NÀNG THƠ VÀ NÀNG THIỀN

Thông thường người ta cho rằng thơ phát xuất từ những ý niệm và cảm tính mơ hồ, xa rời thực tế. Thật ra thơ là tiếng vọng nhân sinh trong cá nhân thi sĩ, khi những kinh nghiệm sống của chàng đã được đãi lọc qua quá trình thành, trụ, hoại, không trong quy luật tạo hóa (*). Khi những ý niệm đã chín mùi, thơ xuất hiện như tiếng vọng sâu xa của bờ vực nội tại nghiêm mật, nhằm ghi lại âm vang réo rắt giữa thực tại khôn hàn của vạn hữu và thời gian. Thời gian trong thơ chỉ là một dấu chấm trùng phùng từ xa xưa đến bây giờ và tồn lưu không ngớt. Sự rung cảm nồng nàn, mối tri giao giữa tuệ và niệm của nhà thơ có khi được xem là cõi tương phùng tri ngộ của nàng Thơ và nàng Thiền. Nhưng phải coi chừng, đây là một sự nhầm lẫn lâu dài đã trở thành hệ thống lừa dối lẫn lộn dẫn đến sự bắt chước nhau một cách giả trá bởi căn bịnh tự lừa phỉnh chính mình trong nhân loại. Sự lừa phỉnh nầy vẫn tiếp tục gieo vào tâm thức nhiều người cả tin. Trong khi đó chưa ai nhận biết cõi linh tâm biền biệt riêng lẻ của mình là gì. Nó có liên quan gì đến bốn chữ bổn lai diện mục của ngài Huệ Năng hay không?

Ý niệm bổn lai diện mục tưởng như không sắc mầu, không dấu vết. Tri thức phàm nhân không nhận biết một cách cụ thể, nhưng lại khả tín đến nỗi không ai có thể phủ nhận được nó. Kinh Thánh cho biết rằng đó là hình ảnh Thượng Ðế mà chính Ngài đã đặt vào trong Adam, tổ phụ chúng ta! ''Ðức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta... '' (Sáng Thế Ký 126-27). Tiếc thay, hình ảnh nầy đã bị vắng bóng từ trong tổ tiên nhân loại, ngay sau khi họ đã phạm tội. Vì thế Thánh Kinh đã xác nhận rằng tội lỗi con người đã thiếu mất vinh quang của Thượng Ðế trong chính họ (Roma 3:23). Bởi thế, trong mỗi con người hôm nay vẫn còn mang cái dấu vết lạ lùng lưu luyến mênh mông kỳ bí như một dấu ấn giòng dõi thiêng liêng huyền nhiệm trong mỗi con người, dù người ấy là thi sĩ hay không là thi sĩ. Hình bóng nầy có khi nguy nga tráng lệ, có khi mù mịt mơ hồ, nhưng luôn luôn gây ra một tiếng vọng trong sâu thẳm tâm linh mỗi con người khiến cho y mãi khát khao tìm kiếm, hoặc mòn mỏi nuôi ước vọng được tương thông với chân lý, với nguồn cội vô biên. Tiên sinh Bùi Giáng diễn tả nó như thế nầy:

''Ngõ ban sơ hạnh ngân dài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua
Xin chào giữa bước chân ra
Chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn. ''

Thơ là sự thể hiện ngôn từ sống động trong tâm hồn thi sĩ với bản ngã, tha nhân, với chim chóc, cây cối, côn trùng, đất đai, mưa gió, ánh sáng, vầng đêm dưới bầu trời lồng lộng, giữa biển cả mênh mông, núi rừng thâm u tịch mịch, và nơi chốn loài người xúm xít chen chúc nhau mà ai ai cũng nhìn thấy được một cách đơn sơ giản dị gần gũi thân thương như vài câu thơ của Bùi Giáng khi ông nhìn xem một phần quê hương yêu dấu của mình:

''Một bầy gà bé vịt choai
Thôn trong xúm xít xóm ngoài xôn xao''

Lại một cách khác, Bùi tiên sinh nói lên nỗi thao thức mộng ước đợi chờ trong tâm linh khi ông và người lân cận cùng cảm thấy còn thiếu một điều gì đó rất sâu xa lặng lẽ thăm thẳm bên trong:

''Én đầu xuân tuyết đầu đông
Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa''

Và Bùi Giáng viết tiếp:

''Mở cây cối mở hàng rào
Bàn chân nhớ phố xa nào em đi
Ðếm từng lá mọc li ti
Mùa thu hú gọi ngựa phi vô cùng
Trên đầu phượng đỏ mông lung
Bên mình hoa cỏ một vùng kia đâu''

Nếu chỉ để làm xướng ngôn viên cho cái Hữu thì nàng Thơ luôn luôn bị lạm dụng như một cổ máy tuyên truyền cuồng điên của nhiều người từ góc nầy, ở xó kia, hoặc tại chân trời nọ; từ cá nhân đến tập thể và tràn lan ra cả thế giới. Ngược lại, ở một bờ vực éo le bên nọ, thơ cũng từng bị hiểu lầm một cách khéo léo cả bốn, năm, sáu mặt cay đắng, ngọt bùi, ân tình, bội bạc, mặn mà, vô duyên, nửa úp nửa hở, nửa vỡ nửa tan, nửa tràn lan, nửa lưng lẻo, nửa lắc léo, nửa lao xao... Trên một phương diện khác nữa (cũng khá phổ biến), người ta cho rằng thơ là tiếng vọng của cái Hữu lẫn cái Vô, rồi hóa kiếp thành nàng Thiền. Thật ra nàng Thiền là một sự nổ lực không ngừng của những ý niệm vừa gọi là Hữu, vừa gọi là Vô do quá trình kẻ có tội chạy trốn sự xét đoán trên chính mình. Ðây lại là một mớ bòng bong được người ta vo thật chặt và tô lên những lớp sơn nhiều ý nghĩa, nhiều mầu sắc vừa giản đơn vừa phức tạp để được gọi là cái Không không có cọ xát vào những cái Có không không. Chỉ những người chưa thật sự biết nó mới dám cả gan nói toàn những điều rắc rối mông lung hầu che đậy những nan đề bí ẩn bẩn ý nội tâm! Họ cố tìm trong hư vô những cái mà định kiến của họ cho là có, rồi lại cố tìm trong thực tại những cái mà định kiến bảo rằng không. Thế nên nàng Thiền là một người con gái muôn hình muôn trạng, nhưng chưa một ai thật sự gặp mặt nàng. Ấy thế mà nàng Thiền vẫn được tán dương tôn quý bởi những kẻ chưa hề bắt tay vuốt tóc nàng. Họ chưa hề hôn nàng một lần nào cả, nhưng luôn luôn tự nhận mình là bà con thân thích, bạn bè thân thiết, ruột rà xương xảu của... em! Ðiều nầy giống y chang như câu chuyện ngụ ngôn của Hans Christian Andersen diễn tả một thời kia toàn thể thần dân công khai lớn tiếng hô hào ''Áo hoàng đế quả thật quá đẹp'', trong khi đó, duy nhất một đứa bé tí tẹo nói rằng ''Kìa, coi ông vua ở truồng!'' (**). Tại sao miệng đứa bé kia lại dễ dàng nói sự thật như mắt nó thấy, trong khi toàn dân tung hô những gì mắt họ không hề nhìn ra? Ðơn giản thôi. Vì tâm hồn đứa bé còn ngây thơ trong trắng, gần gũi với chân thiện mỹ; trong khi tâm hồn thiên hạ đã bị trùng tư tương niệm, tiềm tiệm tương quan, bạt ngàn tương kế, dục tệ tương cầu, đục ngầu tương... hột, dại dột tương chao, tào lao tương phiếm, lấp liếm tương hà... nên ruột rà không tương phản! Câu chuyện huyền thoại của Anderson đã nói lên điều cốt yếu đó. Và Bùi Giáng chỉ nói một cách thật ngắn gọn:

''Viết thơ lạc dấu sai dòng
Viết trong tức tưởi sợ đồng lúa mong
Nước xanh lên đọt đòng đòng
Ngày mai sẽ mất hạt lòng thơ ngây''

Thiệt tình, Nàng Thơ của Bùi Giáng lúc nào cũng hết sẩy con cào: Ngày mai sẽ mất hạt lòng thơ ngây. Ngôn ngữ của Bùi Giáng quả thật là kinh khủng, bởi lẽ nó đơn giản tới độ như một trò chơi chứa đầy sự thật đang diễn biến. Con người ta càng sống thêm một ngày là càng mất bớt hạt lòng thơ ngây chứ không bao giờ thêm thơ ngây. Nếu có thêm thì thêm điều ngu dại thuộc linh và tội ác.

Càng già càng thiếu thơ ngây
Càng siêng tô điểm mặt mày lá hoa
Tưởng tô thêm chút mặn mà
Ðâu ngờ ảnh tượng ban sa chết rồi!

Bởi thế chiếc áo huyền diệu, tuyệt hảo nhất của nàng Thiền đã bị khoác lên nhiều điều không hề có, lại được trang điểm bằng những son phấn vô hình. Nhờ vậy người ta độc quyền viết sách và nói phét một cách ''cao siêu'' đến độ không tài nào vạch ra được những lý lẽ bị đánh lừa trong lòng dạ con người. Vì sự dối trá ấy đã được hệ thống hóa thành đạo lý ngàn năm, được nói bằng những lời ''chân thành, đáng kính'' nhất và được khoác lên bằng những chiếc áo ''thiêng liêng'' rực rỡ nhất. Trong khi Kinh Thánh ghi lại sự thật chắc như đinh đóng cột: ''Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? Ta, Ðức Giê-hô-va, dò xét trong trí thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm. '' (Giê-rê-mi 17:9)

Những mầu sắc ấy được pha chế bởi các nhà thông thái (từng tuyên bố cho thế giới biết sự ẩn danh của mình), từng tỏ ra uyên thâm tịch mặc, từng nhận mình là người tu nhân tích đức và từng trải những cuộc du hành vào cõi ngộ thường hằng mênh mông kỳ bí sự lý viên dung! Ðó là lý do khiến cho nàng Thiền đã được tô điểm đủ các thứ sắc mầu trên nhiều trang giấy vô vi huyền diệu. Loại giấy nầy còn dễ kiếm hơn cả giấy vàng mã của thời đại ông Tần Cối còn sống bên Trung hoa. Ðể những mầu sắc của nàng Thiền càng thêm mênh mông kỳ bí, người ta viết lên những câu thơ tuyệt hảo ngạt ngào mang âm sắc vần điệu của hằng nga sa địa như bốn câu tứ tuyệt lẫy lừng sau đây đã từng làm cho nàng Thơ và Thiền càng thêm lẫn lộn:

''Nhạn quá trường giang
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô lưu tích chi ý
Thuỷ vô lưu ảnh chi tâm'' (***)

Ðúng là con nhạn không hề có ý gởi bóng mình vào trong đáy nước và nước cũng không có ý giữ lại hình bóng con nhạn trong lòng sâu. Ðó là nước và nhạn. Nhưng lòng dạ con người thì sao? Sự thật muôn đời của lòng dạ con người có bao giờ giống như con nhạn và dòng nước không? Chính vì lòng người càng muốn ghi lại những điều sâu xa cốt yếu nên mới viết được những bài thơ hay và đẹp đến như thế. Phải chăng một đứa bé sơ sinh biết mỉm cười, biết mếu máo trong giấc ngủ là tuyệt đối vô tâm? Nếu một đứa bé sơ sinh không thể thuyệt đối vô tâm thì nhân loại làm sao có thể vô tâm như dòng nước và đôi cánh nhạn? Vậy nàng Thơ xin chuyển lời nào nhạn vô tình làm cho mất:

Xin em một chút ngọt ngào
Chuyển vần thơ ngắn bỏ vào hư vân
Lời mang diệu ý xa gần
Nào ai lộn ngược hương trần trước sau
Nhạn bay qua cuối giang đầu
Vô tình đến nỗi sắc mầu hóa không
Tình ai lạc giữa tang bồng
Làm sao vô ngã như lòng nhạn kia?
Cho hay bóng nhạn đi về
Mất vào thăm thẳm bốn bề trường giang

Con người quả là tài tình khi lấy dòng nước và con nhạn để ví tấm lòng vô tư giải thoát của mình, gợi lên biết bao niềm an ủi mênh mông chỉ để đánh lừa những giọt nước mắt ''tương tư'' cá sấu rồi tự gán cho văn chương của mình là ''văn dĩ tải đạo''! Cũng nhờ đó mà nàng Thiền mới chững chạc với biện chứng vô vi hữu tướng, vô tượng hữu hình để viết thành những học thuyết hùng hồn: ''Dâm phòng tửu điếm vô phi thanh tịnh đạo tràng''. Nghĩa là nơi dâm bôn điếm đĩ rượu chè chẳng phải là nơi không thanh tịnh tu hành trong trắng tinh khôi đâu nghe! Thử hỏi một nhà tu khỏe mạnh độc thân, khi mắt trần tay thịt được tiếp xúc với trung tâm đô thị dục tình giữa cuộc đời, ông ta hay mơ tưởng và thèm thuồng cái gì nhất? Xin hỏi thèm thuồng cái gì nhất trong máu me xương tủy chứ không phải chỉ mong uớc cái gì nhất trong lời rao giảng mênh mông. Vì đây là hai bờ vực mâu thuẫn ngàn trùng trong con người tu sĩ của các tôn giáo xưa rày. Nhưng hai bờ vực nầy lại gắn khít vào nhau trong nàng Thơ. Người tu sĩ ngồi tu ở chốn dâm phòng tửu điếm là một điều rất hấp dẫn đáng tò mò để tìm hiểu xem ''có hay không cái đó'' (Bùi Giáng đã từng hỏi thế). Trên thực tế, chưa có một ông tu sĩ nào đã tới đó mà tâm hồn vẫn thong dong tự tại ngồi thiền trong khi thịt da ông ta thiếu thốn những cái đó vô cùng. Chỉ nói thí dụ thôi mà cũng đã khó nghe rồi, huống hồ là nêu lên một nét của lối mòn ''đạo lý'' thì càng thấy sự mỉa mai xuất hiện một cách vi tế và ngang ngược đến mức nào? Thế nên người tu sĩ phải đạt được một thói quen tỏ ra mình không có gì ngứa ngáy thèm thuồng. Làm như mình không ước mơ, không vọng tưởng và không có gì để diệt dục! Vì càng chèn ép, càng che dấu càng thèm thuồng; càng thèm thuồng càng phải giảng dạy là không thèm thuồng. Khi cần phải nói không có tiệm giáo, không có đốn giáo, không có nghi môn tràng phan bảo cái, không có những cục đất được thờ lạy chí thành... thì cứ nói không, không gì ráo trọi dù mắt thấy tai nghe và lòng bịn rịn chăm chút đêm ngày và kể cả những giấc chiêm bao. Tiếc thay cái tự nhiên ấy bị bản án nhân sinh cho là nghiệp để rồi cứ tô son trát phấn hoài hoài mà không mấy ai thật sự nhìn nhận tội lỗi của mình từ đâu mà có(?) Không ai có thể sửa tội lỗi của mình thành cái lương thiện thiên thu. Vì thế phải cho rằng không có tội lỗi, không có phước lành. và tội tánh bổn không. Nghĩa là bản chất tội lỗi là không! Bàn luận về nàng Thiền theo kiểu nầy thì sớm muộn gì rồi cũng bị phanh thây tùng xẻo mất thôi! Nhưng trước khi đi vào cõi mênh mông vô lượng, nàng Thơ cũng muốn để lại đôi lời trăn trối về những gì rất thực tế vốn bị bỏ quên.


(*) Hiện tượng luận của Phật Giáo.

(**) ''Bộ quần áo mới của hoàng đế'', trích trong tập Truyện Cổ Andersen. Tác giả Hans Christian Andersen, nhà văn Ðan Mạch (1805-1875), nxb Ðà Nẵng 2002, bản dịch Nguyễn Văn Hải và Vũ Minh Toàn.

(***) Bài thơ hay nhất của nàng Thơ đã bị nàng Thiền nhầm là của riêng mình.

'' Nhạn quá hàn đàm
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô lưu tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm''. Có bản ghi câu đàu là ''Nhạn quá hàn đàm''

Nói về thơ thì đây là một bài ngũ ngôn tứ tuyệt độc đáo, nhưng để diễn đạt một chân lý trong con người thì đây là một loạt sáo ngôn hoặc là một sự ví von sai sự thật một cách hay nhất thế giới.

Tiep Theo