Cau Xin Duc Me

NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH

V

ào một buổi tối mùa đông lạnh lẽo, sau bữa cơm tối thì cha xứ nhận được điện thoại của một giáo dân trong xứ báo tin rằng cha anh đang hấp hối cần được xức dầu kẻ liệt. Vì nhà của ông này cách nhà xứ chỉ khoảng 2 block đường nên cha xứ khoác vội chiếc áo ấm che kín cổ và tay cầm dầu thánh đi bộ đến. Khi cha vừa đi qua khỏi góc đường thì có tên cướp nhẩy sổ ra, tay cầm súng chĩa vào ngài và ra lệnh, "Đưa tiền đây. Mau lên."

Cha xứ hoảng hốt và lúng túng mở chiếc áo ấm rồi thò tay vào túi áo lấy cái bóp. Khi trông thấy cổ áo trắng linh mục, tên cướp thốt lên: "Ô, xin lỗi cha. Con không biết cha là một linh mục Công Giáo."

Nghe thế, cha xứ thở phào nhẹ nhõm vì thoát nạn, và ngài rút ra bao thuốc lá, "Mời anh điếu thuốc."

Tên cướp xua tay, "Dạ không, cám ơn Cha. Trong mùa Chay con không hút thuốc"!

Câu chuyện vui nói trên có ít nhiều sự thật trong sinh hoạt đạo đức của người Công Giáo, đó là nhiều khi chúng ta chỉ nhìn thấy quy luật bề ngoài mà không thấy tinh thần đích thật của nó.

Hôm nay là Chúa Nhật I Mùa Chay, khởi đầu quãng thời gian chuẩn bị cho chúng ta bước vào Tuần Thánh, và sau đó là mừng lễ Phục Sinh. Bài đọc một kể lại câu chuyện ông bà nguyên tổ bị cám dỗ bởi con rắn, tượng trưng cho ma qủy. Trong bài phúc âm, Thần Khí đã dẫn Đức Giêsu vào sa mạc để chịu cám dỗ--điều này có nghĩa, Đức Giêsu thực sự đi vào lãnh vực của loài người tội lỗi, và Người cũng phải chịu sự cám dỗ của ma quỷ không khác gì chúng ta.

Nói về sự cám dỗ, chúng ta phải nhận rõ là không phải bất cứ cám dỗ nào cũng do ma qủy mà nhiều khi vì bản tính loài người, đã bị hư hỏng vì tội tổ tông, mà chúng ta không thể kiểm soát được con người của chúng ta về phương diện ý chí, cảm xúc, đam mê, v.v. Tỉ như chúng ta bị cám dỗ nằm ngủ nướng thay vì thức dậy sớm đọc kinh sáng. Bị cám dỗ thiếu kiên nhẫn. Bị cám dỗ thiếu khiết tịnh. Bị cám dỗ tham lam, muốn lấy của cải người khác.

Điều cần lưu ý ở đây là sự cám dỗ chưa hẳn là tội. Chỉ khi nào tự ý chiều theo sự cám dỗ đó thì lúc ấy mới là tội. Khi con rắn dụ dỗ ông ADong và bà Evà là "ăn trái cây ấy, ông bà sẽ giống như thần linh, biết điều thiện ác" thì hai người đã sa ngã. Họ sa ngã không phải vì bản tính hư hỏng của loài người vì lúc bấy giờ bản tính con người còn tốt lành. Nói cách khác, họ ăn trái cấm không vì đói khát, nhưng họ đã sa ngã vì muốn "giống như thần linh". Họ sa ngã vì không biết rõ về chính mình, tưởng rằng con người có thể ngang bằng với Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói nguyên do sa ngã là vì ADong và Evà không biết rõ mình là ai và từ đâu đến.

Đức Giêsu cũng bị ma quỷ cám dỗ tương tự như sự cám dỗ của ông bà nguyên tổ là coi ý riêng mình hơn cả ý Chúa. Nhưng khác với ADong và Evà, Đức Giêsu đi vào sa mạc với một ý thức rõ rệt về chính mình và về Thiên Chúa, bởi thế Người đã không sa ngã khi bị cám dỗ.

Trước hết, sau 40 đêm ngày không ăn uống Đức Giêsu vô cùng đói khát, Người bị tấn công bởi hai cám dỗ: một của bản tính con người và một của ma quỷ. Về bản tính con người, sự đói khát làm cho của cải vật chất trở nên có giá trị lớn hơn thực tế và có thể làm lu mờ lý trí. Và để thoả mãn cơn đói khát đó, Đức Giêsu bị ma qủy cám dỗ hãy dùng đến quyền năng của Con Thiên Chúa mà biến các hòn đá trở thành cơm bánh để ăn. Người bị ma qủy cám dỗ hãy thi hành điều gì đó bất thường, trái với luật tự nhiên, trái với ý định nguyên thủy của Thiên Chúa từ khi tạo thành vũ trụ để thoả mãn sự đói khát của mình. Nhưng Đức Giêsu biết rằng của cải vật chất không thể nào hoàn toàn thỏa mãn được con người, vì ngoài thân xác, chúng ta còn có linh hồn thiêng liêng, bất tử mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể thoả mãn được. Ngoài ra, Đức Giêsu không thể đi ngược lại ý định của Chúa Cha, bởi thế Người đã trả lời, "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ vào lời từ miệng Thiên Chúa phán ra."

Sau khi thấy ý chí mạnh mẽ của Đức Giêsu, ma qủy đưa Người đến Giêrusalem--đền thờ Thiên Chúa, một nơi linh thiêng--để thử thách đức tin của Đức Giêsu.

Đức tin đôi khi bị lầm lẫn với tình yêu có điều kiện. Nói cách khác, chúng ta tin là vì những nhu cầu của chúng ta được thỏa đáp. Tin vào Thiên Chúa đôi khi có nghĩa "Con tin vào Chúa, con yêu Chúa nếu Chúa ban cho con cái này cái nọ, ban cho con sự thành công, đừng để con thất bại, đừng để con đau khổ, hãy giúp con đủ mọi thứ để chứng tỏ rằng Ngài là Thiên Chúa!" Đức tin bị lầm lẫn với tình yêu có điều kiện, và nhiều khi đó là sự phạm thượng!

Ma qủy đã thi hành đúng như vậy đối với Đức Giêsu. Nó nói với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì lao mình xuống đi!" vì Thiên Chúa sẽ không bao giờ để Con yêu dấu của Người bị thương tích, ngay cả "vấp chân vào đá"! Ma qủy thử thách đức tin của Đức Giêsu nơi Thiên Chúa Cha!

Đức tin đòi hỏi sự thật. Thiên Chúa luôn luôn là Thiên Chúa ngay cả những khi Người không thỏa đáp nhu cầu của chúng ta. Thiên Chúa có quyền của Người, có chương trình riêng của Đấng Tạo Hóa. Đức Giêsu biết rằng người chỉ là con với nhiệm vụ là phục hồi phẩm giá của loài người đã đánh mất vì tội của ADong, mà ông cũng là một người con nhưng đã bất tuân phục và muốn ngang bằng với Thiên Chúa, bởi thế, làm thế nào Đức Giêsu lại dám thử thách Thiên Chúa Cha, Đấng cao trọng hơn mình? Vì thế Đức Giêsu đã trả lời ma qủy rằng, "Cũng có lời chép rằng, Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi."

Và Đức Giêsu đã sống câu nói trên cho đến hơi thở cuối cùng, như đêm ở Vườn Cây Dầu đã chứng kiến: Người bị Chúa Cha bỏ rơi; Người bị tra tấn cho đến giọt máu cuối cùng nhưng Người vẫn vâng phục cho đến chết, và Chúa Cha vẫn im lặng. Thật vậy, cái chết trên thập giá của Đức Giêsu đã chấm dứt cuộc đời của Người ở trần gian này cùng với mọi vinh quang, quyền lực, và mọi sở hữu. Và đó là định mệnh của loài người chúng ta; đó là định mệnh của mọi vật thể trên thế gian này mà chúng ta được nhắc nhở vào hôm thứ Tư lễ Tro, "Hãy nhớ mình là tro bụi, sẽ trở về bụi tro."

Trong cám dỗ thứ ba của Đức Giêsu có liên quan đến quyền lực và sự vinh hiển, và cái mồi của ma quỷ cũng lớn hơn: TẤT CẢ các nước trên thế gian với sự lộng lẫy của nó! Hãy thử tưởng tượng có ông tổng giám đốc hứa ban cho chúng ta, một nhân viên tầm thường, ghế chánh văn phòng của một công ty nào đó, hay làm giám đốc một chi nhánh công ty thì thật khó để chúng ta từ chối yêu cầu của họ, có phải không? Việc ham muốn quyền lực, danh vọng hầu như là bản chất của con người. Nhưng vấn đề ở đây là sự tương xứng, chính đáng chứ quyền lực tự nó không xấu. Chúng ta cần phải phân biệt rõ. Nếu một chính phủ công bằng dùng quyền lực để điều hòa trật tự xã hội, để phục vụ ích lợi chung thì quyền lực ấy cần thiết và chính đáng. Nhưng một nhà độc tài dùng quyền lực để tiêu diệt đối phương, để duy trì uy quyền và thỏa mãn tham vọng của mình thì quyền lực ấy đã khiến người nắm quyền trở thành nô lệ cho chính mình.

Do đó, mới nghe qua, chúng ta tưởng cơn cám dỗ thứ ba của Đức Giêsu là sự ham hố quyền lực và danh vọng, nhưng trong vị thế của Người, Đức Giêsu bị cám dỗ chiến thắng thế gian theo ý riêng mình, chứ không phải thánh ý Chúa Cha. Người bị cám dỗ chiến thắng thế gian mà không phải đi qua con đường thập giá, không phải đổ máu hy sinh. Người bị cám dỗ hoàn tất ơn cứu độ bằng một phương tiện xấu xa và dễ dàng--nhờ sự tiếp tay của ma qủy!

Chúng ta có thể thấy loại chiến thắng này trong lịch sử loài người: khủng bố và chiến tranh có thể đem cho người ta sự chiến thắng dễ dàng bằng vũ khí giết người; bạo lực trong gia đình có thể đem cho người chồng, người cha những quyền uy tức thời bằng hành động đánh đập thô bạo; sự bóc lột sức lao động của nhân viên có thể đem lại thành công tài chánh mau chóng cho những chủ nhân vô lương tâm; những âm mưu ma đầu có thể đem lại lợi nhuận dễ dàng cho những người vô đạo đức. Nhưng, thử hỏi những chiến thắng mau chóng và dễ dàng này có đem lại giá trị gì cho phẩm giá con người hay không? Mà chính vì phẩm giá ấy Đức Giêsu đã vâng lời Chúa Cha xuống thế chuộc tội thiên hạ, bởi đó, Người đã trả lời ma qủy, "Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải phục vụ một mình Người mà thôi."

Các bài đọc hôm nay đưa ra hai khung cảnh của sự cám dỗ. Sự cám dỗ của ông ADong và bà Evà xảy ra trong vườn địa đàng, một nơi sung sướng, và hai người đã sa ngã. Sự cám dỗ của Đức Giêsu lại xảy ra trong sa mạc, một nơi cùng cực thiếu thốn, nhưng Đức Giêsu đã chiến thắng được những cám dỗ. Có lẽ hai khung cảnh này cũng được thấy trong thực tế đời sống của chúng ta.

Khi con người càng văn minh thì đời sống càng thêm sung sướng, thêm tiện nghi thoải mái, nhưng chính khi ấy con người dễ mất đi nhận thức về chính mình, tưởng rằng con người là bá chủ vạn vật, tưởng rằng vật chất có thể thoả mãn được con người và kiêu căng thi hành những điều điên dại, bất chấp Thiên Chúa. Con người ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học, họ có thể thực hiện được nhiều điều lạ lùng trong lãnh vực sinh vật học, tỉ như cấy ghép cơ phận, và "cloning". Nhưng nếu khả năng đó được dùng để đi ngược với thiên nhiên, trái với ý định nguyên thủy của Thiên Chúa thì chắc chắn con người sẽ đi đến chỗ diệt vong.

Mùa Chay dẫn chúng ta vào sa mạc như Đức Giêsu. Ở đó chúng ta phải đối diện với sự thiếu thốn, sự bất tiện của đời sống và đó là lý do Giáo Hội muốn chúng ta ăn chay. Việc chay tịnh có mục đích nâng cao sức mạnh tinh thần. Nhiều người cho rằng ăn chay là "hy sinh cho Chúa", nhưng sự thật, sự chay tịnh có lợi cho chính chúng ta. Hãy thử ăn một bữa chưa no, hay thức ăn không hợp khẩu vị thì chúng ta mới thấy được sự nặng nề của thân xác, sự đòi hỏi của bản tính con người và sự yếu đuối của tinh thần. Khi ăn chay là khi chúng ta tập những hy sinh nhỏ bé với mục đích chế ngự thân xác, dần dà sẽ đưa đến những chiến thắng to lớn hơn, tỉ như chế ngự được miệng lưỡi không nói xấu về người khác, kềm hãm được những ý muốn xấu xa trong sự đối xử với tha nhân, và từ đó đi đến một giá trị lớn lao hơn mà Chúa Giêsu Kitô đã thực hiện được, đó là không theo ý riêng của mình mà theo ý Chúa Cha.

Dĩ nhiên đó không phải là điều dễ dàng, bởi thế, năm nào Giáo Hội cũng có mùa Chay để giúp chúng ta luyện tập sức mạnh tinh thần. Một khi chế ngự được phần nào sự đòi hỏi của thân xác, chúng ta sẽ nhận ra giá trị lớn lao của tinh thần mà Chúa Giêsu Kitô đã cổ vũ trong Phúc Âm. Chính giá trị này sẽ đem đến niềm vui mà không ai có thể cướp đi được. Và cũng chính giá trị này sẽ đem cho chúng ta hạnh phúc đời sau.

Pt Giuse Trần Văn Nhật