Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 12: MỨC ĐỘ GIẢNG DẠY, MỨC ĐỘ ƯNG THUẬN

V

ào cuối khóa học về Công Giáo, tôi yêu cầu các sinh viên viết về hai hoặc ba điều quan trọng nhất mà họ đã lĩnh hội được. Câu trả lời của họ thật khác nhau, nhưng sau các lục cá nguyệt, một vấn đề đặc biệt được nhắc đến nhiều hơn cả: Các sinh viên cho biết họ cảm thấy vui và ngay cả an tâm khi được biết dù có bất đồng với một số giáo huấn chính thức của giáo hội, họ vẫn là người Công Giáo.

Khi viết bài này, tôi cảm thấy như có sự thúc giục phải quy tụ tất cả các sinh viên mà tôi đã dạy từ vài năm qua trong một giảng đường và hét lớn vào tai họ: "Đây không phải là những gì tôi muốn nói!" Nhưng, khi suy nghĩ về điều ấy, tôi không yêu cầu họ lập lại những gì tôi nói; đúng hơn, tôi yêu cầu họ phúc trình lại những gì họ học hỏi được. Tôi tôn trọng và ngay cả đồng ý với những gì họ đã học; tôi chỉ hy vọng rằng họ đừng nhớ điều ấy mà quên đi những phần căn bản thiết yếu mà tôi đã dạy trong lớp.

Trong Chương Này

Trong chương này chúng ta sẽ đề cập đến sự quan trọng của các tín điều, cấp bậc tương đối của tín điều, và vấn đề ưng thuận hay bất đồng. Trong Lumen Gentium, những đoạn liên quan đến các vấn đề này là đoạn 25 trong chương 3 và đoạn 37 trong chương 4. Cũng có liên hệ là Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo của Công Đồng Vatican II.

Tính Cách Cốt Yếu của Tín Điều

Xã hội đa nguyên của chúng ta có khuynh hướng tầm thường hóa sự quan trọng của những điều tin tưởng. Chúng ta muốn xác định quyền lợi và phẩm giá của mọi người bất kể tôn giáo. Chúng ta muốn nói rằng bất kể họ tin tưởng những gì, họ vẫn có các quyền hợp hiến như bất cứ ai khác.

Khuynh hướng giảm thiểu sự quan trọng của tín điều lại tràn lan sang cả chính lãnh vực tôn giáo. Đôi khi khuynh hướng ấy được thể hiện vì không tôn trọng các tôn giáo khác. Đôi khi nó được thể hiện để phản ứng lại các khuynh hướng trong quá khứ đã quá nhấn mạnh đến vai trò của tín điều đến độ quên đi các yếu tố khác của tôn giáo, tỉ như sự cầu nguyện, cảm nghiệm tôn giáo, hay sự biến đổi xã hội. Chúng ta được bảo rằng, làm đúng thì thiết yếu hơn tin đúng.

Tuy nhiên, có thể phối hợp sự khẳng định các quyền làm người, các tôn giáo khác, và cảm nghiệm tôn giáo với sự công nhận vai trò thiết yếu của tín điều trong đời sống cá nhân và cộng đồng. Như thần học gia Bernard Lonergan đã vạch ra, các tín điều tạo thành một thế giới mà người ta sống ở trong đó. Các tổ chức xã hội và văn hóa con người có những ý nghĩa cốt lõi của nó. Những ý nghĩa này có thể khám phá ra là những giả định và được công thức hóa thành tín điều. Thí dụ, hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ được dựa trên một số điều tin tưởng về ý nghĩa và tầm quan trọng của sự công bằng. Thể chế hôn nhân và gia đình được dựa trên một số điều tin tưởng về sự quan hệ giữa người nam và người nữ trên phương diện tình dục và vấn đề con cái.

Các điều tin tưởng về tôn giáo giúp con người hình thành sự hiểu biết về ý nghĩa và mục đích của đời sống. Chúng là một phần của thế giới mà bạn đang sống ở trong đó. Khi thức dậy vào buổi sáng, bạn nhìn thấy loại thế giới nào? Bạn nhận thức những gì? Đó có phải là thế giới được tạo dựng bởi một Thiên Chúa toàn năng và đầy yêu thương với mục đích tốt đẹp không? Hay bạn thức dậy trong một thế giới thật phi lý, không có một ý nghĩa tối hậu, bất kể bao lâu chúng ta ngóng đợi câu trả lời? Có phải bạn thức dậy trong một thế giới, tuy sa ngã trong tội lỗi, nhưng đã được cứu độ bởi Đức Kitô? Hay đó là một thế giới mà sự sa ngã, sự tin tưởng sai lầm về tội lỗi đã che phủ sự trong trắng đích thực của loài người? Chúng ta tin gì về bản chất tột bực của thực tại và mục đích của đời sống?

Những vấn nạn trên không chỉ có thế. Tôn giáo của tôi không chỉ là tôn giáo duy nhất trên thế giới này. Ngay cả những quan điểm trần tục cũng có thể đem lại một ý nghĩa khác mà không phải dài dòng giảng giải. Tôi không muốn nói rằng dân quyền, phẩm giá hay sự tự do của con người phải được định nghĩa theo các điều họ tin tưởng. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng những gì bạn tin tưởng thì tuyệt đối cốt yếu với con người bạn và với ý nghĩa của đời sống bạn.

Một Số Điều Tin Tưởng thì Chủ Yếu Hơn Các Điều Khác

Sắc Lệnh về Đại Kết của Công Đồng Vatican II kêu gọi các phần tử trong cuộc đối thoại liên tôn hãy "nhớ rằng trong học thuyết Công Giáo có một thứ tự hoặc 'cấp bậc' về chân lý, vì chúng liên hệ khác nhau với nền tảng đức tin Kitô Giáo" (đoạn 12). Nói cách khác, người Công Giáo biết rằng một số tín điều thì chủ yếu hơn các tín điều khác so với tâm điểm đức tin Kitô Giáo. Khi trong cuộc đối thoại đại kết, người ta thường bỏ qua những bất đồng ít chủ yếu hơn để dễ đồng ý hơn về những điểm căn bản. Thí dụ, khi Công Giáo đối thoại với Tin Lành Luther, đầu tiên có lẽ nên đi vào các lãnh vực đã được đồng ý, tỉ như ơn cứu độ tuyệt đối do Đức Kitô ban tặng, mà không luôn luôn chú ý đến các điểm tranh luận như vai trò của công trạng loài người.

Hiện nay không có một phương cách nào chắc chắn để vạch ra thứ tự của tín điều theo cấp bậc chân lý. Có lẽ một số hướng dẫn có thể được trích từ Bernard Lonergan, là người nói về "sứ điệp nguyên thủy" của Kitô Giáo. Tất cả mọi giáo huấn khác là "các học thuyết về học thuyết này." Để viện dẫn cho sứ điệp nguyên thủy này, Lonergan đưa ra thư I gửi tín hữu Côrintô (15:3tt), trong đó Thánh Phaolô nói: "Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh." Sau đó Thánh Phaolô kể ra những nhân chứng đã gặp Đức Kitô phục sinh, và thánh nhân kết luận, "... đây là những gì chúng ta rao giảng và đây là những gì anh em phải tin." Tâm điểm của sứ điệp Kitô Giáo là tin mừng mà qua Đức Kitô phục sinh, là Người đã đáp ứng những mong đợi trong Cựu Ước, chúng ta được cứu chuộc khỏi tội lỗi.

Như vậy, cấp bậc chân lý sẽ được xác định qua việc thẩm định xem tín điều ấy gần với tâm điểm đức tin như thế nào. Tự nó thì không phải là công việc dễ dàng. Một trong những lý lẽ hỗ trợ mạnh mẽ thẩm quyền lãnh đạo trong giáo hội thì cho rằng người ta có thể giải thích theo nhiều kiểu cách khác nhau về sứ điệp nguyên thủy và sự ứng dụng của nó. Ai là người dám nói rằng sự giải thích này thì chấp nhận được? Ai là người xác định rằng tín điều này thì chủ yếu hơn tín điều kia?

Lập trường chính thức của Công Giáo cho rằng huấn quyền của giáo hội có thẩm quyền để xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề đức tin và luân lý. Lập trường được đề cập đến trong Sắc Lệnh về Sự Mặc Khải của Công Đồng Vatican II thì cho rằng tin mừng phúc âm được biểu lộ qua Kinh Thánh và Truyền Thống. Huấn quyền của giáo hội không có thế lực trên Kinh Thánh và Truyền Thống, nhưng nó có thẩm quyền trên sự dẫn giải về Kinh Thánh và Truyền Thống. Tuy nhiên, hiện nay, không có một sự trình bầy nào có hệ thống về cấp bậc chân lý.

Theo quan điểm của tôi, tin rằng Chúa Giêsu cùng một bản thể với Chúa Cha thì chủ yếu; tin rằng sự cầu bầu của các thánh thì quan trọng nhưng không chủ yếu bằng. Tin rằng tội ngoại tình thì xấu xa và đó là tín điều chủ yếu; tin rằng việc ngừa thai nhân tạo thì luôn luôn trái luân lý nhưng không chủ yếu bằng. Tin rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn giáo hội thì chủ yếu; tin tưởng vào tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng thì không chủ yếu bằng. Thật không may khi các tín điều không chủ yếu lại được chú trọng quá đáng, không xứng với giá trị của nó và do đó khiến người ta ít lưu tâm đến các tín điều chủ yếu hơn. Điều này không có nghĩa những tín điều ít chủ yếu thì ít chân lý; nhưng đúng hơn, những điều ấy không cần được lưu tâm đến trong cuộc đối thoại đại kết.

Người Công Giáo Phải Tin Những Gì?

Những căn bản của Kitô Giáo có thể được tìm thấy trong Kinh Tin Kính các Tông Đồ cũng như trong Kinh Tin Kính Nicene. Người Công Giáo được cho rằng phải chấp nhận tính cách nhân chứng đức tin của Kinh Thánh, tin ba ngôi trong một Thiên Chúa, tin vào các quyết định của các công đồng, các giáo huấn của đức giáo hoàng và các giám mục, và các bí tích là phương tiện của ơn sủng.

Trong những năm gần đây, một số thần học gia đã thử áp dụng ý niệm "cấp bậc chân lý" cho các vấn đề nội bộ đức tin Công Giáo, ở bên ngoài cuộc đối thoại đại kết. Những tín điều nào phải được chấp nhận nếu một người tự cho mình là Công Giáo?

Thần học gia Monika Hellwig, suy diễn từ công trình của Yves Congar, đã phân biệt giữa Truyền Thống (viết hoa) và truyền thống (viết thường). Một đàng, Truyền Thống là những gì thiết yếu của đức tin Công Giáo; nếu Truyền Thống thay đổi, đức tin cũng sẽ bị thay đổi. Đàng khác, truyền thống là những gì có thể quan trọng nhưng không thiết yếu. Thí dụ, người Công Giáo tin Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể là một Truyền Thống; quy tắc rước lễ bằng miệng là một truyền thống thường và có thể thay đổi.

Sự phân biệt giữa hai truyền thống này thì thật hữu ích, nhưng tự nó không giải quyết được vấn đề. Người Công Giáo vẫn còn bất đồng khi phải quyết định xem vấn đề nào là Truyền Thống và vấn đề nào không. Khi giáo hội cho rằng không có quyền để tấn phong phụ nữ thì lập trường ấy được dựa trên sự phán đoán rằng linh mục nam giới là một Truyền Thống do chính Chúa Giêsu thiết lập. Những người Công Giáo ủng hộ việc phong chức cho phụ nữ thì cho rằng linh mục nam giới là một truyền thống có liên quan đến nền văn hóa cổ xưa, có tính cách phụ hệ và không thiết yếu đối với phúc âm.

Ngoài ra, khi đặt vấn đề tín điều nào là cốt yếu, chúng ta cũng đừng quên rằng nhiều người Công Giáo hiểu biết khác nhau về cùng một tín điều. Những gì một người Công Giáo chấp nhận về tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời thì khác với sự chấp nhận của người kia. Một người Công Giáo có thể kể ra kinh Tin Kính và tin đủ mọi thứ trong kinh ấy theo nghĩa đen; người khác cũng đọc kinh ấy nhưng lại hiểu theo nghĩa biểu tượng; và một người khác nữa rất ý thức về sự quan hệ giữa huyền thoại và lịch sử, và họ hiểu kinh Tin Kính theo ý thức đó. Trong khi tất cả mọi người Công Giáo không nhất thiết phải hiểu một tín điều theo kiểu cách như nhau, người Công Giáo chỉ có thể chia sẻ cùng một đức tin khi có một vài đồng nhất nào đó. Vấn đề đa nguyên của học thuyết, cũng như cấp bậc chân lý, là vấn đề hiện chưa được sáng tỏ, và người ta phải chú ý hơn nữa trong tương lai.

Sự Tán Thành Sâu Đậm Hơn Sự Bất Tuân

Trong chuyến tông du Hoa Kỳ năm 1987, Đức Gioan Phaolô II đã lên tiếng đả kích sự bất tuân trong giáo hội. Nhận định rằng nhiều người Công Giáo không chấp nhận một vài giáo huấn của giáo hội, "nhất là tính cách luân lý của tình dục và vợ chồng, ly dị và tái hôn, và phá thai," đức giáo hoàng nói: "Đôi khi người ta cho rằng bất tuân với huấn quyền thì hoàn toàn thích hợp với một người Công Giáo tốt lành, và không trở ngại gì khi lãnh nhận các bí tích. Đây là một sai lầm trầm trọng." Sau đó, khi nói chuyện với các giám mục về sự tự do thần học, đức giáo hoàng nói rằng các giám mục "phải tìm cách cho giáo dân thấy rằng không thể chấp nhận sự bất tuân và sự đối chất như một loại chính sách trong lãnh vực giáo huấn." Cũng trong buổi nói chuyện này, ngài nói, "Sự bất tuân vẫn là bất tuân. Tự nó không được chấp nhận hoặc được đề ra trên một cương vị ngang hàng với giáo huấn của giáo hội."

Các hướng dẫn cho sự bất đồng chính đáng trong giới thần học gia đã có ngay từ trước thời Công Đồng Vatican II. Kể từ Công Đồng Vatican II, các thần học gia Công Giáo và sách giáo khoa Công Giáo đã làm sáng tỏ các điều kiện khi nào thì sự bất tuân của một tín hữu bình thường được coi là chính đáng. Ngay cả các hội đồng giám mục và cá nhân các giám mục cũng ra các thông tư cho biết khi nào thì sự bất tuân được coi là chính đáng và khi nào được coi là thiếu trách nhiệm. Vậy, có phải đức giáo hoàng dứt khoát phủ nhận và hủy bỏ những gì đã trở thành giáo huấn thông thường trong vài thập niên qua về sự bất tuân hay không?

Có thể đó là điều ngài muốn nói. Tôi nhớ có thấy Đức Gioan Phaolô II tuyên bố trên truyền hình rằng, "Bất tuân, thì không. Tán thành, thì được." Tuy nhiên, khi dùng đến khẩu hiệu thì điều đó có nghĩa ngài muốn nói với đám đông một cách trực tiếp, và không luôn luôn tiêu biểu cho một lập trường đầy đủ hay chu đáo. Tôi muốn đưa ra cách giải thích khác về những gì đức giáo hoàng muốn nói.

Như tôi thấy, đức giáo hoàng không nhất thiết muốn nói theo kiểu chuyên môn là không có sự bất tuân nào có thể coi là chính đáng; đúng hơn, ngài phát động một cuộc tấn công toàn diện đối với thái độ cổ võ sự bất tuân như một điều bình thường và được đặt ngang hàng với các tín điều căn bản. Đức giáo hoàng đang tấn công điều thường được gọi là "Công Giáo kén cá chọn canh," hay "Công Giáo tùy ý thích" là thái độ của một người Công Giáo chỉ tin những gì mình thích và loại bỏ những điều khác mà không đếm xỉa gì đến giáo huấn của giáo hội. Ngài muốn nói rằng các lối sống như tình dục ngoài hôn nhân, tái hôn mà chưa được tiêu hôn, và phá thai là những vấn đề trầm trọng chứ không chỉ là vấn đề lương tâm cá nhân. Ngài muốn nói những điều này là tội lỗi, và người Công Giáo không được tự do để lựa chọn những gì mà cá nhân họ cho là đúng hoặc sai. Một số người Công Giáo ngày nay sẽ tranh luận rằng các vấn đề này thì quá phức tạp để có những phán quyết mau chóng. Chính với thái độ này mà đức giáo hoàng đặt vấn đề. Trong một ý nghĩa, đây là một hình thức khác của vấn đề phải xem những gì là Truyền Thống và những gì là truyền thống.

Đức giáo hoàng cũng nói là người tín hữu không được đặt điều bất tuân ngang với điều tán thành. Điều tán thành thì căn bản hơn; nó là vấn đề đức tin. Sự tán thành của người tín hữu thì có trước và sâu xa hơn sự bất tuân.

Thật sai lầm khi cho rằng người tín hữu khởi sự với một tâm trí như tờ giấy trắng và sau đó họ lựa chọn hay vứt bỏ những phần của đức tin Công Giáo. Trong một ý nghĩa căn bản, một người Công Giáo phải trân quý toàn thể đức tin Công Giáo. Người Công Giáo chấp nhận sứ điệp Kitô Giáo qua Kinh Thánh, kinh Tin Kính, các bí tích và giáo huấn của giáo hội. Bất cứ thảo luận nào về sự bất đồng phải được xảy ra sau khi phạm vi này đã được xác định.

Sự Bất Đồng Có Trách Nhiệm và Vô Trách Nhiệm

Tôi không hiểu những tổ chức nào mà đức giáo hoàng muốn nói đến khi dùng chữ "bất tuân". Có lẽ ngài nghĩ đến một cuộc cách mạng tầm mức mà trong đó các giám mục và linh mục bị gửi đi chém đầu. Đây không phải là lần đầu tiên có những điều đó xảy ra trong lịch sử giáo hội. Chữ "bất tuân" mang các ý nghĩa rộng gây phiền toán cho hoàn cảnh chúng ta ngày nay. Tôi muốn nói về "sự bất đồng" với các giáo huấn.

Trong giáo hội Công Giáo ngày nay, sự bất đồng là một thực tại không thể xoá bỏ. Một số thần học gia cho rằng sự bất đồng là một phần của tiến trình lành mạnh mà qua đó giáo hội thay đổi. Tuy nhiên, không phải tất cả những bất đồng đều chính đáng. Cần phải phân biệt giữa sự bất đồng có trách nhiệm và vô trách nhiệm.

Francis Sullivan giải thích rằng người Công Giáo được cho rằng phải tán thành với giáo huấn của giáo hội. Người ta không thể bất đồng với các dạy dỗ được coi là bất khả ngộ mà vẫn được coi là người Công Giáo. Nhưng nếu người Công Giáo đặt vấn đề với các dạy dỗ khác với một thái độ cởi mở, muốn thích ứng tâm trí của mình, và sau một thời gian cố gắng vẫn không thể hoàn toàn tán thành sự dạy dỗ ấy, có lẽ phải coi  sự bất đồng ấy vừa có trách nhiệm và vừa chính đáng.

Sullivan vạch ra một câu trong bản thảo nguyên thủy của Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo viết rằng, "Trong việc hình thành lương tâm, người tín hữu Kitô phải cẩn thận chú trọng đến học thuyết linh thiêng và chắc chắn của giáo hội." Trong cuộc tranh luận của công đồng về tuyên ngôn này, có đề nghị thay đổi câu "phải cẩn thận chú trọng" trở thành "phải hình thành lương tâm theo". Ủy ban trách nhiệm đã bác bỏ đề nghị này với lý do là nó quá khắt khe. Câu nguyên thủy được giữ nguyên như trong bản sau cùng (đoạn 14). Thí dụ này cho thấy dù công đồng kêu gọi người Công Giáo phải tán thành với các dạy dỗ của giáo hội, người ta công nhận rằng người Công Giáo có trách nhiệm cá nhân trong việc hình thành lương tâm. Người Công Giáo không phải là người máy được điều khiển bởi Vatican.

Tôi vừa cố gắng công thức hóa một số quy tắc nền tảng cho sự bất đồng với giáo huấn mà nó phù hợp với quan điểm chính thức. Từ quan điểm đó, sự bất đồng có trách nhiệm và chính đáng đòi hỏi người Công Giáo phải:

  1. có một thái độ cởi mở, kể cả việc sẵn sàng phục tùng giáo huấn của giáo hội;
  2. không thách đố khả năng giảng dạy của giáo hội;
  3. điều tra nghiên cứu vấn đề đến một mức độ hợp lý nào đó, kể cả lý lẽ đằng sau giáo huấn của giáo hội;
  4. sẵn sàng tiếp thu ý kiến mới và sẵn sàng chịu thử thách bởi lập trường của giáo hội trong từng giai đoạn;
  5. không xúc phạm đến luân lý của người khác khi xúi giục họ cũng bất đồng như mình.

Những quy tắc căn bản này có thể hữu ích để xác định tính cách trách nhiệm của sự bất đồng thuộc vài vấn đề nào đó khi được thắc mắc. Tuy nhiên, chúng không đủ chính xác để xét xem chính sự bất đồng ấy tự nó có tính cách trách nhiệm hay không. Hầu hết các bất đồng trong giới Công Giáo tại Hoa Kỳ đều không hội đủ tiêu chuẩn với các quy tắc căn bản nêu trên, tuy nhiên cá nhân tôi cũng không dám coi đó là những bất đồng vô trách nhiệm.

Thí dụ, một số người Công Giáo bất đồng với sự giảng dạy của giáo hội về thuốc ngừa thai, nhưng họ hội đủ các tiêu chuẩn này. Cũng có những người cố chấp và hiển nhiên họ thuộc loại vô trách nhiệm. Tuy nhiên, phần lớn những người Công Giáo Hoa Kỳ bất đồng với giáo hội về vấn đề ngừa thai nhân tạo thì họ không hội đủ tiêu chuẩn nói trên nhưng cũng không dễ bị coi là vô trách nhiệm.

Nhiều người Công Giáo thấy rằng phương pháp Điều Hòa Sinh Sản Tự Nhiên có lợi hơn thuốc ngừa thai nhân tạo; tuy nhiên, phần đông người Công Giáo không đồng ý với quan điểm này. Trong giới Công Giáo Hoa Kỳ, ảnh hưởng của vấn đề này trong quá khứ đã khiến sự bất đồng trở nên quá phức tạp, không thể dùng bất cứ tiêu chuẩn nào có sẵn để phán đoán. Kiểm soát sinh sản là vấn đề đầu tiên bị phần lớn giáo dân bất đồng. Ngày nay, nó là một dấu hiệu cho thấy cần phải để ý đến phương cách mà qua đó giáo hội phải giảng dạy và phương cách mà qua đó người tín hữu phải phản ứng. Hầu hết những người Công Giáo bất đồng vì họ cho rằng sự giảng dạy này can thiệp vào lối sống của họ và không có ý nghĩa đối với họ. Nếu coi sự bất đồng của họ là vô trách nhiệm thì quá đơn giản. Ở mức độ sâu xa hơn, có sự khó khăn trong việc truyền đạt, mà mỗi bên cần lắng nghe cách tường tận và tế nhị hơn khi lên tiếng nói.

Tóm Lược

Trong chương này, chúng ta vừa thăm dò tầm quan trọng của tín điều, mức độ khác nhau của chân lý, tương quan giữa sự tán thành và bất tuân, và một số quy tắc nền tảng cho những bất đồng có trách nhiệm. Do đó, nhiều sinh viên của tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi họ nghe rằng sự bất đồng có thể chính đáng; tôi không thể làm gì khác hơn là nghĩ về phạm vi của các điều tin tưởng, các thái độ, và các lối đối xử mà họ muốn bào chữa qua sự giải thích hợp lý. Tuy nhiên, tôi sẽ lo lắng hơn nếu các sinh viên này coi thường trách nhiệm khi nghĩ về chính mình.

Trong chương kế, chúng ta sẽ nghiên cứu tình trạng thay đổi của giáo dân trong giáo hội.

Câu Hỏi Suy Tư

  1. Bạn nhận thấy sự biến chuyển về hình ảnh chức linh mục theo phương cách nào?
  2. Bạn có nghĩ là khi Vatican II được hiểu biết hơn, chức linh mục lại có được sự quý trọng mới mẻ?
  3. Những giải pháp nào của Dean Hoge để giải quyết sự thiếu hụt linh mục mà bạn thích nhất? Giải pháp nào bạn ít thích nhất?
  4. Bạn có nghĩ là sự đòi hỏi sống độc thân sẽ được thay đổi?
  5. Sự thiếu hụt linh mục có nhất thiết là một điều xấu không?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com