CHƯƠNG 2: ĐỨC TIN TRÔNG ĐỢI

T

rong ba mươi ba năm thi hành sứ vụ, tôi tìm thấy có ba kẻ thù cản trở việc Chúa nhận lời cầu xin. Thứ nhất là hồ nghi và không tin, thứ hai là thiếu tha thứ cho người khác và thứ ba là không nhận biết Mình Thánh Đức Kitô cách xứng hợp. Trong chương này tôi sẽ nói về sự hồ nghi và thiếu đức tin. Khi chúng ta đến với Chúa trong sự cầu nguyện, Người muốn chúng ta đến với đức tin của một đứa trẻ mong sẽ nhận được những gì mình xin. Tôi gọi loại đức tin này là "đức tin trông mong". Để tôi kể một vài câu chuyện cho thấy Chúa đã dậy tôi phải tin vào Người với "đức tin trông mong."

Khi mới là một mục sư, tôi không có sự hỗ trợ tài chánh nào cả. Tôi cũng không đủ tiền để hỗ trợ nhu cầu của gia đình, và tôi còn phải trả tiền thuê mướn cơ sở nơi dùng làm nhà thờ. Để trang trải cho các nhu cầu này, tôi tiếp tục lái xe tải như một nghề kiếm cơm. Trong khi coi sóc nhà thờ của tôi ở Vista, California, tôi lái xe tải gọi là xe chuyển tiếp, căn bản là xe đổ cát. Một buổi sáng lạnh và mưa, trước khi mọi người đến nơi, tôi đã phải đổ đống cát đầu tiên trong bóng đêm. Một số cát đá kẹt vào đường rãnh khiến thùng cát không lăn xuống được. Tôi đóng cánh cửa sau thật mạnh với hy vọng số cát đá sẽ lỏng ra. Khi đóng cánh cửa như vậy, tay áo tôi vướng phải cạnh xe và cánh cửa sắt nặng 300 cân Anh đã dập xuống tay tôi. Khỏi phải nói, tôi đã bị gẫy tay.

Vì không thể kêu ai giúp đỡ, tôi quyết định tiếp tục đổ đống cát thứ hai. Khi lái xe với cánh tay bị gẫy, tôi bắt đầu cầu nguyện. Tôi nhớ có nói, "Chúa ơi, con xin cá thì Ngài lại cho con rắn." Tôi cầu nguyện với "đức tin trông mong." Tôi nói với Chúa là tôi muốn có thể tin vào Chúa vì bất cứ gì. Chúa nói với tôi, "Bob, con thấy dễ để cầu xin cho người khác phải không? Vậy, giờ đây con là người bị đau. Đức tin của con thế nào? Với tất cả những đau đớn bây giờ, con có còn tin là Ta sẽ chữa cánh tay gẫy cho con không?" Tôi thưa, "Có, lậy Chúa, con tin." Tôi dùng bàn tay gẫy nắm lấy tay lái và đặt bàn tay khác lên trên rồi nói, "Hỡi cánh tay, nhân danh Chúa Giêsu, hãy lành lặn." Ngay lập tức, tôi cảm thấy Chúa chữa cánh tay ấy và mọi sự đau đớn vì xương gẫy cũng tan biến. Khi bạn đau ốm, bạn sẽ thấy rằng một trong những điều khó khăn nhất để thi hành là tin vì nhu cầu của chính mình. Tuy vậy, điều đó vẫn có thể xảy ra. Chỉ cần đến với Chúa với "đức tin trông mong."

Vào năm 1973, Chúa dậy tôi một bài học quý báu khác về "đức tin trông mong." Một buổi sáng tháng Tư khoảng mười giờ, tôi đang cầu nguyện trong văn phòng, và tôi nghe Chúa nói với tôi, "Bob, Ta sẽ sai con đến Nam Dương." Tôi thưa, "Lậy Chúa, sao Chúa lại gửi con đến Nam Dương?" Chúa nói, "Bob, Ta muốn cho con thấy một vài điều ở đó. Ta muốn dậy con một vài điều và con sẽ không bao giờ giống như trước." Tôi thưa, "lậy Chúa, thưa được. Nếu Ngài muốn con đến Nam Dương thì con sẽ đi, nhưng làm thế nào con đến đó được. Ngài biết là con không có tiền cũng như nhà thờ của con. Con sẽ lấy tiền đâu ra?" Khi những lời ấy chưa dứt thì tôi đã nghe có tiếng chuông điện thoại. "Chào Mục Sư Rice. Đây là Emily K. Ông có ở văn phòng trong giây lát không? Tôi sẽ xuống đó và gặp ông trong vài phút." Tôi trả lời bà là tôi sẽ ở đây cả buổi sáng.

Khoảng bốn mươi lăm phút sau, bà gõ cửa văn phòng tôi. Tôi mời bà vào. Sau một vài phút thăm hỏi thường lệ, bà đưa tôi một chi phiếu và nói, "Chúa bảo tôi đưa cho ông số tiền này. Nó không phải cho nhà thờ, nhưng cho cá nhân ông. Chúa bảo ông thi hành điều gì đó và đây là số tiền cho mục đích đó." Tôi chết lặng khi thấy số tiền của tấm chi phiếu. Tuy nhiên, tôi cố bình tĩnh và đặt tấm chi phiếu lên bàn rồi cảm ơn bà. Sau đó tôi cho bà biết những gì Chúa bảo tôi vào sáng hôm ấy. Bà nói, "Đúng, đúng rồi. Ngợi khen Chúa! Đúng vậy!" Tôi kinh ngạc đến muốn chết. Khi bà bước ra khỏi cửa, tôi cầm lấy tấm chi phiếu và nhìn xem. Đó là tấm chi phiếu năm trăm đôla.

Chiều hôm ấy tôi nói với một bạn thân, là thành viên của giáo đoàn, về những gì Chúa đã bảo tôi, và làm thế nào bà K. đã đem cho tôi tấm chi phiếu trị giá năm trăm đô la. Ông hỏi tôi có biết gì về Mel Tori và cuốn sách "Like a Mighty Wind" (Như Cơn Gió Cả) của ông ta không. Tôi cho biết là không. Ông nói đó là một sự phục hồi đức tin cả thể đang xảy ra ở Nam Dương, và cuốn sách của ông Mel là nói về vấn đề đó. Sau đó ông cho biết vào tối hôm ấy, ông Mel sẽ giảng tại nhà thờ North Hollywood Baptist. Ông hỏi tôi có muốn đến North Hollywood và nghe lời chứng của ông Mel về những gì đang xảy ra ở Nam Dương không. Tôi đồng ý đó là một ý kiến hay. Do đó ông và tôi cũng như một số bạn hữu đã đến nghe ông Mel vào tối hôm ấy.

Sau khi diễn giảng, ông Mel đứng bắt tay mọi người và tôi bước đến ông, ngỏ ý là tôi rất thích lời chứng của ông. Khi nắm tay ông, tôi nói, "Chào ông Mel, tôi là Bob Rice." Ông trả lời, "Phải Anh Rice, khi nào anh đến quê hương của tôi?" Nghe vậy tôi muốn độn thổ. Tôi hỏi làm sao ông biết là tôi sẽ đến quê hương ông. Mel nói Chúa đã cho biết tên của tôi và đã cho thấy khuôn mặt của tôi trong máy truyền hình của Chúa (nói cách khác là qua một thị kiến) và Người sẽ gửi tôi đến với họ. Tôi trả lời là có lẽ tôi sẽ bay sang đó vào tháng Sáu. "Ồ, vậy thì tốt" ông nói, "anh phải viết thư cho các anh em ở nhà vì họ trông đợi anh đến đó tháng Năm. Nếu anh không đến tháng Năm, họ sẽ lo lắng về anh."  Tôi nói, "Vậy thì có lẽ tốt hơn tôi sẽ đi tháng Năm." Ông hỏi có thể nào ông gặp tôi vào thứ Năm không. Lý do là vì ông muốn trao cho tôi ba lá thư. Chúa chưa nói cho tôi biết là tôi sẽ đi đâu. Người chỉ nói là Nam Dương. Mel là người cho biết nơi tôi sẽ đến. Tôi được mong đợi sẽ đến làng Soe, Nam Dương.

Hôm sau, tôi đến gặp nhân viên hãng du lịch để biết phí tổn vé máy bay đi và về KuPang, Nam Dương, là phi trường gần làng Soe nhất. Bà này cho biết vé khứ hồi sẽ tốn một ngàn ba trăm đô la. Vào lúc đó, tôi chỉ có năm trăm đô la mà bà K. đã cho tôi. Nhân viên này hỏi là tôi có muốn giữ chỗ trước hay không, tôi trả lời là chưa có đủ tiền. Bà nói không sao. Tôi không cần phải có đủ tiền cho đến khi thực sự bay. Tôi nói, "Nếu tôi không có đủ tiền vào lúc đó thì sao?" Bà nói không phải lo gì cả. Tôi chỉ cần hủy bỏ chuyến đi. Tôi nói, "Vậy, nếu tôi không tốn kém một xu thì có mất mát gì đâu? Cứ giữ cho tôi một chỗ." Trong đầu tôi vẫn đinh ninh là mười bẩy tháng Năm. Khi bà nhân viên hỏi là khi nào tôi muốn ra đi, tôi nói với bà, "Thực sự tôi không biết là vì tôi không có tiền." Do đó, tôi bảo bà cứ chọn cho tôi một ngày vì tôi có thể thay đổi hoặc hủy bỏ nếu cần. Nghe vậy, bà nói, "Ông thấy ngày mười bẩy tháng Năm thế nào?" Đó chính là ngày tôi có trong đầu. Do đó, bà giữ chỗ cho tôi vào ngày mười bẩy tháng Năm 1973. Sau đó bà cũng đưa tôi giấy tờ để xin thị thực và hộ chiếu. Bà nói có thể phải mất vài tuần mới xong, bởi thế chúng tôi phải làm ngay. Nếu tôi không đi, cũng chẳng mất mát gì. Tôi chỉ có giấy hộ chiếu. Ba ngày sau, bà gọi cho biết hộ chiếu và thị thực của tôi đã xong. Bà chưa bao giờ thấy hộ chiếu được cấp phát trong ba ngày.

Một vài ngày sau, một mục sư từ vùng Los Angeles gọi tôi và hỏi tôi có muốn tổ chức nghi thức chữa lành tại nhà thờ của ông không. Ông đã sắp xếp cho tôi đến đó vào tối thứ Tư tuần tới. Sau khi chấm dứt đêm đó, mục sư đưa tôi một phong bì hậu tạ. Tôi cầm lấy bỏ vào túi mà không đếm, rồi cảm ơn ông. Về nhà đêm đó, tôi để ý thấy số tiền hậu tạ thật nhiều. Tôi quá mệt mỏi, nhưng cũng dành thời giờ để xem Chúa đã chúc phúc cho tôi như thế nào. Tôi không tin vào mắt mình. Tôi nhận được tám trăm đô la. Số tiền này cộng với số tiền của bà K. là những gì tôi cần cho vé máy bay. Chúc tụng Chúa!

Ngày mười bẩy tháng Năm đã đến và tôi sẵn sàng đến Nam Dương. Tuy nhiên, tôi chỉ có tám mươi đô la cho chuyến đi. Verma, vợ tôi, hỏi, "anh nghĩ thế nào mà dám đi xa hơn nửa vòng trái đất trong ba tuần lễ với tám mươi đô la thôi?" Tôi trả lời rằng chuyến đi này là ý Chúa chứ không phải tôi và Người sẽ lo liệu cho tôi. Một người bạn đưa tôi ra phi trường và cho tôi hai mươi đô la nữa. Tôi sẽ lên phi cơ với đúng một trăm đô la. Ở phi trường, tôi được cho biết là chuyến bay sẽ đi qua Anchorage, Alaska chứ không phải Honolulu, Hawaii. Điều này làm tôi hoang mang vì Chúa nói tôi sẽ rao giảng ở Hawaii trên đường trở về, và tôi đã có ý định gọi điện thoại cho một mục sư bạn và sắp xếp để giảng tại nhà thờ của ông, trong khi chúng tôi ở Honolulu.

Trong khi đợi phi cơ cất cánh, tôi làm quen với một hành khách khác cũng đợi cùng chuyến bay. Tôi cho bà biết lý do tôi đi. Bà nhận xét rằng lần này thực sự Chúa đã nhầm lẫn vì chuyến bay đặc biệt này thường đi qua Anchorage, Alaska. Bà cho biết bà thường lấy chuyến bay này vì tiết kiệm được bốn giờ bay thay vì đi đường ngang qua Honolulu. Bà còn đang nói thì máy phóng thanh ở phi trường đã lên tiếng, "Ai có chuyến bay này nọ, vui lòng đến quầy vé. Chuyến bay này vừa mới thay đổi. Bây giờ qúy vị sẽ bay ngang Honolulu." Tôi nhìn bà và cười lớn.

Khi đến Dempasa, tôi đưa cho người tài xế taxi thấy địa chỉ trên phong bì lá thư của ông Mel mà tôi muốn đến. Lá thư này đề địa chỉ của người bạn ông Mel, là người sẽ giúp tôi đến nơi mong muốn. Tài xế taxi đưa tôi đến nơi và tôi trao lá thư của ông Mel cho người chủ nhà ở Dempasa. Họ để tôi nghỉ qua đêm và sáng hôm sau họ giúp tôi lên chuyến bay đến KuPang. Khi đến phi trường KuPang tôi đưa cho một tài xế taxi khác lá thư thứ hai của ông Mel để chở tôi đến nhà người bạn ông Mel. Tôi ở đây hai ngày trong khi họ tìm người lái xe jeep chở tôi đến làng Soe, Nam Dương. Sau cùng tôi đến quê ông Mel, làng Soe, vào lúc 11g đêm và đưa cho chủ nhà lá thư cuối cùng của ông Mel. Sau khi đọc thư xong, ông mời tôi vào nhà và dọn chỗ cho tôi nghỉ trong thời gian ở Soe. Chúng tôi chuyện trò vài phút và tôi đi ngủ. Đó là một ngày thật dài.

Vào tám giờ sáng hôm sau, một bà gõ cửa và nói với chủ nhà, "Ông có một người ngoại quốc đến từ Hoa Kỳ, và tôi được Chúa chuyển lời cho ông ấy." Tôi được cho biết bà này đã phải đi bộ mười lăm dặm băng qua khu rừng vào ban đêm để đến căn nhà tôi đang ở. Họ gọi các trưởng lão của nhà thờ lại và chúng tôi cầu nguyện khoảng bốn mươi lăm phút. Bà này bắt đầu lên tiếng và họ thông dịch sang Anh Ngữ để tôi hiểu. Đó là một thông điệp riêng tư về vài điều mà Chúa muốn thương lượng với tôi về sứ vụ của tôi. Đó là một vấn đề mà tôi không muốn chấp nhận. Tuy nhiên, Chúa đã có được sự lưu ý của tôi bằng cách đưa tôi đi xa nửa vòng trái đất, và một bà phải đi bộ mười lăm dặm qua khu rừng vào ban đêm để đem cho tôi thông điệp ấy. Tôi ở lang Soe khoảng một tuần và sau đó trở về KuPang.

Khi đến KuPang tôi giảng ở một nhà thờ địa phương vào tối Chúa Nhật. Trong nghi thức đêm ấy chúng tôi chứng kiến vài việc chữa lành. Sáng hôm sau, những tiếng động ở nhà bếp đã thức giấc tôi. Tôi dậy làm vệ sinh và đi qua nhà bếp. Một vài người đang ngồi trong bếp, mà tôi cho là thật lạ vì lúc ấy mới 5g sáng. Những người này không có mặt trong nghi thức tối hôm qua, nhưng họ nghe là một người của Chúa đã cầu nguyện cho bệnh nhân và nhiều người đã được khỏi. Họ muốn biết là có quá trễ để người của Chúa cầu nguyện cho họ không. Bạn có thấy đức tin trông đợi của những người này không? Tôi nghĩ điều lạ lùng nhất tôi được nhìn thấy khi ở Nam Dương đã xảy ra vào 5g sáng thứ Hai hôm ấy. Một phụ nữ bị lở loét khắp thân thể. Tôi không biết đó là bệnh gì, nhưng thật ghê tởm. Bà muốn biết là tôi có cầu nguyện cho bà và Chúa có thể chữa lành cho bà không. Tôi nói dĩ nhiên tôi sẽ cầu nguyện cho bà. Đây là lý do Chúa muốn gửi tôi đến chỗ này. Người muốn tôi nhìn thấy đức tin như trẻ nhỏ ở đây. Khi tôi cầu nguyện cho bà, điều lạ lùng nhất bắt đầu xảy ra. Tôi không biết diễn tả nó như thế nào hơn là nói rằng, da của bà bắt đầu như sôi lên. Giống như ai đó đổ thuốc "Peroxide" lên các vết lở loét. Trong vòng khoảng năm phút, chúng tôi không còn thấy dấu vết lở loét ghê tởm nữa. Tôi không thể diễn tả được khi thấy những điều như vậy xảy ra ngay trước mắt, đức tin bạn sẽ như thế nào. Tôi ở KuPang một vài ngày nữa và sau đó trở về nhà.

Tôi dừng ở Honolulu và giảng trong một đêm Chúa Nhật cho người bạn làm mục sư ở Aiea, Hawaii. Anh tôi là Arnold đóng quân ở đó trong căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tôi ở đêm với Arnold và gia đình anh. Sáng hôm sau, tôi lên phi cơ về San Diego, California. Trong khi đợi xe buýt để đi Oceanside, California, tôi uống một ly cà phê. Tôi kiểm soát xem một trăm đô la còn lại bao nhiêu sau khi về từ Nam Dương. Thật ngạc nhiên, tôi có một trăm và sáu đô la! Tôi có nhiều tiền hơn trước khi đi! Ở Nam Dương không ai cho tôi một đồng nào. Không có phong bì hậu tạ cho chuyến đi này. Vậy sáu đô la thặng dư này là ở đâu? Bạn cho tôi biết. Bạn có nhớ đến câu chuyện "năm cái bánh và hai con cá" không? Chúa thật đúng khi nói, "Ta muốn cho con thấy một vài điều ở đó, một vài điều Ta muốn dậy con. Con sẽ không bao giờ giống như trước." Tôi thấy rằng đức tin như trẻ nhỏ hay đức tin trông đợi là điều Chúa muốn tất cả chúng ta đều có.

Chúa không muốn chúng ta hai lòng. Đoạn sách thánh Giacôbê 1:6-8 viết, "Nhưng người ấy phải cầu xin với lòng tin không chút do dự, vì kẻ do dự thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống. Người ấy đừng tưởng mình sẽ nhận được cái gì của Chúa: họ là kẻ hai lòng, hay thay đổi trong mọi việc họ làm." Thư thứ nhất của Thánh Gioan 5:14-15 viết, "Lý do khiến chúng ta được mạnh dạn trước mặt Thiên Chúa, đó là: Người nhậm lời chúng ta, khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người. Nếu chúng ta biết rằng Người nhậm mọi lời chúng ta xin, thì chúng ta cũng biết rằng chúng ta sẽ được những gì chúng ta đã xin Người." Luca 18:27 nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu nói, "Điều không thể đối với loài người thì có thể đối với Thiên Chúa." Máccô 11:22-24 có chép lời Chúa nói, "Anh em hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật anh em: nếu có ai nói với núi này 'Dời chỗ đi, nhào xuống biển', mà trong lòng chẳng hoài nghi, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý. Vì thế, Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý." Do đó, "Hãy tin tưởng vào Chúa" và "biết rằng Người nhận lời chúng ta về bất cứ gì chúng ta xin." Đừng đến với Người mà hồ nghi, nhưng hãy đến với Người với đức tin trông đợi và "biết rằng những gì chúng ta xin Người thì sẽ được."

Xem Tiếp