rong thời Giáo Hội tiên khởi, vào khoảng năm 200, lúc ấy đức giáo hoàng đương kim vừa mới từ trần và Giáo Hội đang chuẩn bị chọn một vị giáo hoàng mới.
Thời bấy giờ, Giáo Hội chỉ là một tập thể đơn sơ khoảng vài trăm người, chưa có đông đảo như bây giờ, nên có thể nói, bất cứ giáo dân nào cũng có thể tham dự cuộc bầu cử giáo hoàng. Trong những người tham dự cuộc bầu cử hôm ấy có một người tên là Fabian. Ông là một nông dân đạo đức thánh thiện, ông lên Rôma vừa để tỏ lòng thương tiếc vị giáo hoàng mới từ trần, vừa tò mò muốn biết cuộc bầu cử giáo hoàng như thế nào.
Và theo sử gia Eusebius viết lại: Sau khi giáo đoàn cầu nguyện xong, "bỗng dưng có một chim bồ câu từ nóc nhà bay xuống và chim ấy không đậu trên đầu 'bất cứ ai nổi tiếng' thời bấy giờ, mà lại "đậu trên đầu ông Fabian giống hệt như Chúa Thánh Thần ngự trên Đức Giêsu dưới hình chim bồ câu,' khi Người chịu thanh tẩy ở sông Giođan mà Phúc Âm Mátthêu đã ghi lại.
Cả giáo đoàn sửng sốt, bàng hoàng và tin rằng đó là dấu chỉ của Chúa Thánh Thần. Thế là mọi người đồng thanh tuyên bố ông Fabian 'xứng đáng' là giáo hoàng."
Đức Giáo Hoàng Fabian, mà lễ kính là ngày 20-1, cai quản Giáo Hội trong một thời gian ngắn và sau cùng ngài được phúc tử đạo vào năm 250, vì đó là thời kỳ Giáo Hội bị bách hại khủng khiếp.
Cũng như câu chuyện Chúa gọi ông Samuel trong bài đọc thứ nhất, việc Chúa trực tiếp mặc khải cho một người nào đó có lẽ rất hiếm xảy ra trong lịch sử. Và nếu có đi nữa, thì đó là những người rất đặc biệt. Còn với đa số chúng ta, là những người tầm thường thì có lẽ Thiên Chúa không trực tiếp nói với chúng ta.
Nếu Chúa không trực tiếp nói với chúng ta thì làm thế nào để nhận ra ý Chúa? Làm thế nào để biết đó là điều mà Chúa muốn chúng ta thi hành?
Giáo Hội thường khuyên chúng ta tìm hiểu ý Chúa qua sự cầu nguyện và học hỏi Kinh Thánh, vì lời trong Kinh Thánh được coi là lời Chúa, là những chỉ dẫn cần thiết cho đời sống chúng ta, ngoài ra chúng ta còn tìm hiểu ý Chúa qua sự khuyên bảo của linh mục giải tội.
Ngoài các hình thức vừa kể, Chúa còn nói với chúng ta qua người khác--qua những người gần gũi với mình nhất, như vợ chồng, con cái chúng ta, hay cha mẹ, anh chị em chúng ta và kể cả những người xa lạ với chúng ta.
Nhưng làm thế nào để nhận ra ý Chúa qua sự hiểu biết Kinh Thánh hay qua người khác?
Để nhận ra ý Chúa qua Kinh Thánh hay qua người khác, một trong những điều chúng ta cần, đó là lòng yêu quý sự thật, yêu quý chân lý.
Thí dụ, trong Phúc Âm, Chúa Giêsu luôn đề cao tinh thần nghèo khó, là tinh thần không lệ thuộc vật chất, nhưng nếu chúng ta không yêu quý chân lý ấy, thì chúng ta sẽ có những quyết định sai lầm, tỉ như mua sắm chiếc xe hay căn nhà quá to lớn so với khả năng tài chánh của chúng ta, để rồi chúng ta phải làm ngày làm đêm chỉ để lo trả nợ, và hậu quả là vợ chồng không còn thời giờ cho nhau, cha mẹ không còn thời giờ cho con cái và rất có thể gia đình đi đến đổ vỡ chỉ vì vật chất.
Chúa muốn nói với chúng ta qua Phúc Âm, và Chúa muốn chúng ta hạnh phúc nhưng chúng ta có yêu quý chân lý Phúc Âm hay không.
Một thí dụ khác, ngày nay, qua tin tức trên báo chí, truyền thanh, truyền hình, qua các câu chuyện giữa bạn hữu, ai cũng biết là nếu chúng ta ăn quá nhiều mỡ, nhiều chất mặn thì dễ bị bệnh cao máu và có thể bị chết vì đau tim. Nhưng chỉ khi nào chúng ta thực sự yêu quý chân lý đó thì chúng ta mới thay đổi cách ăn uống của mình, và dành thời giờ để tập thể dục hay chơi thể thao.
Chúa muốn chúng ta thay đổi lối sống để chúng ta mạnh khỏe hơn, sống thọ hơn.
Yêu quý sự thật là một trong những đặc tính của người theo Đức Kitô. Vì Đức Kitô là Sự Thật nên yêu quý sự thật là yêu quý Đức Kitô, là đi theo con đường của Người.
Khi người chồng, người cha yêu quý sự thật, ông sẽ thay đổi con người của mình, thay đổi tính tình của mình để sống hài hòa với vợ con, đem lại hạnh phúc cho gia đình. Khi người vợ, người mẹ yêu quý sự thật, bà sẽ thay đổi con người của mình, từ bỏ các tật xấu, dù rất nhỏ, để đem lại bầu khí đầm ấm trong gia đình.
Càng yêu quý sự thật bao nhiêu thì chúng ta càng trở nên giống Đức Kitô bấy nhiêu. Vì sự thật giải thoát chúng ta khỏi con người cũ đầy khuyết điểm, để trở nên một con người mới mà Chúa Kitô là điển hình.
"Sự thật thì mất lòng" nên không dễ để yêu quý sự thật. Và trước khi yêu quý sự thật, chúng ta phải đi tìm sự thật. Đó là mẫu gương của Thánh Gioan Tẩy Giả trong bài Phúc Âm hôm nay.
Chúng ta nên nhớ Gioan Tẩy Giả là một ngôn sứ vĩ đại của dân tộc Do Thái. Ông dám công khai nói lên sự thật xấu xa của vua Do Thái thời bấy giờ, ông dám chống đối nhà cầm quyền La Mã mà không sợ gì cả. Và rồi biết bao người đã tuốn đến với ông để được thanh tẩy. Rất nhiều người đã theo ông để làm môn đệ. Và ông cũng được vinh dự là người thanh tẩy Đức Giêsu ở sông Giođan.
Tuy nhiên, Gioan Tẩy Giả đã không dừng chân ở đó. Ông không lấy làm toại nguyện với tất cả vinh dự ông đang có, mà ông vẫn thao thức trông chờ Đấng Thiên Sai.
Cái khao khát tìm kiếm sự thật ấy đã giúp ông trút bỏ mọi vinh dự đang có, để giới thiệu hai người môn đệ của ông đi theo Đức Kitô, như bài Phúc Âm hôm nay tường thuật. Đây là một hành động vô cùng can đảm mà chỉ có lòng yêu quý sự thật mới có thể thực hiện được.
Gioan Tẩy Giả biết, ông chỉ là "tiếng kêu trong hoang địa". Còn Đức Giêsu mới là Đấng Thiên Sai.
Gioan Tẩy Giả có thể tượng trưng cho những người đang nắm vai trò lãnh đạo, trong gia đình cũng như trong sinh hoạt Giáo Hội.
Là người lãnh đạo, chúng ta dễ bị chìm đắm trong cái vinh dự của người lãnh đạo, người bề trên mà nhiều khi gạt bỏ tất cả sự thật để quyết định cá nhân của mình trở thành quyết định tối hậu mà người dưới bắt buộc phải vâng theo, bất kể quyết định ấy có đem lại lợi ích cho tập thể, có phù hợp với Phúc Âm hay không.
Khi cha mẹ quên đi sự thật là con cái không phải là sở hữu của mình nhưng chúng là những người con yêu dấu của Thiên Chúa, có phẩm giá riêng biệt, thì rất có thể cha mẹ ấy trở nên tàn nhẫn, độc đoán với con cái, thay vì khuyến khích, giúp đỡ con cái trở nên một người tốt, con cái trở nên công cụ cho cha mẹ trong nhiều việc làm bất chính, như xúi con ăn cắp, hoặc cha mẹ có những quyết định chỉ để thoả mãn tự ái của mình, như ép gả con cái trong một hôn nhân nào đó.
Đi tìm chân lý là bổn phận của tất cả mọi người, kể cả Giáo Hội. Có lẽ chúng ta đều nghe biết về câu chuyện của nhà toán học Công Giáo của thế kỷ 17 là Galileo Galilei (1564-1642), qua sự quan sát vũ trụ ông chủ trương rằng các hành tinh thì quay chung quanh mặt trời chứ không phải trái đất, trong khi đó, từ trước đến thời bấy giờ, Giáo Hội vì bị ảnh hưởng của thuyết Aristotle nên chủ trương ngược lại, và kết quả là ông Galileo bị giáo triều Rôma kết tội là lạc giáo và bị giam cầm tại gia cho đến suốt cuộc đời.
Quyết định sai lầm của giáo triều Rôma thời bấy giờ, lẽ ra đã phải lên tiếng nhận lỗi khi văn minh nhân loại bước vào thế kỷ 18, với những tiến bộ về thiên văn, nhưng mãi cho đến năm 1981, tức gần 400 năm sau, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mới đại diện Giáo Hội chính thức nhìn nhận sự sai lầm của giáo triều thời bấy giờ và phục hồi lại vinh dự cho ông Galileo Galilei.
Thật không dễ để nhìn nhận sự sai lầm của mình, nếu không yêu quý chân lý.
***
Samuel nghe Chúa gọi hai lần mà vẫn chưa nhận ra tiếng Chúa. Mãi cho đến khi được ông Êli giúp thì Samuel mới biết đó là tiếng Chúa.
Trong cuộc đời, có lẽ đã nhiều lần Chúa nói với chúng ta qua Phúc Âm, qua cha mẹ, anh chị em, qua vợ chồng con cái, qua bạn hữu và người khác,nhưng chúng ta không tin đó là ý Chúa.
Để nhận ra ý Chúa chúng ta phải yêu quý sự thật, yêu quý chân lý. Và một khi nhận ra đó là chân lý, để có can đảm thay đổi chúng ta phải cần đến ơn Chúa.
Thiên Chúa sẵn sàng giúp chúng ta thay đổi, nhưng quyết định thay đổi phải là quyết định của chính chúng ta vì Thiên Chúa luôn tôn trọng sự tự do của chúng ta.
Nên nhớ rằng một quyết định phù hợp chân lý có thể làm chúng ta đau lòng vì phải dẹp bỏ tự ái, dẹp bỏ cái tôi của mình, dẹp bỏ sở thích, ý riêng của mình nhưng quyết định ấy sẽ đem lại niềm vui cho người khác--trong gia đình, trong cộng đoàn--và sau cùng đem lại bình an cho chính chúng ta và tất cả mọi người.