ừ Chúa Nhật 17 cho đến Chúa Nhật 21 (thường niên năm B), chúng ta được nghe các đoạn phúc âm của Thánh Gioan mà trong đó, các phép lạ, các lời của Chúa Giêsu ám chỉ đến bí tích Thánh Thể mà Người sẽ thiết lập trước khi chịu chết.
Trong Phúc Âm Chúa Nhật 17, Chúa Giêsu làm phép lạ bánh hóa nhiều để nuôi dân chúng ăn, và trong phúc âm tuần qua, dân chúng đi tìm Chúa Giêsu vì được Chúa nuôi ăn mà không phải làm việc vất vả, và Chúa khuyên họ hãy tìm kiếm lương thực mà lương thực ấy có thể đem lại sự sống đời đời. Và hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ cho họ biết lương thực đem lại sự sống đời đời ấy chính là Mình và Máu của Người.
Trước khi Chúa Giêsu chịu chết thì không ai có thể hiểu được câu nói này, nhưng sau bữa Tiệc Ly, sau khi Chúa Giêsu bị bắt, bị đánh đập, bị xỉ nhục và bị chết trên thập giá, thì chúng ta mới hiểu được lời này và thấy được sự tương quan giữa bánh rượu và bí tích Thánh Thể.
Dân chúng thời bấy giờ, khi nghe Đức Giêsu nói đến máu thịt, chắc chắn họ phải nghĩ đến các lễ tế, là thú vật, mà họ dâng vào Đền Thờ để hàng tư tế giết các con thú ấy rồi lấy máu của chúng rưới lên bàn thờ, còn thịt thì thiêu cho đến khi thành tro để đền tội cho họ trong của lễ đền tội; hoặc trong của lễ bình an sau khi khỏi bệnh, sau khi sinh nở thì họ dâng lễ vật để cảm tạ Thiên Chúa và sau đó họ được chia sẻ phần thịt ấy để ăn mừng.
Của lễ lớn hay nhỏ thì tùy theo địa vị và tình trạng của người dâng lễ. Nếu là một thượng tế hay toàn thể cộng đồng thì của lễ là một con bò tơ; nếu là ông vua hay hoàng tử, của lễ là một con dê đực còn non; nếu là người nghèo thì của lễ là chim bồ câu, v.v.. Dù to hay nhỏ, các con vật phải lành lặn, không có tì tích để tượng trưng cho sự trong sạch. Tóm lại, tội lỗi của người ta được trút lên đầu một con vật tinh sạch và bắt nó phải chết để đền tội giùm cho họ; hoặc lễ vật tốt đẹp ấy được dâng lên để cảm tạ Thiên Chúa đã cứu thoát họ khỏi sự hiểm nghèo.
Chắc chắn dân chúng thời bấy giờ không bao giờ nghĩ rằng Đức Giêsu là “vật tế thần” để đền tội cho nhân loại. Họ mong muốn một Đấng Mêsia đến giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ cho ngoại bang về phương diện cai trị, chứ họ không nghĩ đến sự nô lệ cho tội lỗi, giam hãm con người trong sự xa cách với Thiên Chúa. Nhưng sau cái chết của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Người là Chiên Tinh Tuyền của Thiên Chúa đã hy sinh chịu chết để đền tội cho nhân loại, và Người xứng đáng là Của Lễ Bình An được dâng lên để cảm tạ Thiên Chúa.
Trong bài phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu coi mình như lương thực để nuôi sống thế gian. Sự sống ở đây chúng ta phải hiểu là sự sống vĩnh cửu ở đời sau, và thế gian có sự sống ấy là vì được tha tội nhờ Mình và Máu của Chúa Giêsu đã đổ ra trên thập giá—Người là Của Lễ Đền Tội. Không những thế, khác với các lễ vật chiên, bò, bồ câu, v.v., mà sau khi bị thiêu đốt là hết, Chúa Giêsu đã sống lại và Chúa muốn thông phần sự sống ấy cho con người, bởi đó, trong bài phúc âm hôm nay Chúa nói: "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ sống đời đời; và bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây để thế gian được sống". Và rồi trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu cầm lấy bánh và rượu và nói, đây là Mình Thầy, đây là Máu Thầy… hãy cầm lấy mà ăn, hãy cầm lấy mà uống. Chúa Giêsu đã liên kết bánh và rượu với Mình và Máu của Chúa.
Nói đến bí tích Thánh Thể là nói đến vấn đề đức tin. Nếu chúng ta tin Đức Giêsu là Thiên Chúa thì chúng ta cũng phải tin rằng lời Chúa là chân lý. Chúng ta tin bánh và rượu sau khi được thánh hóa đã trở nên Mình và Máu Chúa vì Chúa đã nói như vậy, chứ chúng ta không thể dùng khoa học để phân tích hầu thấy được Thịt và Máu của Chúa Giêsu.
Tin rằng bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu không phải là đức tin mù quáng, vì nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta phải cảm ơn Chúa vì đã dùng bánh và rượu làm Thánh Thể, vì nếu Chúa dùng thịt và máu thật thì có lẽ ngày nay chúng ta sẽ gặp trở ngại khi ăn thịt sống và uống máu tươi, đó là chưa kể chúng ta sẽ bị mang tiếng là ăn thịt người.
Trong lịch sử Hội Thánh cũng có nhiều phép lạ liên quan đến Thánh Thể, tỉ như phép lạ xảy ra ở Lancianô vào năm 700. Có một linh mục trong đan viện T. Longinus ở Ý, ngài nghi ngờ về sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể nên ngài xin Chúa ban thêm đức tin cho ngài. Trong một Thánh Lễ, sau khi đọc lời truyền phép và bái quỳ, ngài bàng hoàng khi thấy tấm bánh đổi thành một miếng thịt và rượu trong chén trở thành máu thực sự. Sau một thời gian, miếng thịt vẫn còn nguyên nhưng máu thì khô lại thành năm viên máu nhỏ cùng kích thước như nhau. Lúc đầu các thánh tích này được cất kín trong hộp làm bằng ngà, nhưng cho đến năm 1713, các thánh tích này được để trong bình pha lê để dân chúng chiêm ngắm. Đến năm 1970, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI thấy rằng không còn nhiều người tin vào sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể nên ngài đã cho phép một nhóm khoa học gia khám nghiệm các thánh tích ấy. Trong các khoa học gia, dĩ nhiên, có cả những người không Công Giáo. Vào tháng Ba, 1971, nhóm chuyên gia này đã trình bầy kết quả trong một cuộc họp báo ở Ý. Họ cho biết miếng thịt này là của con người, đặc biệt, nằm trong cơ tim—ở vành tim. Còn máu thì thuộc loại AB với các chất khoáng và prôtêin đúng theo tỉ lệ phần trăm máu tươi của một người bình thường.
Điểm lạ lùng của phép lạ mà người ta thấy ngay là sau hơn 1,300 năm, thịt và máu ấy không bị hư thối dù chỉ để trong một môi trường bình thường chứ không có hóa chất gìn giữ như ngày nay. Điểm lạ lùng thứ hai là các chuyên gia cho biết, ngay cả với dụng cụ y khoa tân tiến ngày nay, một bác sĩ giải phẫu khó có thể cắt được một miếng thịt ở vành tim giống như vậy. Phép lạ này xảy ra vào năm 700, y khoa lúc bấy giờ còn rất đơn sơ thì không thể nào người ta có thể lấy được một miếng thịt ở vành tim rồi đánh lừa người khác. Thánh tích này hiện vẫn còn được trưng bầy ở Lancianô bên Ý.
Trong phép lạ này, Chúa Giêsu đã biến tấm bánh thành miếng thịt lấy từ trái tim của Người, điều đó thật có ý nghĩa đối với chúng ta: vì tình yêu nhân loại mà Chúa Giêsu đã trở nên “lương thực để nuôi thế gian”. Và câu hỏi cho chúng ta hôm nay là Chúa Giêsu đã trở nên “lương thực nuôi thế gian” như thế nào?
Con người, nói chung, có những nhu cầu cần được thỏa mãn. Chúng ta không chỉ đói khát về thực phẩm, vật chất nhưng còn đói khát những gì phi vật chất, tỉ như chúng ta đói khát tình thương, muốn no đầy kiến thức, sự hiểu biết, ao ước được thông cảm, được thứ tha, v.v.. Và Chúa Giêsu đã thỏa mãn những đói khát ấy bằng những hành động cụ thể là chữa người bệnh tật, tha thứ người tội lỗi, nuôi hàng ngàn người ăn và giảng dậy cho loài người biết về Thiên Chúa.
Không những thế, trong cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu đã chịu bị bắt, chịu đánh đập, chịu xỉ nhục, chịu tan nát và chịu đổ máu trên thập giá. Điều đó có nghĩa, khi các thượng tế, luật sĩ, nhà cầm quyền La Mã đói khát quyền lực thì Chúa Giêsu đã chịu khuất phục, chịu bị bắt để thỏa mãn cơn đói khát ấy. Khi con người ham muốn tiền bạc đến độ phản bội người thân yêu thì Chúa Giêsu đã chịu bị bán với giá 30 đồng bạc bởi một môn đệ. Khi người ta muốn dùng bạo lực, muốn đấm đá, muốn hành hạ người khác dưới bất cứ hình thức nào—kể cả mưu mô, lời lẽ hay im lặng vì hèn nhát không dám can thiệp—thì chính Chúa Giêsu đã câm nín chịu đựng sự tàn ác của những người kết án để thỏa mãn ác tính của họ. Và khi người ta mong muốn được tha thứ, được thông cảm vì loài người khó có thể tha thứ cho nhau thì Chúa Giêsu đã xin Thiên Chúa tha thứ cho tất cả những ai xúc phạm đến Người trước khi trút hơi thở cuối cùng. Chúa Giêsu đã thỏa mãn những gì loài người chúng ta mong muốn, kể cả tội lỗi con người. Chúa Giêsu đã trở nên Chiên Tinh Tuyền để chuộc tội cho nhân loại. Chúa Giêsu đã trở nên “lương thực để nuôi thế gian”. Đây chính là sức mạnh của Chúa Giêsu. Sức mạnh để trở nên yếu đuối, vụn vỡ, tan nát, nhục nhã, tổn thương nhưng sẵn sàng tha thứ.
Mỗi khi chúng ta ăn uống, thực phẩm được tiêu hóa để trở nên thân thể của chúng ta. Nhưng ngược lại, khi rước Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta trở nên Thân Thể của Chúa Kitô. Điều đó có nghĩa, nếu Chúa Giêsu là “lương thực để nuôi thế gian” thì chính chúng ta cũng phải trở nên “lương thực cho thế gian.”
Chúng ta cũng phải trở nên yếu đuối trước bạo lực, mưu mô vì ham hố thế lực. Chúng ta cũng phải chịu nhục nhã trước những xảo trá vì sự thèm khát thành công và danh vọng. Chúng ta cũng phải chịu tan nát, chịu tổn thương vì những tranh giành tham lam và bất công. Và khó khăn nhất, chúng ta cũng phải sẵn sàng tha thứ cho người khác vì loài người thì tội lỗi và cần được thứ tha.
Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải trở nên “lương thực cho thế gian.” Chỉ khi đó, chúng ta mới thấy được sức mạnh thực sự của một con người, và chỉ khi đó chúng ta mới hiểu được Tám Mối Phúc mà Chúa Giêsu đã chúc lành cho những ai hiền lành, yếu đuối, than khóc, nghèo khổ nhưng thanh sạch và xây dựng hòa bình.
Xin Chúa Kitô thêm sức để biến đổi chúng ta thành “lương thực cho thế gian”.