ác bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay đều nhắc đến máu và giao ước. Trong bài đọc 1, ông Môsê lấy máu bò tơ rưới trên bàn thờ và rảy lên dân chúng rồi nói, “Đây là máu giao ước mà Đức Chúa đã thiết lập với các ngươi.” Trong bài đọc II, Thánh Phaolô nói với tín hữu Do Thái, “Nếu máu thú vật… đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hóa được họ thì máu Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy.” Và bài phúc âm là đoạn trích những lời Chúa Giêsu nói trong bữa Tiệc Ly, “… đây là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội".
Tại sao giao ước và máu có liên hệ với nhau? Để hiểu được điều này chúng ta cần biết về lịch sử của dân tộc Do Thái.
Trong thời cổ Ai Cập, cách đây trên ba ngàn năm, người Ai Cập đô hộ dân tộc Do Thái và gây nhiều đau khổ cho dân tộc này. Họ đã kêu cầu đến Giavê Thiên Chúa. Người đã động lòng thương và chọn ông Môsê làm đại diện cho Thiên Chúa đến gặp vua Ai Cập là Pharaoh Ramses II, để đòi trả tự do cho dân tộc Do Thái. Dĩ nhiên Pharaoh không chịu, và Thiên Chúa đã giáng nhiều tai họa xuống cho dân Ai Cập. Tai họa sau cùng là Thiên Chúa sai Thần Báo Tử đến từng nhà để giết các con trai đầu lòng trong đất Ai Cập. Và Thiên Chúa dặn ông Môsê, để ra dấu cho Thần Báo Tử biết đâu là nhà của người Do Thái, dân chúng phải giết một con chiên non, ăn thịt của nó với bánh không men, và lấy máu của nó bôi lên khung cửa chính căn nhà. Khi Thần Báo Tử thấy dấu máu đó thì đi qua mà không giết hại. Từ đó trở đi, người Do Thái kỷ niệm sự đi qua của Thần Báo Tử và sự toàn vẹn của những người con đầu lòng trong ngày lễ Vượt Qua.
Bài đọc một hôm nay là đoạn sau khi được trả tự do, dân Do Thái đang trên đường đến vùng Đất Hứa, ông Môsê lên núi Sinai cầu nguyện và Chúa đã ban cho Mười Điều Răn. Khi xuống núi ông đã truyền lại cho dân chúng những gì Thiên Chúa nói với ông, và để đền ơn Thiên Chúa đã cứu thoát họ khỏi cảnh nô lệ, dân Do Thái đã thề thi hành tuân giữ Mười Điều Răn. Để ghi dấu sự cam kết này, ông Môsê đã lấy máu bò tơ rưới lên bàn thờ và rảy trên dân chúng rồi nói "Đây là máu giao ước mà ĐỨC CHÚA đã thiết lập với các ngươi." (Xh 24:8). Như vậy, giữa Thiên Chúa và dân Do Thái có một giao ước được cam kết bằng sự sống, tượng trưng bằng máu thú vật. Điều đó có nghĩa, nếu ai không thi hành điều cam kết, người đó sẽ phải chết.
Nói về sự cam kết, ngày nay, ở ngoài đời, chúng ta thường nghe về khế ước chứ không ai dùng đến giao ước. Bởi vì trong giao ước không có văn tự, đôi bên chỉ hứa sẽ thi hành những điều cam kết, do đó, giao ước khó áp dụng vào thực tế khi có sự tranh chấp trước tòa án.
Nhưng giao ước quan trọng hơn khế ước. Vì trong giao ước có máu, và máu tượng trưng cho sự sống. Khi giao ước với nhau là khi hai người dùng sự sống của mình để bảo đảm lời cam kết đó. Khế ước thì có thể hủy bỏ nhưng giao ước thì không thể. Người Việt có sự cam kết tương tự được gọi là "uống máu ăn thề", họ lấy máu của nhau pha chung vào một chén rượu rồi chia nhau uống để thề hứa về điều gì đó mà người nào không thi hành thì sẽ phải chết. Việc “uống máu ăn thề” kết hợp hai người còn chặt chẽ hơn cả anh chị em ruột trong nhà.
Giao ước giữa Thiên Chúa với dân Do Thái trong thời ông Môsê gọi là Cựu Ước, giao ước cũ. Trong giao ước cũ, Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa là cứu dân Do Thái khỏi cảnh nô lệ và đưa họ đến vùng đất hứa. Đại diện cho dân Do Thái để cam kết với Thiên Chúa là ông Môsê.
Thời của Chúa Giêsu được gọi là Tân Ước, giao ước mới. Trong giao ước mới, Thiên Chúa không chỉ cam kết với một dân tộc mà Người cam kết với toàn thể nhân loại qua đại diện là Đức Giêsu Kitô. Trong Tân Ước, việc giải thoát khỏi cảnh nô lệ giờ đây là sự cứu độ-- loài người được làm con Thiên Chúa chứ không còn là nô lệ vì hậu quả của tội nguyên tổ. Và đất hứa, giờ đây là Vương Quốc Thiên Chúa hay Nước Trời.
Trong thời Cựu Ước, nhờ máu con chiên mà dân Do Thái được sống thì trong thời Tân Ước, nhờ máu của Đức Giêsu, là Chiên Thiên Chúa—vì đã đổ ra vào dịp lễ Vượt Qua—mà chúng ta được cứu độ. Bởi đó, mỗi lần dâng Thánh Lễ chúng ta được nhắc nhở về vai trò cứu độ của Đức Giêsu khi vị chủ tế nâng Bánh Thánh lên và nói “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.” Thánh Phaolô đã giải thích điều này rất rõ trong bài đọc hai:
"Nếu máu dê và máu bò ... rảy lên những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Ki-tô càng hiệu lực hơn biết chừng nào… Vì lý do này, Người là trung gian của một giao ước mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội của thời giao ước cũ, để những ai được kêu gọi có thể lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu được hứa ban" (Dt 9:13-15).
Mỗi khi tham dự Thánh Lễ là chúng ta được nhắc nhớ về giao ước mới. Vì giao ước là một cam kết bằng máu cho nên chính Chúa Giêsu phải hiện diện trong bánh và rượu. Nói cách khác, của lễ bánh và rượu không phải là biểu tượng cho Chúa Giêsu (như người Tin Lành chủ trương) mà qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, bánh và rượu trở nên chính Mình và Máu của Chúa Giêsu, nếu không, giao ước đó không thành sự. Nói cách khác, nếu giao ước không có máu thì phải gọi là khế ước, nhưng Chúa Giêsu đã gọi đó là "giao ước mới và vĩnh cửu" thì chúng ta phải tin rằng bánh và rượu thực sự đã trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu.
Nói về sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong Thánh Thể, có câu chuyện của một linh mục người Tây Ban Nha ở Moncada. Ngài làm linh mục đã lâu nhưng bỗng dưng một hôm ngài hồ nghi về chức linh mục của mình, không biết là có được truyền chức đúng hay không, và ngài về tòa giám mục ở Valencia để xem xét lại vấn đề.
Lúc đó là Giáng Sinh và ngài được chỉ định cử hành Thánh Lễ đêm Giáng Sinh. Khi đến phần Thánh Hiến, ngài run rẩy tay nâng Mình Thánh lên và đọc lời truyền phép, sau đó bái quỳ. Ngay lúc đó, giữa sự thinh lặng của giáo đoàn, có tiếng của một em bé khoảng năm tuổi nói với mẹ của nó, “Mẹ ơi, em bé kia đẹp quá! Con thấy nó đứng trên bàn thờ.” Người mẹ của đứa bé thật bối rối, bà ra hiệu cho nó phải im lặng, vì trên bàn thờ không ai thấy gì khác, ngoài bánh lễ đang được dâng cao. Nhưng thằng bé quả quyết, “Mẹ ơi, em bé ấy đẹp lắm. Con thấy nó giống như Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ đằng kia kìa.”
Đến Thánh Lễ sáng 25/12 cũng do linh mục này cử hành và cũng có mặt của hai mẹ con người này. Cũng vậy khi đến phần truyền phép, thằng bé lại kêu lên, “Đó, mẹ thấy không, em bé lại xuất hiện. Cha cầm tay nó nâng lên rồi đặt nó nằm trên bàn thờ!” Bà mẹ vô cùng bối rối, chỉ biết ra hiệu cho thằng con im lặng.
Trong ngày lễ Giáng Sinh, một linh mục phải cử hành ba thánh lễ. Và trong thánh lễ thứ ba của linh mục này cũng có hai mẹ con bà kia tham dự. Và cũng vậy, khi đến phần truyền phép thì thằng bé lại được nhìn thấy Hài Nhi Giêsu. Sau đó bà mẹ thuật lại mọi sự cho vị linh mục này nghe, nhưng ngài vẫn chưa hết hồ nghi về chức linh mục của mình. Trong một Thánh Lễ sau đó, ngài lấy ba bánh lễ, hai bánh lễ ngài đặt trên khăn thánh, còn bánh lễ thứ ba thì đặt ở bên ngoài, cũng để gần đó. Sau khi cử hành Thánh Lễ xong, ngài mời hai mẹ con lên bàn thờ và hỏi đứa bé có thấy Hài Nhi Giêsu không. Thằng bé trả lời, “Có”. “Ở đâu?” vị linh mục hỏi. Thằng bé đưa tay chỉ vào hai bánh lễ trên khăn thánh, “Ở đây, con thấy Người đang giang tay ra.” Vị linh mục chỉ vào bánh lễ thứ ba đặt bên cạnh và hỏi, “Còn ở đây thì sao?” Thằng bé trả lời, “Không, con không thấy gì cả.” “Con có chắc không?” “Chắc, con không thấy gì cả.” Dĩ nhiên, sau đó thì vị linh mục không còn hồ nghi về chức thánh của mình nữa và ngài cử hành Thánh Lễ một cách sốt sắng hơn.
Câu chuyện phép lạ này là một trong nhiều phép lạ Thánh Thể xảy ra trong lịch sử Giáo Hội đã được ghi nhận thành văn kiện và nhiều khi còn để lại chứng tích. Đặc biệt câu chuyện nói trên cho thấy sự quan trọng của chức linh mục. Nếu không có linh mục, chúng ta không có Mình và Máu Thánh Chúa, không có thực phẩm thần linh để nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Vì yêu thương con người, Chúa Giêsu đã trao vào tay con người quyền làm cho Chúa hiện diện. Chúng ta không thể tưởng tượng được sự khiêm hạ đó đến mức độ nào. Là Thiên Chúa toàn năng, vô cùng, vô tận, nhưng Người lại chịu sự điều động của con người hữu hạn!
Vào ngày thứ Sáu 19-6, lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Giáo Hoàng Bênêđích XVI sẽ khai mạc Năm Linh Mục (Year for Priests) để củng cố các linh mục cũng như để cổ vũ ơn gọi linh mục. Đáp ứng với lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng, chúng ta hãy đặc biệt cầu nguyện, hỗ trợ các linh mục. Tôi có đề nghị thực tiễn là chúng ta hãy tỏ lòng biết ơn các linh mục, dù quen thân hay quen sơ, dù là người Việt hay người Mỹ. Lòng biết ơn đó có thể được nói lên qua tấm thiệp, lá thư, hay email, hoặc điện thoại, trực tiếp nói chuyện với các ngài. Giáo Hội mà thiếu các linh mục thì chính giáo dân chúng ta là những người bị thiệt hại.
Lễ Mình Máu Thánh Chúa nhắc nhở cho chúng ta biết về tình yêu của Thiên Chúa, được thể hiện qua sự hy sinh của Chúa Giêsu trên thập giá, và qua bí tích Thánh Thể. Sự hy sinh ấy không chấm dứt cách đây 2,000 năm, nhưng vẫn còn tiếp tục, vì ngày nay, con người vẫn tiếp tục xỉ nhục Chúa Giêsu dưới nhiều hình thức. Trong nhiều nhà thờ Công Giáo người ta tìm thấy Bánh Thánh được kẹp trong sách hát hay nhét dưới đệm ghế ngồi. Hoặc có nhiều người Công Giáo đang sống trong tội mà vẫn cứ lên rước lễ. Không những thế, những người thờ Satan còn lén lút lấy Mình Thánh để xỉ nhục bằng nhiều hình thức khác nhau rồi họ quay phim và đưa lên trang web youtube.com.
Mỗi khi tham dự Thánh Lễ, qua lời của vị chủ tế, Chúa Giêsu mời chúng ta giao ước với Người. Anh em hãy cầm lấy mà ăn… hãy cầm lấy mà uống. Khi ăn Thịt và uống Máu của Chúa Giêsu, chúng ta đi vào một giao ước quan trọng hơn tất cả: giao ước sự sống. Chúa Giêsu muốn cứu độ chúng ta, muốn ban sự sống vĩnh cửu cho chúng ta. Đây là một điều vô cùng cao trọng mà không ai có thể thấu hiểu, hoặc có thể đền đáp được ơn ấy. Nhưng thật may mắn, Chúa Giêsu giao ước với chúng ta chỉ vì tình yêu, bởi vậy Người không đòi hỏi điều gì khác hơn là chúng ta phải cụ thể hóa tình yêu đối với Thiên Chúa bằng tình yêu đối với tha nhân.
Xin Thiên Chúa giúp chúng ta sống xứng đáng để được lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa mỗi khi tham dự Thánh Lễ.
Pt Giuse Trần Văn Nhật
Copyright 2009 by Nguoi Tin Huu, Inc. Mọi Trích Dịch Xin Ghi Rõ Xuất Xứ