
BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA BENEDICT XVI
THÁNH LỄ NỬA ĐÊM - LỄ TRỌNG SINH NHẬT CHÚA
Đền Thánh Phêrô -
24 tháng 2011
Anh Chị Em thân mến!
Bài đọc Thư Thánh Phaolô gửi cho Titô mà ta vừa nghe, bắt đầu một cách long trọng với từ “apparuit”, rồi trở lại một lần nữa trong bài đọc Thánh lễ Rạng đông: apparuit – “đã biểu lộ”. Đây là một từ khóa nói lên cả một chương trình (programmatic word), qua đó Giáo hội muốn tìm cách diễn tả một cách tổng hợp bản chất của Giáng Sinh. Thuở xưa, người ta đã nói về Thiên Chúa và hình thành những hình ảnh con người về Thiên Chúa bằng đủ loại kiểu cách khác nhau. Chính Thiên Chúa đã nhiều lần nhiều cách nói với nhân loại (x. Dt 1,1 – Thánh lễ Ban Ngày). Nhưng nay một điều mới mẻ đã diễn ra: Người đã xuất hiện. Người đã tự mặc khải. Người đã xuất hiện từ ánh sáng vô phương đạt đến trong đó Người ngự. Chính Người đã đến giữa chúng ta. Đây là niềm vui Giáng Sinh lớn lao cho Giáo hội sơ khai: Thiên Chúa đã xuất hiện. Người không chỉ còn là một ý niệm, ta không còn phải hình thành một bức tranh về Người thuần túy dựa trên những lời nói. Người đã "xuất hiện". Nhưng nay ta hỏi: Người đã xuất hiện như thế nào? Trong thực tế Người là ai? Bài đọc Thánh lễ Rạng Đông nói tiếp “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại” (Tit 3,4). Đối với những người thuộc các thời kỳ tiền Kitô giáo, trước những nỗi hoảng sợ và những mâu thuẫn của thế giới, phản ứng của họ là lo ngại rằng chính Thiên Chúa có thể cũng chẳng tốt lành, cả Người nữa, cũng ác độc và bạo tàn, thì đây là một cuộc “thần hiện” thực sự, ánh sáng lớn lao đã xuất hiện với chúng ta: Thiên Chúa là sự trọn tốt trọn lành. Ngày nay cũng thế, những người không còn có thể nhận ra Thiên Chúa qua đức tin đang hỏi liệu quyền lực tối hậu nâng đỡ và duy trì thế giới có thực sự tốt lành, hoặc liệu sự dữ cũng mạnh và cũng đã có từ muôn đời như sự thiện và cái mỹ mà ta gặp phải trong những giây phút chói lòa trong thế giới chúng ta. “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại”: đây là một điều chắc thực mới mẻ, đầy ủi an được ban cho chúng ta vào ngày Giáng Sinh.
Trong cả ba Thánh lễ Giáng sinh, phụng vụ đều trích dẫn một đoạn trong sách Ngôn sứ Isaia, mô tả cuộc thần hiện đã xảy ra vào ngày Giáng Sinh một cách cụ thể hơn: “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn Kỳ diệu, Thần Linh Dũng Mãnh, người Cha Muôn Thuở, Thủ Lãnh Hoà Bình. Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận” (Is 9,5tt). Liệu vị ngôn sứ có nghĩ đến trong đầu của mình một trẻ thơ nào đó, được sinh ra vào thời kỳ lịch sử của mình hay không, ta không biết. Nhưng điều này dường như không thể xảy ra. Đây là bản văn duy nhất trong Cựu Ước trong đó có nói về một trẻ thơ, về một con người: tên hài nhi sẽ là Thiên Chúa Hùng Mạnh, người Cha muôn thuở. Ta được trình bày một cái nhìn vượt xa thời khắc lịch sử để đi vào huyền nhiệm, đi vào tương lai. Một hài nhi, trong tất cả sự yếu đuối của mình, là Thiên Chúa Hùng Mạnh. Một hài nhi, trong tất cả sự thiếu thốn và lệ thuộc, là người Cha Muôn Thuở. Và hòa bình của Người “không có cùng tận”. Ngôn sứ trước đó đã mô tả hài nhi như là một “ánh sáng lớn” và đã nói về nền hòa bình mà hài nhi sẽ khai mở trong đó các kẻ hà hiếp, mọi giầy lính nện xuống rần rần, mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị thiêu hủy (Is 9,1, 3-4).
Thiên Chúa đã xuất hiện – trong thân phận một trẻ thơ. Chính trong hình hài này Người chống lại mọi bạo lực và mang đến một sứ điệp hòa bình. Vào giờ phút này đây, khi mà thế giới liên tục bị đe dọa vì bạo lực tại biết bao nơi và bằng biết bao nhiêu phương cách, khi mà vẫn luôn có những ngọn roi của kẻ áp bức và những chiếc áo choàng đẫm máu, chúng ta hãy kêu lên cùng Chúa: Lạy Thiên Chúa Hùng Mạnh, Chúa đã xuất hiện như một trẻ thơ và Chúa đã tỏ mình cho chúng con như một Đấng yêu thương chúng con, và qua Đấng đó, tình yêu sẽ chiến thắng. Và Chúa đã cho chúng con thấy rằng, cùng với Chúa, chúng con phải là những người tác tạo hòa bình. Chúng con yêu mến việc Chúa làm hài nhi, việc Chúa chẳng có chút quyền lực nào, nhưng chúng con đau khổ vì bạo lực vẫn còn hoành hành trên thế giới và vì thế chúng con cũng cầu xin Chúa: lạy Chúa, xin hãy biểu dương quyền năng của Chúa. Trong thời đại này của chúng con, trong thế giới này, xin hãy thiêu hủy các cây roi của những kẻ áp bức, những chiếc áo choàng đẫm máu và những chiếc giầy lính trận, để hòa bình của Chúa hiển thắng trong thế giới này của chúng con.
Giáng sinh là một cuộc thần hiện – Thiên Chúa và ánh sáng vĩ đại của Người xuất hiện trong một trẻ thơ được sinh ra cho chúng ta. Được sinh ra nơi chuồng bò tại Bêlem, chứ không phải nơi cung điện của các vì vua. Năm 1223, khi Thánh Phanxicô Assisi cử hành lễ Giáng Sinh tại Greccio với một con bò và một con lừa và một máng cỏ đầy rơm, một chiều kích mới trong mầu nhiệm Giáng sinh ra đời. Thánh Phanxicô Assisi gọi Giáng sinh là “lễ của những cuộc lễ” – trên tất cả lễ khác – và ngài cử hành Giáng Sinh với “sự sốt sắng khôn tả” (2 Celano 199; Fonti Francescane, 787). Ngài hôn kính các hình ảnh của Đức Kitô-hài nhi một cách hết sức nhiệt thành và ngài bập bẹ những tiếng thân thương như trẻ em bập bẹ, thày Thomas thành Celano kể lại cho chúng ta như thế (sđd). Đối với Giáo hội tiên khởi, lễ của những cuộc lễ là Phục sinh: trong sự Phục sinh, Đức Kitô đã mở toang các cánh cửa sự chết và khi làm thế đã thay đổi thế giới tận gốc rễ: Người đã tạo ra một nơi chốn cho con người ở trong chính Thiên Chúa. Ngày nay, Phanxicô đã chẳng thay đổi cũng như không có ý định thay đổi thứ tự ưu tiên khách quan này giữa các lễ, cấu trúc nội tại của đức tin vẫn tập trung vào Mầu nhiệm Vượt Qua. Và tuy thế qua ngài và đặc điểm đức tin của ngài, một điều mới đã xảy ra: Phanxicô khám phá ra nhân tính của Chúa Giêsu trong một chiều sâu hoàn toàn mới. Cuộc sống nhân loại này của Thiên Chúa trở nên hữu hình nhất đối với ngài và lúc Con Thiên Chúa, sinh bởi đức Trinh nữ Maria, được vấn trong tã và đặt nằm trong máng cỏ. Phục Sinh giả định trước đó đã phải có Nhập Thể. Việc Con Thiên Chúa mặc lấy hình hài của một hài nhi, một con trẻ là người thực sự, đã tạo một ấn tượng sâu xa trong tâm hồn của vị Thánh vùng Assisi, đã biến đức tin trở thành tình yêu. “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại” – câu này của Thánh Phaolô nay có được một chiều sâu hoàn toàn mới. Trong hài nhi sinh trong hang bò tại Bêlem, ta dường như có thể chạm được và có thể âu yếm với Thiên Chúa. Và như thế năm phụng vụ có một sự tập trung thứ hai vào một lễ trên hết là một lễ của tâm hồn.
Điều này chẳng có liên quan gì đến vấn đề tình cảm. Ngay tại đây, chính trong kinh nghiệm mới mẻ này về thực tại nhân tính của Đức Giêsu mà mầu nhiệm lớn lao của đức tin được mặc khải. Phanxicô yêu mến hài nhi Giêsu, bởi vì đối với Phanxicô, chính trong thân phận trẻ thơ này mà sự khiêm hạ của Thiên Chúa chiếu sáng. Thiên Chúa trở nên nghèo hèn. Con của Người sinh trong sự nghèo hèn của chuồng bò. Trong hài nhi Giêsu, Thiên Chúa tự làm cho mình trở nên lệ thuộc, Người đặt mình vào vị trí cầu xin tình yêu của con người – tình yêu của chúng ta. Ngày nay Giáng sinh đã trở nên một đại lễ bị thương mại hóa, những bóng đèn sáng chói che giấu mầu nhiệm sự khiêm hạ của Thiên Chúa, mầu nhiệm kêu mời ta hãy khiêm hạ và đơn sơ. Ta hãy cầu xin Chúa giúp cho ta thấy được, xuyên qua sự lấp lánh giả tạo của mùa lễ hội này, và khám phá ra đằng sau nó, hài nhi trong hang bò Bêlem, để tìm thấy niềm vui đích thực và ánh sáng đích thực.
Phanxicô sắp xếp để Thánh lễ được cử hành trên máng cỏ đặt đứng giữa con bò và con lừa (x. 1 Celano 85; Fonti 469). Sau đó, một bàn thờ được dựng lên trên máng cỏ này, để cho nơi mà trước kia những con vật được cho rơm ăn, thì người ta nay có thể lĩnh nhận thịt của con chiên tinh tuyền là Đức Giêsu Kitô, để cứu độ cả hồn xác, như Thomas thành Celano thuật lại cho ta (x. 1 Celano 87; Fonti 471). Chính Phanxicô, với tư cách phó tế, đã hát bài Tin Mừng Giáng Sinh trong đêm thánh tại hang Greccio bằng giọng hát vang rền. Qua lời ca Giáng Sinh tuyệt diệu của các thày dòng, toàn bộ việc mừng lễ dường như là một sự cả một niềm vui lớn òa vỡ ra (1 Celano 85.86; Fonti 469, 470). Chính cuộc gặp gỡ với sự khiêm hạ của Thiên Chúa đã tạo ra niềm vui này – lòng từ ái của Người đã thiết lập nên lễ mừng đích thực.
Ngày nay, bất kỳ ai muốn vào Nhà Thờ Giáng Sinh tại Bêlem sẽ thấy rằng cánh cửa cao năm mét rưỡi, trước đây các hoàng đế và lãnh đạo Hồi giáo thường bước qua để vào tòa nhà, thì nay phần lớn đã được xây tường. Chỉ còn lại một lỗ hổng thấp một mét rưỡi. Có lẽ người ta có ý định nhằm bảo vệ nhà thờ được tốt hơn phòng khi bị tấn công, nhưng trên hết là nhằm ngăn những người đi ngựa vào trong nhà Thiên Chúa. Ai muốn vào nơi Đức Giêsu sinh ra thì phải cúi mình xuống. Đối với tôi dường như ở đây một chân lý sâu xa hơn được mặc khải, khiến tầm hồn ta xúc động trong đêm thánh này: nếu ta muốn tìm thấy Thiên Chúa xuất hiện như một hài nhi, thì ta phải xuống khỏi con ngựa lý trí "khai sáng" cao ngạo. Ta phải bỏ sang một bên những sự chắc chắn giả tạo, thái độ tự hào trí thức, ngăn ta không nhận ra Thiên Chúa đang gần gũi bên ta. Ta phải đi theo con đường nội tâm của Thánh Phanxicô – con đường dẫn đến sự đơn giản tối hậu cả về hình thức lẫn nội tâm giúp cho con tim có thể trông thấy. Ta phải cúi xuống, về mặt tâm linh ta phải như đi bộ, để vượt qua cánh cổng đức tin mà vào gặp gỡ một Thiên Chúa rất khác xa với các thành kiến và các ý tưởng của ta – vị Thiên Chúa ẩn mình trong sự khiêm hạ của một hài nhi mới sinh. Trong tinh thần này ta hãy cử hành phụng vụ đêm thánh, ta hãy gỡ bỏ thái độ chăm chăm chú chú vào những gì là vật chất, những gì có thể cân đong đo lường và cầm nắm được. Ta hãy để cho bản thân mình được làm cho trở nên đơn sơ bởi Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải cho những người lòng trí đơn sơ. Và ta cũng hãy cầu nguyện, nhất là vào giờ phút này cho những ai phải mừng lễ Giáng Sinh trong cảnh nghèo khó, trong đau khổ, trong thân phận di dân, nguyện xin một tia sáng về lòng nhân từ của Thiên Chúa soi chiếu trên họ, nguyện xin cho họ – và chúng ta – được chạm bởi lòng từ ái mà Thiên Chúa đã muốn đem vào trần gian qua việc Con của Người sinh ra trong chuồng bò. Amen.
Đan Quang Tâm dịch