NHỮNG CÂU HỎI & GIẢI ÐÁP
CÂU II
Hải Văn Hoàng thắc mắc.
"Chuyện đọc thần chú có khác gì với cử chỉ làm dấu trước khi ăn hay không?
TRẢ LỜI
Cám ơn bạn Hải Văn Hoàng một lần nữa về những thắc mắc của bạn đặt ra cho tôi. Theo tôi nghĩ bạn là một phật tử có đọc thần chú nên mới nêu lên thắc mắc có tính cách so sánh sự kiện đọc thần chú với cử chỉ làm dấu Thánh Giá của người Công Giáo. Tôi là một người Tin Lành. Các giáo phái Tin Lành hầu như không mấy ai làm dấu thánh giá. Tôi chưa làm dấu thánh giá bao giờ cả. Nhưng tôi trước đây tôi đã đọc thần chú quá nhiều suốt 15 năm tu học trong chùa!
Theo tôi hiểu, làm dấu thánh giá là một cử chỉ tuyên xưng đức tin với tấm lòng thờ kính Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Người ta đặt tay lên trán và nói nhân danh Đức Chúa Cha, rồi đặt tay xuống một bên vai nói nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, và đặt tay qua bên vai khác để nhân danh Đức Chúa Thánh Linh. Nghĩa là nhân danh Đức Chúa Trời Ba Ngôi một cách thành kính mỗi khi ăn cơm, khi cầu nguyện, hoặc thực hiện một nghi lễ trong đức tin của Chúa.
Đây là cử chỉ bày tỏ đức tin trong Chúa với tâm trạng tỉnh táo, tin tưởng, nhận biết mình hành động với sự hiện diện của Chúa trong lòng mình. Mình là con của Chúa nên được quyền nhân danh Chúa để hành động cho đẹp lòng Ngài. Dĩ nhiên cũng có người làm dấu thánh giá theo thói quen lấy lệ trong khi tâm hồn họ không hướng về Chúa một cách chân thành. Tôi thấy một số người dùng tay làm dấu thánh giá một cách chiếu lệ khi ăn cơm nhưng miệng họ vẫn nói chuyện với người khác. Vì thế tôi chỉ tôn trọng những người làm dấu thánh giá một cách chân thành.
Nhưng cách gì đi nữa thì cử chỉ làm dấu thánh giá hoàn toàn khác với hành động đọc thần chú. Khác cả hình thức lẫn nội dung. Người đọc thần chú hoàn toàn không biết ý nghĩa của các câu thần chú. Nhưng tâm trạng của họ dường như có một niềm tin vào thần lực của thần chú. Đã đọc thần chú thì phải tin có thần lực, tức là quyền năng vô hình. Nhưng trong Phật Giáo lại không tin một quyền năng vô hình nào ngoài con người. Vì thế thái độ đọc thần chú trở nên mâu thuẫn với giáo lý Đạo Phật. Cũng như anh Hải nói. "Phật dạy chỉ tin cái gì mình cho là đúng mà thôi". Vậy thì thần chú có ý nghĩa gì đâu, và làm sao bạn có thể biết nó đúng hay sai để mà tin? Thần chú có thần lực vô hình hay không có thần lực vô hình? Chẳng ai biết chắc.
Nếu thần chú có thần lực vô hình thì Phật Giáo sai, vì Phật Giáo không tin có thần lực vô hình bên ngoài con người. Nhưng nếu thần chú mà không có thần lực vô hình thì Phật Giáo đã đánh lừa người mê tín, vì biết không có thần lực vô hình mà cũng dạy cho người ta đọc thần chú. Dù có quyền lực hay không có quyền lực vô hình, khi nói đến thần chú, người ta không thể phủ nhận tính thần lực hay quyền năng vô hình của nó. Cho nên đây là một đống bòng bong mâu thuẫn của nhà Phật. Đã là mâu thuẫn rồi thì giải thích cách nào cũng khó nghe. Nhưng nhữõng người không tôn trọng sự thật sẵn sàng giải thích tuốt luốt, miễn là êm tai (theo họ) thì thôi.
Tôi đã ở trong Chùa lâu năm, tôi chứng kiến một số tu sỹ kể cả cao tăng cũng đùa dỡn ngay trong khi đang tụng niệm, dù họ tụng niệm thần chú hay tụng lời kinh có ý nghĩa. Họ thường giữ cốt cách trang nghiêm trong khi có mặt các phật tử bên ngoài, vì Phật tử bên ngoài là nguồn kinh tế và là thiện nam tín nữ của họ; còn riêng người tu sỹ với nhau thì họ có thể đùa cợt ngay trước chánh điện. Ví dụ các chú tiểu dám đùa với các bức tượng Phật mỗi khi lau quét bụi bám trên tượng, nhưng sau đó họ lạy cái tượng ấy một cách nghiêm chỉnh. Hoặc có vị đọc câu thần chú "Nam mô tô rô bà gia" thành ngữ điệu "Nam mô ông vô bà ra" và nhiều câu khác tương tự như thế.
Vào thời kỳ chùa chiền bị phong tỏa năm 1963, ngày nào tăng sinh Phật Học Viện Nha Trang chúng tôi cũng thay phiên nhau tụng kinh Phổ Môn Cứu Nạn Cứu Khổ. Từ trên núi Phước Hải, chúng tôi đặt loa hướng xuống khu làng dân cư kề cận để tụng lớn tiếng cho đồng bào nghe kinh. Vì đọc hoài đến mức thuộc lòng và nhàm chán, một chú sa-di tên H.D.M.T (cùng lớp với tôi) đã điều chỉnh hai câu kệ sau đây từ âm hán ra âm nôm:
Vân lôi cổ xiết điện
Giáng bạc chú đại võ.
Chú H.D.M.T đọc lớn bằng âm nôm là:
Vô lôi cổ mấy điệu
Giáng mỗi đứa một đạp
Hiện nay H.D.M.T là một vị thượng toạ nổi tiếng tên là Th.Ph.Tú, có vợ hai con và làm toạ chủ một ngôi chùa rất lớn tại Biên Hoà. Ngôi chùa nầy tên là chùa Thiên Tôn, một thắng cảnh du lịch tại Biên Hòa. Tiền xây cất ngôi chùa nầy là tiền tỷ do Việt Kiều hải ngoại cung cấp. Thượng Toạ Th. Ph.Tú là một vị tu sỹ công khai đòi phật tử đứng ra cưới vợ cho mình. (Một hành động can đảm đáng phục!) Đây là chuyện thật còn nguyên xi ở Biên Hòa, Tân Mai, Việt Nam.
Và câu thần chú sau đây được đọc để cúng cơm cho quỷ La-sát trước khi các nhà sư độ ngọ theo nghi lễ mùa an cư kiết hạ:
"Đại bàng kim súy điểu
Khoáng dạ quỷ thần chúng
La-sát quỷ tử mẫu
Cam lồ tất sung mãn
Ân mục đế luật ni toá ha." (3 lần)
Từ âm hán của những câu kệ và thần chú nói trên, chú Đ.T đã lanh trí đọc thành âm nôm một cách tỉnh bơ trước buổi lễ như sau, làm cho toàn bộ tăng chúng bên trong ôm bụng nín cười đến bùng hơi tại Phật học Viện Nha Trang vào mùa an cư kiết hạ năm 1964.
"Đại bàng chim se sẻ
Khó dạy quỷ mới đẻ
Ai tát quỷ tử mẫu
Can thì can, không cản!
Đá một đá là mi té ra." (3 lần)
Lúc đó Đ.T là một chú tiểu rất nghịch ngợm, nhưng cũng rất dễ thương. Anh ta đùa như thế khiến cả đại chúng sư sãi ôm bụng nín cười và... huề cả làng. Hiện nay Đ.Tù là thượng toạ T. H. Trí, đứng đầu Uy Ban Pháp Chế Trung Ương của Phật Giáo quốc doanh. Uy Ban nầy hoàn toàn do Bộ Công An và Mặt Trận Tổ Quốc điều khiển để lãnh đạo giáo hội. Giống như Đảng lãnh đạo chính phủ vậy.
Tuy thượng tọa TH. H. Trí là con nhà cộng sản, được đào tạo chính ngạch công an, là một trong những người bạn cũ theo dõi tôi rất sâu sắc, nhưng tôi thấy ông là một người bộc trực, tuy có vẻ chán đời. Đặc biệt tôi chưa thấy ông ở ác với ai bao giờ. Mặc dù ông là một người công an chìm, nhưng ai cũng biết cái tánh khề khà của ông. Khi theo dõi tôi, thượng tọa Th. H.Trí vẫn đối xử với tôi như một người đàn anh. Chính bà vợ phản gián của tôi củng đã từng tiếp xúc với thượng toạ Th. H. Trí tại nhà tôi.
Năm 1996-1997 là thời gian tôi viết tập thơ Ẩn Ngữ Thiền Công, tôi thường đến thăm thượng toạ Th. H.Trí. Trước của phòng ông tại 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lý cũ), luôn luôn có hai câu thơ sau đây:
"Trượng phu thất chí về đâu nhỉ?
Lặng lẽ già đi giữa bụi mờ."
Dĩ nhiên bất cứ phật tử hay tu sỹ nào ở đó cũng thuộc hai câu thơ trên của ông.
Những người đùa cợt như thế hiện nay vẫn là thượng toạ hòa thượng cả rồi. Họ là bạn thân của tôi ngày xưa. Có lẽ vì thế mà thế gian có câu
"Gần chùa kêu Phật bằng anh,
Gần sư sãi vói quả cành lung lay!"
Các trí thức Phật Giáo luôn luôn đề cao tinh thần khoa học, và cái gì không hiểu thì họ không tin (giống như lời Phật dạy), nhưng thực chất họ đọc thần chú hà rầm và cứ cho đó cũng là "khoa học". Tôi sẽ đề cập đến câu nói của đức Phật mà bạn đã nêu trên, nhưng bây giờ tôi trả lời ngắn các câu tiếp theo đây kẻo làm mất sự liên tục các thắc mắc của bạn Hải Văn Hoàng.
Hải Văn Hoàng viết:
"Tôi không biết bạn Huệ Nhật nghĩ như thế nào về đạo của bạn đang theo
Nhưng tôi thấy rằng đạo của bạn đang đi vào ngõ cụt rồi."
Bạn chưa hề theo tôn giáo của tôi thì làm sao bạn biết nó "đang đi vào ngõ cụt"? Bạn phỏng đoán liều mạng quá! Riêng tôi không theo một tôn giáo hay một tổ chức tôn giáo nào như bạn nghĩ đâu. Tôi đã được gặp sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sau khi đọc Kinh Thánh. Tôi đã tập làm thử theo lời Chúa Jesus Christ dạy trong Kinh Thánh và được kết quả. Từ đó dần dần tôi tự thân "thí nghiệm" lòng tin khờ khạo của mình với lời dạy của Chúa.
Sau khi kết quả nội tâm và ngoại cảnh xẩy đến cho tôi đúng như lời Chúa dạy, tôi bắt đầu xét lại mình và chú ý đến các lời dạy khác của Chúa Jesus Christ. Tôi đối chiếu các lời dạy của Chúa Jesus Christ với lời dạy của Đức Thích Ca. Tôi thấy sự cầu nguyện với Chúa Jesus Christ trút được biết bao thắc mắc, biết bao gánh nặng, biết bao ưu tư của mình. Và tôi cảm nhận rằng chẳng những Chúa đã nghe thấu nội tâm sâu thẳm của tôi, Ngài còn soi tỏ cho tôi hiểu về chính mình hơn, cũng như Ngài đáp lại lời cầu nguyện của tôi y như Ngài đã hứa. Thế là từng bước một tôi kinh nghiệm được quyền năng và sự thực hữu của Chúa Jesus Christ.
Tôi tiếp tục làm theo lời Ngài dạy như ăn năn tội để được Đức Chúa Trời tha thứ và được tái sinh, được đắc thắng tội lỗi và đắc thắng những thói hư tật xấu mà tôi che dấu lâu ngày. Sở dĩ tôi âm thầm "thí nghiệm" đức tin một mình tôi với Chúa cũng nhờ điều tôi nhận thấy là suốt 15 năm tu học bên Phật Giáo tôi không thấy ai giữ được một điều gì trong ngàn ngàn điều mà Phật đã dạy.
Tôi thấy người ta có thể học thuộc bài như vẹt nhưng thực chất lại vẫn muốn sống theo ý muốn riêng trái ngược lại những điều mình đã học được. Con người giữ được hình thức tôn giáo bề ngoài, nhưng trong lòng vẫn đầy dẫy tham dục, sân-si, thù-hận không biên giới. Càng kềm hãm xác thịt, xác thịt càng thèm muốn một cách điên cuồng vô độ. Càng che dấu sự thèm khát càng làm cho thèm khát được nung nấu một cách chín muồi cho đến khi vỡ tung ra và đành phải "thông cảm" để "xấu che tốt khoe" mà thôi.
Chính 15 năm tu học đã giúp tôi "giác ngộ" sự thất bại ấy. Nghĩa là ai thành thật tu hành thì người đó đạt được một kết quả rằng "mình không thể nào tu được". Ai không thành thật tu hành thì chỉ lợi dụng chiếc áo thầy tu để kiếm lời trên niềm tin của bá tánh. Họ không bao giờ thắc mắc như tôi đã thắc mắc. Đôi lúc người lợi dụng tôn giáo để kiếm lợi lại có thể tin rằng "chắc có lẽ cũng có bậc chân tu đắc đạo." Vì sao? Vì họ không tu nên họ tin rằng "chắc có lẽ có người khác là bậc tu hành đắc đạo". Nhưng ai thật sự đi tu mới có thể chứng nghiệm rằng con người có thể sửa chữa hành vi bên ngoài, nhưng không làm sao thay đổi bản chất bên trong được.
Điều tôi nhận thấy đúng là bản chất tội lỗi trong chúng ta chính là bản chất di truyền từ thân phận tội nhân của tổ phụ mình. Bản chất nầy phải được đóng đinh chết với Chúa Jesus trên thập tự giá bằng đức tin và lòng ăn năn của mình để được mặc lại bổn tính vinh quang trong sức sống phục sinh của Chúa Jesus Christ. Bản chất tội lỗi của chúng ta phải chết đi thì bổn tính nhân từ của Chúa được tái tạo vào con người bề trong của chúng ta; khi ấy chúng ta bắt đầu làm điều lành đúng nghĩa.
Nếu bản chất tội lỗi của chúng ta chưa chết thì dẫu tu cách gì, chúng ta cũng chỉ thể hiện đạo đức bề ngoài mà thôi. Chính các kinh nghiệm ấy đã giúp tôi có một cái nhìn phản chiếu qua các câu Kinh Thánh sau đây như mình nhìn mặt mình trong gương:
"vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiễn của Đức Chúa Trời" (Roma 3:22).
"...bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn; vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn. Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy" (Roma 719-20).
"Hởi Đức Giê-hô-va, tôi biết đường của loài người chẳng do nơi họ, người ta đi, chẳng có quyền dẫn đưa bước chân mình". (Giê-rê-mi 10:23).
"Thật dân ta là ngu muội, chúng nó chẳng nhìn biết ta. Aáy là những con cái khờ dại, không có trí khôn, khéo làm điều ác, mà không biết làm điều thiện." (Giê-rê-mi 4:22).
"Chim hạc giữa khoảng không tự biết các mùa nhất định cho nó; chim cu, chim yến, chim nhạn giữ kỳ dời chỗ ở. Nhưng dân ta chẳng biết luật pháp của Đức Giê-hô-va." (Giê-rê-mi 8:7).
"Người Ê-thi-ô-pi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ đã làm dữ quen rồi, sẽ làm lành được." (Giê-rê-mi 13:23).
"Dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình; nhưng không ích gì để chống cự lại lòng dục của xác thịt." (Cô-lô-se 2:23).
Vì kinh nghiệm thất bại của bản thân trong lãnh vực tu hành theo Phật, tôi âm thầm liều mình "thí nghiệm" cầu nguyện thử với Chúa và không ngờ lời cầu nguyện của tôi được Chúa đáp lại. Thêm vào đó, những câu Kinh Thánh trên soi sáng cho tôi thấy rằng Đức Chúa Trời hiểu bản chất con người cụ thể hơn đức Phật. Thế là tôi bắt đầu bước đi theo Chúa bằng Đức Tin mới mẻ trong tôi.
Khi tin Chúa, tôi được nhẹ nhàng khoan khoái, được thoát khỏi buồn phiền chán nản, thoát khỏi tham lam ích kỷ, chiến thắng tư dục; thấy rõ rằng mình có một năng lực tự do để yêu thương, lạc quan, tha thứ, bao dung, không phạm tội, không dối trá, không sợ hãi, không mặc cảm, không phách tấu, không nhậu nhẹt hút xách như xưa. Những dấu hiệu đó được Kinh Thánh cho biết là sự tái sinh, sự nên thánh do quyền năng tái tạo của Đức Chúa Thánh Linh. Thế là lòng tôi tin Chúa càng thêm chắc chắn.
Tôi cảm thấy Chúa dắt tôi đi trên đường đời đầy gập ghềnh chông gai khúc khuỷu mà lòng tôi an bình, tự tại, nghỉ ngơi. Sự dắt dẫn nội tâm nầy rất kỳ diệu nhưng cũng rất thực tế trong ý nghĩ, trong giấc mơ, trong niềm mong ước, trong miếng ăn thức uống, trong hơi thở, trong nỗi lòng biết ơn Chúa, biết ơn cha mẹ, ơn chùa qua từng chặng đường tai ương và phước hạnh trong hàng ngũ những người cùng tin Chúa như tôi.
Và tôi đã vứt cái câu kiêu ngạo:"tự mình thắp đưốc lên mà đi" để bước đi theo sự hướng-dẫn của Chúa. Tôi nhận thấy con đường về thiên đàng là một con đường của Chúa, nếu ai muốn đi, thì người ấy cần được Ngài dắt dẫn theo ý định và đường lối của Ngài.
Giống như ngày nay, người Việt Nam khi đi qua sống tại nước Mỹ cũng phải đi theo tiêu chuẩn và luật pháp của Mỹ dù trên tay họ cầm bao nhiêu ngọn đuốc "bốn ngàn năm văn hiến".
Ở đây, ngọn đuốc tâm linh là một ngọn đuốc mà không ai tự chế tạo ra cho mình được, và con đường đi về thế giới hằng hữu là con đường không do kẻ phàm nhân hoạch định, nhưng do Đức Chúa Trời.
Tôi nhận ra rằng Đức Phật đã dạy tôi "tự thắp đuốc lên mà đi, tự lấy tâm tôi để làm con đường đến niết bàn, vì niết bàn hay địa ngục cũng do tôi tạo ra cả".... Lý thuyết nầy mới nghe thì tưởng là hay lắm, nhưng thực hiện thì thấy đức Phật sai. Chắc có lẽ Ngài sai một đôi chút nhưng mấy ngàn năm sau các đệ tử của Ngài cũng là người nên họ bày vẽ thêm quá nhiều, nên sự sai lạc càng to.
Sự sai lạc mà đã thành hệ thống tôn giáo, hệ thống triết lý, có giáo phẩm, giáo nghi, giáo chế quá sâu sắc nên loài người không còn khả năng sửa sai nữa, trừ phi họ trở về với Chúa là Đấng dựng nên họ.
Nghĩa là con người phải có nguồn gốc chứ không thể nào từ dưới đất chui lên, hoặc do chó mèo hóa kiếp, hay do khỉ đột tiến hóa như giả thiết "khoa học" Darwin và thuyết luân hồi của Phật Giáo. Nhận biết được điều đó, tôi bắt đầu đi tìm Hội Thánh Tin Lành để học đạo và sinh hoạt với họ.
Nhờ vậỳ tôi đã được gặp Chúa trước khi gia nhập vào Hội Thánh của Ngài. Kỳ thật tôi không theo một đạo nào như anh Hải Văn Hoàng nghĩ đâu, mà tôi theo Chúa và theo Lời Chúa trong Thánh Kinh để cùng sinh hoạt với anh chị em Tin Lành trong nhiều giáo phái khác nhau.
Nếu không trải qua 15 năm học Phật, chắc tôi còn nghi ngờ rằng Phật Giáo có thể đúng hơn Chúa cũng không chừng, vì Phật Giáo có quá nhiều kinh, còn Chúa chỉ có một quyển Kinh Thánh mà thôi!!!
Đâu ngờ sự nói dối phải dài dòng và luộm thuộm hơn sự nói thật. Cái sai phức tạp hơn cái đúng. Cái giả trá tỏ ra tinh xảo hơn cái chân thật. Cái xấu phải hóa trang nhiều hơn cái tốt. Điều dữ luồn lách lươn lẹo lắc léo hơn điều lành.
Sự ngu dại đưa con người ta đến hậu-quả khủng khiếp hơn sự thông sáng, vì khiến con người ta chưa bước vào bên trong mà ù đã khiến họ dám nói đó là ngõ cụt trong khi chính họ lại không biết rằng họ đang dậm chân nơi ngõ cụt! Ôi thật đáng thương thay cho " tất-cả những người bạn Hải Văn Hoàng! "
Tôi sẽ trả lời tiếp những thắc mắc còn lại của bạn.
Chào bạn Hải văn Hoàng.
Berli lập đông.
Huệ Nhật

|