị xóa nhòa trong ký ức người dân Mỹ, thì trái lại nó đã trở thành "Hội Chứng Việt Nam" vẫn luôn luôn ám ảnh trong tâm tư rất nhiều người trên miền đất này, vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một cuộc chiến đã từng gây chia rẽ giữa lòng dân tộc Hoa Kỳ, vì đã làm cho quân lực hùng mạnh của Mỹ nếm mùi thất bại!!

Nhưng nói chung, sau một phần tư thế kỷ nhìn lại, những suy nghĩ, những phân tích của các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đã có chiều hướng nhân ái hơn, bớt hậm hực và hòa hoãn hơn. Nhiều bài tường thuật và bình luận về cuộc chiến Việt Nam mang nhiều khía cạnh nhân đạo hơn. Những đúc kết về cuộc chiến được viết lại với những lăng kính mới mẻ hơn. Có rất nhiều bài viết đề cao những gương chiến đấu quả cảm đến anh hùng của những người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa.

Bên cạnh đó, có những câu chuyện rất thực và đầy tình người. Những mẩu chuyện liên hệ đến những nhân chứng bất đắc dĩ của lịch sử. Có những câu chuyện rất cụ thể xảy ra giữa những nạn nhân chiến tranh với sự bao bọc của những gia đình Mỹ, thí dụ những em bé thơ Việt Nam mồ côi được di tản trong những ngày cuối cuộc chiến đã trưởng thành và thành công trên đất Mỹ.

Câu chuyện dưới đây viết về một em bé gái Việt Nam nạn nhân chiến tranh và những tâm tình cao quý của ba thế hệ một gia đình Mỹ đã làm thảng thốt lương tri độc giả. Như một chất xúc tác thêm vào một khía cạnh độc đáo trong hoài niệm về cuộc chiến, câu chuyện nhắc nhở cho chúng ta rằng đây mới thực sự là những di sản bi thảm mà cũng rất nhân ái của cuộc chiến Việt Nam 26 năm trước đây.

Claudia Dowling, một ký giả của Tuần báo Time, đã viết bài tường thuật này và được đăng trên mạng lưới Internet của CNN Asia Now ngày 22 tháng 5 năm 2000 vừa qua. Câu chuyện hi hữu nhưng đầy tính nhân ái này mô tả hai người Mỹ đã cất công đi tìm một bé gái Việt Nam tên là Nguyễn Thị Trọn, một cô gái đã từng là biểu tượng đau thương của chiến tranh, khi cô bị cụt một chân do hậu quả một cuộc tấn kích của quân đội Mỹ dịp Tết Mậu Thân năm 1968.

Dưới con mắt của nhiều người, cô chỉ là một đứa bé gái bình thường nhưng với ký giả Claudia Dowling, cô đã trở thành biểu tượng của một cuộc chiến què quặt!! Lần đầu tiên ký giả Larry Burrows gặp bé Nguyễn Thị Trọn vào năm 1968, khi em chỉ là một cô bé miền quê 12 tuổi, đang ngồi chơi đong đưa trên một chiếc ghế xích đu cùng với một em bé khác. Ký giả Larry Burrows rất ngạc nhiên, bởi vì hai em bé mà chỉ có một chân của bé Trọn chống xuống đất để đẩy đưa chiếc ghế xích đu.

Có lẽ vì ký giả Larry Burrows cũng có một đứa con gái trạc cùng tuổi với bé Nguyễn Thị Trọn nên tự nhiên anh có cảm tình và thương xót em. Sau này anh tìm hiểu thêm và được biết rằng, một hôm bé Trọn đi vào rừng tìm kiếm rau và củi, trong một vùng được coi là "oanh kích tự do", nơi mà theo luật chiến tranh của Quân Lực Hoa Kỳ, bất cứ ai di động trong vùng này đều bị tình nghi là Việt cộng và đương nhiên bị bắn bỏ.

Và trực thăng Mỹ đã xả đạn bắn vào em Trọn!! Khi trực thăng đáùp xuống, những người quân nhân Mỹ mới khám phá ra là họ đã bắn lầm và lập tức tải thương em đến một bệnh viện gần đó cứu cấp. Khi tỉnh dậy và sau khi được biết một phần chân của mình đã bị cắt bỏ, điều lo âu đầu tiên của bé Trọn là làm sao em có thể đi bộ trở về làng cũ của em. Sau cùng mẹ em cũng tìm đến được bệnh viện và bà đã dùng số tiền 35 mỹ kim của một người lính Mỹ cho để trả chi phí tiếp máu cho em Trọn.

Trong những thời gian sau đó, ký giả Larry Burrows đã theo dõi săn sóc thuốc thang, chụp hình vết thương và bé Trọn được cấp phát một chân giả. Em tập đi xe đạp và trở về làng cũ đi học lại. Anh đã trở thành một người bạn gần gũi với bé Trọn cho mãi đến khi anh hoàn thành câu chuyện để đăng báo. Khi bài báo của anh được đăng trên Tuần báo Life, rất nhiều độc giả khắp nơi xúc động và tự động hưởng ứng bằng cách gửi rất nhiều quà tặng, đồ chơi, búp bê, đến nỗi bé Trọn dùng không hết phải phân chia cho các em khác trong làng.

Sau này ký giả Larry Burrows đã mua tặng em một chiếc máy may và giúp đỡ gia đình em một số tiền khá lớn để sửa sang và làm lại căn nhà bé nhỏ của gia đình em. Khi nào có thời giờ rảnh rỗi, anh thường trở lại thăm viếng gia đình em. Anh giúp bé Trọn thay cái chân giả lớn hơn và mua giày và quần áo tặng cho em.

Một bất hạnh bất ngờ xảy đến, năm 1970, ký giả Larry Burrows bị tử thương khi trực thăng chở anh bị bắn rớt tại vùng Hạ Lào! Ba mươi năm sau, tháng 5 năm 2000 vừa qua, con trai của ký giả Larry Burrows là anh Russell Burrows được mời đến Thủ đô Hà Nội tham dự một cuộc triển lãm công trình nhiếp ảnh của những nhiếp ảnh gia đã tử thương trong thời chiến tranh. Ngày 6 tháng 5 năm 2000, cuộc triển lãm được đưa vào Thành phố Sài Gòn, Russell Burrows hẹn gặp người con gái của anh, tên là Sarah Burrows, 16 tuổi, và họ cùng nhau khởi đầu đi tìm kiếm cho kỳ được bé Nguyễn Thị Trọn thuở nào mà ông nội họ là ký giả Larry Burrows đã tận tình giúp đỡ.

Tin tức sau cùng cho biết bé Nguyễn Thị Trọn ngày xưa hiện sinh sống bằng nghề may kiêm y tá tại một ngôi làng mang tên Phước Bình. Hai cha con Russell và Sarah Burrows chỉ mơ hồ biết rằng Phước Bình là một tên quen thuộc trong những địa danh Việt Nam, có ý nghĩa là Hòa Bình và Hạnh Phước. Qua nhiều ngày, Russell và Sarah đã đi len lỏi từ làng này đến ấp nọ trong các tỉnh vùng Ðông Nam Bộ, đến từng cửa hàng may, xuất trình hình ảnh của Trọn để mong có người nào đó nhận diện được.

Thật là một may mắn không ngờ, ngày cuối cùng trước khi lên đường trở về Hoa Kỳ, lòng đầy thất vọng chán nản, hai cha con tình cờ ghé đến một làng Phước Bình khác. Dân chúng trong làng nhận ra hình Trọn lúc bé và hướng dẫn họ đến cuối làng. Tự nhiên chị Nguyễn Thị Trọn ngay lập tức biết những người Mỹ này là ai.

Theo cô Sarah Burrows kể lại: "Chị Trọn cười rất rạng rỡ khi gặp mặt chúng tôi, vì cha tôi rất giống ông nội tôi." Sau đó cả gia đình chị túa ra đi tìm thức ăn đãi khách. Họ mang ra nào là đu đủ, nào là dừa tươi và trái cây. Chị Trọn cũng mang ra khoe những lá thư cũ của ông nội chúng tôi, ký giả Larry Burrows, và cả chiếc máy may cũ ngày xưa. Năm nay chị Nguyễn Thị Trọn đã 44 tuổi, còn độc thân và hiện đang sống với một đứa cháu gái. Còn Russell Burrows nói: "Cô ta có một nụ cười thật tươi đẹp nhưng vẫn phảng phất một nỗi u buồn khó tả."

Sarah kể thêm, đêm hôm đó, đã đến giờ họ phải chia tay. Cả ba chúng tôi cùng ngồâi xuống trên một băng ghế gỗ đơn sơ mộc mạc: "Ba chúng tôi người thì không nói được tiếng Anh, còn cha con tôi thì không biết một chữ tiếng Việt nào ngoài cái tên Phước Bình!! Cô Trọn bịn rịn nắùm nhẹ tay tôi và một bàn tay kia cô khẽ vuốt nhẹ trên mái tóc tôi." Giây phút tạm biệt đã đến, những người bạn Mỹ không dám hứa với chị Trọn sẽ trở lại. Nhưng trong thâm tâm, Sarah đã tự hứa với lòng mình rằng: "Tôi sẽ trở lại."

NGHĨ VỀ TÌNH NGƯỜI KHÔNG BIÊN GIỚI.

Nội dung bài báo trên đây của ký giả Claudia Dowling viết về những tâm tình cao quý ba thế hệ một gia đình Mỹ đã tìm đến thăm viếng và giúp đỡ chị Nguyễn Thị Trọn, một nạn nhân chiến tranh, có lẽ đã mang lại cho chúng ta một niềm vui. Mặc dầu gia đình cố ký giả Larry Burrows không giúp gì nhiều và lớn lao cho chị Trọn, nhưng qua quyết tậm tìm kiếm cho kỳ được một phụ nữ mà ông nội họ đã tận tình săn sóc, đã nói lên cả một tấm lòng thể hiện một Tình Người Không Biên Giới.

Có thể nói đây là một "Mẫu Tình Người" đã vượt trên mọi biên cương của chủng tộc, màu da, sắc tiếng, vươn qua mọi chính kiến, ý thức hệ khác nhau. Không gian không làm họ xa cách nhau. Thời gian ba mươi năm sau không làm họ quên nhau!! Từ đó chúng ta phấn khởi, vì trong những hoài niệm về cuộc chiến, câu chuyện nhắc nhở chúng ta rằng, mặc dầu có những hệ lụy bi thảm của chiến tranh, vẫn còn có những tấm lòng vàng, đầy nhân ái mà người ta trao cho nhau, mặc dầu hai người sống hai đối phương của cuộc chiến!! Chắc chắn qua cuộc thăm viếng này, những người dân làng Phước Bình một phần nào cũng biết được và quý mến những chân tình và thiện chí muốn giúp đỡ của những người, mà chế độ cộng sản không ngừng lên án họ là tên đầu sỏ đế quốc Mỹ!!

Ðọc lại bài ký sự viết lại câu chuyện rất thực và đầy tình người không biên giới này, chúng ta cảm thấy phấn khởi, vì giữa xã hội thực dụng thiếu tình người hôm nay, chúng ta hân hạnh còn gặp được những tâm hồn quảng đại biết quên mình vì người khác. Qua đó, chúng có thể noi gương để bớt đi những ích kỷ nhỏ nhen, những hận thù ghen ghét, những thành kiến tư lợi để tìm đến với nhau, yêu thương và phục vụ nhau.

Ghen ghét, hận thù, dối trá là những kẻ thù của Tình Người. Sẽ không có Tình Người, bất cứ nơi nào mà ghen ghét hận thù ngự trị. Sẽ là hỏa ngục trần gian, bất cứ nơi đâu dối trá, lọc lừa, phản bội chiếm ngự. Nơi đó có thể là tâm hồn ta, gia đình ta và xã hội ta đang sống.

Văn hào người Nga, ông Dostoievski (1827 - 1881), tác giả của những tác phẩm nổi tiếng thế giới như "Tội Ác và Hình Phạt", "Anh Em Nhà Karamazoi", là một con người đã trải qua một cuộc đời đầy sóng gió, vào tù ra khám. Sau một thời gian dài bị giam cầm tù ngục vì lý do chính trị, ông bị kết án tử hình. Nhưng một ngày kia, vào giữa lúc đứng trên máy chém, sắp sửa bị hành quyết, như một phép lạ, ông bỗng nhận được lệnh tha. Từ đó cuộc đời ông đã hoàn toàn thay đổi từ giây phút sắp sửa bị hành quyết. Từ trên máy chém nhìn xuống đám người đứng dưới chân mình, Dostoievski chỉ còn thấy họ là những người đáng thương, những người bị áp bức. Dù họ có phạm những tội ác tầy trời thế nào đi nữa, đối với ông, tâm hồn họ vẫn là tâm hồn của những người vô tội, đáng nhận được sự tha thứ...

Từ trên máy chém bước xuống, Văn Hào Dostoievski thấy tất cả đều vô nghĩa. Ðối với ông, điều duy nhất còn có ý nghĩa sâu xa và vô cùng quan trọng là Sứ Ðiệp Tình Thương, một Tình Thương Không Biên Giới mà ông nhận thức có sứ mệnh phải phổ biến cho mọi người và cầu mong mọi người thực hiện.

Suốt 30 năm sau, trong quãng đời còn lại, ông vẫn luôn luôn nhìn mọi sự xảy ra trên đời qua lăng kính của Tình Người. Vì một lần bị đưa lên máy chém ấy đã cho ông hiểu rằng thân phận con người luôn luôn gắn liền với khổ đau. Tất cả mọi người đều đáng cảm thông và thương mến. Trên cõi đời này, không có gì cao quý và thiết thân cho con người bằng Yêu Thương và Phục Vụ Tha Nhân. Hãy nói với mọi người: "Hãy Yêu Thương và Phục Vụ nhau. Cuộc đời này không có gì đáng chúng ta quan tâm ngoài Yêu Thương và Phục Vụ nhau". Ðó là Sứ Ðiệp mà Văn Hào Dostoievski công bố suốt cuộc đời còn lại, nhất là trong các tác phẩm của ông. Cả cuộc đời ông là một cố gắng không ngừng để thực hiện châm ngôn mà ông đã lựa chọn cho đời mình: "Hỡi Bạn! Không có gì ngăn cản tôi không Yêu Thương và Phục Vụ Bạn."

Trong kho tàng Văn Hóa Việt Nam hiện đại, chúng ta cũng có một con người đang bước theo vết chân của Văn Hào Nga Dostoievski, đó là Nhạc sĩ Vũ Thành An. Trước năm 1975, ông là tác giả một loạt những nhạc phẩm rất nổi tiếng, cùng mang một nhan đề duy nhất "Những Tình Khúc Không Tên Số..." và được giới trẻ Việt Nam rất ưa chuộng ngưỡng mộ. Sau biến cố tháng tư đen năm 1975, là một nhân viên chính quyền cũ, ông phải đi tù cải tạo. Trong thời gian dài 10 năm tù tội, giữa vực thẳm của ngục tù, của khổ đau, của chết chóc luôn đe dọa bên mình, Vũ Thành An đã tìm cho đời mình một lựa chọn quyết định. Nhờ Niềm Tin Công Giáo, ông đã tình nguyện xin trở thành một người con của Chúa, ngay trong lòng chế độ cộng sản, dưới những bức tường cao của trại giam Hà Tây, Hà Ðông, ngày 19 tháng 3 năm 1981.

Từ ngày đó, cuộc sống ông đã xoay chiều, đoạt tuyệt với cả một quá khứ đong đầy tội lụy nhưng không thiếu vinh quang. Và cũng từ ngày ấy, Vũ Thành An không còn sáng tác những tình khúc không tên ca tụng tình yêu lứa đôi nam nữ để bước theo một giòng nhạc mới ghi dấu khúc rẽ quan trọng trong cuộc đời tác giả. Từ nay, ông chỉ sử dụng giòng nhạc để ca tụng Tình Người, đưa tâm hồn người thưởng ngoạn vào một thế giới khác, Thế Giới của Tình Người, Thế Giới của Tôn Giáo. Linh thiêng. Siêu Thoát. Không hận thù ghen ghét. Ðể chứng minh, kính mời độc giả thưởng ngoạn những tư tưởng siêu thoát của ông qua nhạc phẩm Nhân Bản số 1 (Trích trong hàng loạt những bài cùng mang tên Nhân Bản khác):

"Từ đầu trời cuối đất ta đã là người nhà. Về đầu trời cuối đất ta vẫn một Mẹ Cha. Hãy xích lại đây chắp tay ta nguyện cầu. Hãy dắt dìu nhau cho qua cơn lửa máu. Thôi thế từ đây xoa tay cùng tội lỗi rồi mai trắng trong về gặp Người. Từ đời đời vĩnh viễn ta đã được làm người. Rồi đời đời vĩnh viễn ta vẫn là anh em. Xem những vườn hoa thắm tươi trên toàn cầu, dưới những màu da có chung một màu máu. Ta xiết tay ta chung xây đời mới, rồi mai sánh vai ta về trời. Ðừng hận thù nhau nữa cơm áo thừa mọi người. Ðừng giật giành nhau nữa chia nắng đều anh em... Từ đầu trời cuối đất.."

Nghĩ cho cùng, tất cả những kỳ diệu về Tình Người Không Biên Giới trong ký sự của ký giả Claudia Dowling trên đây, đều phát xuất từ tấm lòng mà con người trao cho nhau. Sống dưới bất kỳ không gian hoặc thời gian nào, nếu con người biết đối xử với nhau bằng cả một tấm lòng, thì khó khăn nào cũng vượt qua và đời sống sẽ thăng hoa. Trái lại, khi con người lấy ghen ghét hận thù thay tình người đối xử với nhau thì lúc đó xã hội sẽ biến thành Sa Mạc của Tình Người.

Sa Mạc nào cũng là biểu tượng của sự chết: Chết cho Tình Người. Chết của niềm Tin Yêu. Chết cho Tinh Thần Hy Sinh Phục Vụ. Và Tình Người sẽ bị chôn vùi với những cái tôi ích kỷ nhỏ nhen, nói chi đến Tình Người Không Biên Giới.

© Copyright by Tran Quy Thien