|
Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ
Chương 19: CÁC TU HỘI
ột sinh viên hỏi tôi tại sao có người đi tu làm thầy thay vì làm linh mục. Ngay lúc ấy tôi nhớ có lần tôi hỏi một thầy dòng là người dậy môn khoa học ở trung học. Tôi cũng chỉ nhớ mang máng câu trả lời của thầy là vì nó có liên hệ đến ơn gọi khác nhau của từng người.
Ngay sau đó tôi buột miệng trả lời cho anh sinh viên: Để sống trong một cộng đoàn cùng với những người có chung một mục đích và quyền lợi thì thật sung sướng. Trong một vài quãng thời gian trong đời, nhất là ở trung học và đại học, tôi là phần tử của một nhóm thân hữu tích cực hỗ trợ lẫn nhau. Thật tuyệt diệu khi được sống với những người thân quen và coi như trong gia đình. Người ta có thể cảm thấy bị thu hút đến một cộng đoàn dựa trên nếp sống tôn giáo mà không phải là linh mục.
Tuy nhiên, khi nói như vậy, tôi thấy câu trả lời ấy thật cá biệt, thật thích hợp nhưng không đầy đủ và cục bộ. Tôi chỉ đề cập đến vài điểm: Các tu hội có thể là môi trường hấp dẫn mà trong đó người ta sống cho nhiều lý do. Sự hấp dẫn này có thể là một phần của ơn gọi đích thật để sống một cuộc đời như thế. Tuy nhiên, câu trả lời của tôi nhắm quá nhiều đến sự hấp dẫn của đời sống cộng đồng đến độ quên đi các lý do tôn giáo đặc biệt khiến người ta chọn đời sống ấy. Phải, đời sống chung có thể hấp dẫn; vậy tại sao không đơn giản sống chung với nhau? Tại sao lại sống trong một cộng đồng được thiết lập bởi một môn đệ của Chúa Giêsu Kitô?
Trong Chương Này
Chương sáu của Lumen Gentium (cùng với đoạn 42 chương 5) đưa ra nhiều lý do tại sao nhiều người muốn sống ơn gọi trong một cộng đồng tôn giáo như "anh chị em" với nhau. Những lý do này không làm giảm đi sự hấp dẫn của đời sống cộng đồng, nhưng chúng đem lại một căn bản sâu xa hơn. Đời sống tôn giáo bao gồm sự tương trợ, sự thân thiện, và lối sống đầy khích lệ. Tuy nhiên trong chương này chúng ta sẽ thăm dò các động lực sâu đậm hơn dựa trên một nền tảng của một số suy tư có tích cách kinh thánh, lịch sử và hiện đại.
Tình Yêu Khác Thường
Trong truyền thống Công Giáo từ trước đến nay, vì có nhiều phương cách để theo Chúa Giêsu, nên thật thích hợp để phân biệt giữa nhiều bậc sống khác nhau trong giáo hội. Mỗi con đường môn đệ, dù đó là giáo dân, giáo sĩ, hay tu sĩ nam nữ, được hoạch định cho những người thực sự muốn theo Chúa Giêsu. Tuy trên thực tế ít khi có một cái nhìn lý tưởng rõ ràng, giáo dân đại diện cho những người muốn theo Chúa Kitô nhưng không muốn từ bỏ đời sống hằng ngày; giáo sĩ đại diện cho nhóm lãnh đạo của mười hai tông đồ là những người gánh lấy thẩm quyền của Chúa Giêsu; tu sĩ nam nữ đại diện cho những người từ bỏ một số điều của thế gian vì họ ao ước muốn theo Chúa Giêsu. (Dĩ nhiên, nhiều phần tử của các tu hội cũng là các linh mục; các linh mục giáo phận, ngược lại, đôi khi còn được gọi là các linh mục "đời").
Lumen Gentium 42, là đoạn kết của chương năm nhưng nó lại mở đầu cho chương sáu, nói về tình yêu được trông đợi nơi mọi Kitô Hữu. Tất cả Kitô Hữu được mời gọi để chấp nhận thánh ý của Thiên Chúa. Dấu chỉ của tinh thần môn đệ đích thực ấy là tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân.
Sau đó đoạn này tiếp tục nói về một số hình thức đặc biệt của tình yêu. Sự tử đạo được diễn tả như một "món quà ngoại lệ và là dấu chỉ trọn vẹn nhất của tình yêu." Nó là một phương tiện biến đổi nên hình ảnh của Chúa Giêsu là Người đã thực sự chấp nhận cái chết để cứu chuộc nhân loại. Tất cả Kitô Hữu phải sẵn sàng tử đạo.
Ngay sau đoạn về sự tử đạo là hai câu đề cập đến các lời khuyên phúc âm về sự khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Sự liên hệ của các đức tính này với sự tử đạo đã bắt nguồn sâu xa trong truyền thống Công Giáo: Chết vì đức tin được gọi là "tử đạo đỏ," và đời sống phù hợp với các lời khuyên phúc âm từng được gọi là "tử đạo trắng." Sống theo các lời khuyên phúc âm tượng trưng cho một hình thức tử đạo trong đó buộc phải từ khước hay "chết đi" một số giá trị trần tục nào đó.
Tất cả Kitô Hữu được mời gọi để khước từ chủ nghĩa duy vật và hưởng thụ và lưu tâm đặc biệt đến người nghèo; tất cả được mời gọi để sống khiết tịnh cho tới mức độ mà sinh hoạt tình dục được dành riêng cho những hoàn cảnh thích hợp; tất cả được mời gọi để vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Điều phân biệt những người gia nhập tu hội và có lời khấn là hình thức đặc biệt gắn bó với các nguyên tắc này. Tuy các tu hội khác nhau về sự giải thích, một cách căn bản lời mời gọi sống khiết tịnh đối với họ là lời mời sống độc thân; lời mời khó nghèo là kêu gọi không làm chủ bất cứ gì nhưng trao lại tất cả cho cộng đồng; lời mời vâng phục là kêu gọi khước từ ý riêng để chiều theo ý của bề trên. Những nguyên tắc này được tôn trọng không chỉ vì đó là nguyên tắc nhưng vì chúng có thể giúp người ta sống một cuộc đời dựa trên tình yêu.
Từ Bỏ Mọi Sự
Lumen Gentium vừa nhấn mạnh đến lời mời gọi nên thánh chung cho Kitô Hữu trong mọi bậc sống và vừa tái xác định bản chất đặc biệt của các lời khuyên phúc âm. Ở đó có một số giằng co giữa một đằng là sự nhận thức rằng: một giáo dân được mời gọi để theo đuổi và cảm nghiệm sự thánh thiện một cách sùng tín và hăng say như bất cứ Kitô hữu nào, và đằng khác, sự nhận thức rằng đời sống trong tu hội thì đặc biệt hơn hay anh hùng hơn ở phương cách nào đó. Các học giả kinh thánh mới đây vừa đưa ra một số quan niệm đáng lưu ý về sự căng thẳng này.
Một vài câu chuyện trong Tân Ước đưa ra một tương phản giữa lối sống bình thường và lối sống quyết liệt hơn dựa trên ý định theo Chúa Giêsu. Học giả Kinh Thánh John Meier lý luận rằng các câu chuyện như thế nhằm phân biệt giữa một người Do Thái Giáo tuân giữ lề luật và một người theo Chúa Kitô. Trong cái nhìn này, các câu chuyện ấy có thể được coi như áp dụng cho mọi Kitô Hữu trong một ý nghĩa nào đó.
Thí dụ, câu chuyện của người thanh niên giầu có trong Mátthêu 19:16-22. Anh hỏi Chúa Giêsu anh phải làm gì để được sự sống đời đời. Lúc đầu Chúa Giêsu trả lời là anh phải giữ mười điều răn. Anh trả lời là anh đã giữ các điều răn từ khi còn nhỏ; anh còn phải làm gì nữa? Sau đó Chúa Giêsu nói anh phải bán tất cả những gì anh có, đem tiền ấy tặng cho người nghèo, và theo Người. Nghe vậy anh buồn rầu và bỏ đi. Trong Máccô 10:29-30, sau câu chuyện của người thanh niên giầu có, Chúa Giêsu còn nói rằng, "Thật Thầy bảo thật anh em, không ai từ bỏ nhà cửa, hay anh chị em, hay cha mẹ, hay con cái, hay đất đai vì Thầy và vì phúc âm mà lại không được gấp trăm lần hơn ở đời này."
Như Meier giải thích câu chuyện trên, người thanh niên giầu có đại diện cho bất cứ người Do Thái nào của thế kỷ thứ nhất phải đối diện với thử thách khi theo Chúa Giêsu. Tuân giữ luật lệ thì tốt; để trở nên một môn đệ của Chúa Giêsu là chu toàn điều mà luật lệ ấy muốn nói. Tuy nhiên, trở nên một môn đệ có thể bị tẩy chay bởi chính gia đình và mất mát di sản. Vì vậy đoạn này được giải thích là nói về tinh thần môn đệ Kitô Hữu và có thể áp dụng cho bất cứ Kitô Hữu nào trong bất cứ bậc sống nào.
Tuy nhiên, khi các bậc sống khác nhau được hình thành trong vòng thế kỷ thứ nhất, câu chuyện của người thanh niên giầu có lại được giải thích như sự phân biệt giữa lối sống tốt lành bình thường của giáo dân và lối sống đặc biệt theo Chúa Giêsu bằng cách từ bỏ những gì thuộc thế gian. Giải thích như vậy, đoạn này được coi như hiển nhiên đề cập đến những người có lời khấn và ám chỉ rằng con đường của họ thì đặc biệt hơn hoặc anh hùng hơn.
Tôi không từ chối bất cứ kiểu giải thích nào của câu chuyện, nhưng tôi muốn đưa sự giải thích "tôn giáo" vào khung cảnh của sự giải thích "tinh thần môn đệ" sâu đậm hơn và ngay từ đầu. Đó là, lời mời gọi nên thánh quan trọng nhất thì đối với tất cả mọi Kitô Hữu bất kể bậc sống nào. Lời mời gọi này phản ảnh sự bình đẳng căn bản trong phẩm giá tinh thần giữa tất cả những ai đã rửa tội; trong khung cảnh đó tôi nhận thấy lời mời gọi bước vào đời sống tu trì tiêu biểu cho sự từ khước một số giá trị của trần thế.
Một vấn đề tương tự được thấy trong phúc âm của Mátthêu khi Chúa Giêsu dường như hỗ trợ việc khước từ tình dục và hôn nhân: "Không phải ai cũng có thể chấp nhận được lời này, nhưng chỉ những người được ban cho. Một số người không có khả năng kết hôn vì họ được sinh ra như vậy; một số, bởi vì bị người khác làm ra như vậy; một số, bởi vì họ từ khước hôn nhân vì nước trời. Ai có thể chấp nhận điều này thì hãy chấp nhận" (Mt 19:11-12). Trong truyền thống Công Giáo đoạn này có lúc được dẫn giải như đời sống độc thân là một ơn gọi "cao hơn." Tuy nhiên, Meier vạch cho thấy đoạn này có liên hệ với việc Chúa Giêsu cấm không được ly dị và với việc Người khẳng định rằng hôn nhân là một phần trong hoạch định tạo dựng của Thiên Chúa Cha (19:3-6). Meier nói rằng "đời sống hôn nhân không ly dị hay đời sống độc thân được chọn cho Nước Trời: đây là các dấu hiệu của một cộng đồng được sống bởi sức mạnh của thời đại sắp tới" (t. 138). Như vậy có thể coi đoạn này như một xác nhận rằng hôn nhân khiết tịnh và độc thân là hai con đường tốt lành để nên thánh. Cũng như với vấn đề khó nghèo tôi thấy có một sự căng thẳng ở đây. Tôi không muốn đề nghị rằng đời sống độc thân thì cao hơn đời sống hôn nhân (tuy Thánh Tôma Aquina và phần lớn các Giáo Phụ đều tin như vậy); đồng thời tôi muốn công nhận rằng sự độc thân có thể tiêu biểu cho sự hy sinh anh hùng để một ai đó có thể từ bỏ hôn nhân vì nước trời.
Sự vâng phục là lời thứ ba của các lời khuyên phúc âm. Trong các phúc âm, Chúa Giêsu được trưng ra như một người từ bỏ cả chính ý muốn của mình để chiều theo ý của Chúa Cha, dù con đường này đưa đến cái chết. Máccô diễn tả Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu, cầu nguyện rằng, "Áb-ba, lậy Cha, mọi sự đều có thể với Cha. Xin cất chén này khỏi con, nhưng đừng theo ý con nhưng theo ý Cha" (Mc. 14:36). Chúa Giêsu cũng thách đố các môn đệ như vậy: "Có thể nào các con uống cùng một chén mà Thầy uống hay chịu thanh tẩy với cùng phép rửa mà Thầy đã chịu hay không?" (Mc. 10:38). Người khuyên bảo họ: "Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu" (Gio. 15:13).
Trong Tân Ước có thể trưng dẫn nhiều đoạn khác có liên hệ đến lời mời gọi từ bỏ thế gian một cách dứt khoát. Những phần kể trên đặc biệt đối phó với sự giầu có, tình dục, và sự lựa chọn cá nhân. Chúng tạo thành nền tảng cho các lời thề khó nghèo, khiết tịnh, và vâng phục của các thành viên của tu hội. Tuy nhiên chúng cũng hình thành nền tảng của lời mời gọi tất cả Kitô Hữu là hãy khước từ chủ nghĩa duy vật, tình dục vô luân, và một đời sống chỉ muốn thoả mãn chính mình. Chúng thực sự có liên hệ đến việc hoàn toàn từ bỏ chính mình, ngay cả cho đến chết.
Tại Sao Gia Nhập?
Hầu hết phần lớn người ta hành động vì các động lực lẫn lộn. Cùng một lúc, có thể chúng ta hoạt động vì các nguyên tắc cao cả như nghĩ đến tha nhân, muốn phục vụ Thiên Chúa, muốn góp phần cho xã hội, nhưng đồng thời cũng có thể vì sợ hãi, chán chường, tham lam và nhu cầu an toàn cá nhân. Một số biến cố trong đời đem lại cho chúng ta một chọn lựa hiển nhiên giữa các động lực; đa số thì không.
Những người gia nhập tu hội thường không để lại sau lưng tất cả các nhu cầu cá nhân và lý do riêng tư. Một nữ tu mới đây nói với tôi rằng tu hội của chị phải đối diện với khó khăn là quá nhiều người xin gia nhập chỉ vì muốn thoát khỏi cảnh gia đình xào xáo, bệnh hoạn. Đó là những ứng sinh tốt, nhưng họ cần phải vượt qua bất cứ xu hướng nào cho rằng đi tu là để thoát khỏi một thế giới mà họ không thể đối xử. Sự trốn tránh cá nhân có thể được chấp nhận như một loại động lực để gia nhập tu hội, nếu nó thực sự bao gồm ý muốn phục vụ Thiên Chúa và tha nhân vì tình yêu hy sinh.
Đoạn 44 của Lumen Gentium nói về mức độ lý tưởng để thúc đẩy một người tuyên khấn:
Thật vậy, qua bí tích rửa tội một người chết đi cho tội lỗi và được thánh hiến cho Thiên Chúa. Tuy nhiên, để một người có thể sinh nhiều hoa trái từ ơn rửa tội, qua việc tuyên khấn các lời khuyên phúc âm, họ phải có ý định giải thoát chính mình khỏi những chướng ngại đó, mà chúng có thể khiến họ mất đi nhiệt tình bác ái và sự trọn lành của việc thờ phượng Thiên Chúa. Như vậy, nhờ sự tuyên khấn các lời khuyên phúc âm, người ta được thánh hiến cách tận tụy hơn cho việc phụng vụ Thiên Chúa.
Nói cách khác, một người gia nhập tu hội là vì họ nhận thấy đời sống đó là một phương tiện tốt hơn giúp họ tận tụy trong sự yêu mến và phục vụ Thiên Chúa. Các lý do khác có thể có, nhưng đây là lý do cao cả hơn. Văn kiện cũng nói về các tu hội như "gia đình tôn giáo đem cho các phần tử sự hỗ trợ một cách vững vàng trong đời sống..." (LG 43). Đó là những hấp dẫn của đời sống trong một cộng đồng thân mật mà có thể là một lý do chính đáng để gia nhập tu hội.
Nguồn Gốc Tu Hội
Các tu hội được bắt nguồn từ sứ vụ và cái chết của Chúa Giêsu. Các tu hội cũng tìm thấy sự hỗ trợ trong thí dụ và lời khuyên của Thánh Phaolô. Các vị tử đạo của một vài thế kỷ đầu, cũng như trong suốt lịch sử cho đến ngày nay, đem lại các gương mẫu đời sống của sự hy sinh đặc biệt này.
Tuy nhiên, trong thế kỷ thứ tư, Kitô Giáo chuyển đổi từ sự thầm lặng, vì thường bị bách hại, sang một tôn giáo chính thức của đế quốc La Mã. Sự tử đạo chỉ còn dành cho các nhà truyền giáo ở nước ngoài. Kitô hữu không còn sống trong các cộng đoàn nhỏ bé và bí mật. Việc gia nhập Kitô Giáo lại có thể là một ích lợi trong đời sống công cộng.
Động lực của một đời sống tinh tuyền hơn, trái ngược với trào lưu văn hóa đời được tìm thấy trong các vị ẩn tu là những người xa lánh đời sống thành thị để ở trong sa mạc. Một số Kitô Hữu, tỉ như Thánh Antôn (k. 251-355), đã sống trong sa mạc từ lâu trước khi sự bách hại không còn nữa. Tuy nhiên, sự phát sinh của các đan viện sa mạc đầu tiên trong thế kỷ thứ tư hầu như song song với sự xuất hiện của Kitô Giáo như một tôn giáo được chấp nhận công khai. Những ai nhận thấy Kitô Giáo là một lời mời gọi cá biệt tránh khỏi thế gian thường không chỉ sống đức tin nơi thành thị.
Đời sống đan viện bành trướng khắp thời Trung Cổ. Các đan viện không chỉ như nơi ẩn náu trong sa mạc hay thôn quê, nhưng còn là các trung tâm học thuật. Các đan viện Biển Đức do Thánh Biển Đức thành lập tại Monte Casino gần Naples khoảng năm 525. Các "Quy Luật của Thánh Biển Đức" nổi tiếng là vì sự quân bình trong công việc, nghỉ ngơi, và cầu nguyện, trái với các quy luật khắt khe của các đan viện khác thời bấy giờ. Đến ngày nay, các dòng Biển Đức nổi tiếng vì phương cách tiếp cận quân bình về linh đạo và các nghi thức phụng vụ thật hay.
Có thể nói hàng ngàn dòng tu đã xuất hiện trong lịch sử giáo hội. Mỗi dòng có vị sáng lập là người được ơn đặc biệt và các lý tưởng tạo thành hướng đi và mục đích của tổ chức ấy. Dòng Đa Minh, được thành lập bởi Thánh Đa Minh, nổi tiếng về sự thuyết giảng và dậy bảo. Dòng Tên, được thành lập bởi Thánh Y Nhã Loyola nêu cao chính nghĩa Công Giáo chống với phong trào cải cách tin lành, ngày nay nổi tiếng vì các học giả của dòng và có tiêu chuẩn cao trong việc giáo dục. Dòng Phanxicô, được thành lập bởi Thánh Phanxicô để đem các lý tưởng của đan viện vào đời sống thành phố, ngày nay nổi tiếng vì những hoạt động xã hội và cho người nghèo. Dòng Maryknolls, được thành lập bởi Cha Thomas Frederich Rice và Đức Giám Mục James Edward Walsh như một tổ chức truyền giáo chính thức của Hoa Kỳ, nổi tiếng vì sự hỗ trợ các hoạt động xã hội và tinh thần trên toàn thế giới.
Dòng Đức Maria, được thành lập bởi Cha William Joseph Chaminade để đáp ứng các nhu cầu hậu Cách Mạng Âu Châu, ngày nay nổi tiếng vì những nỗ lực giáo dục, tinh thần cộng tác, các thành quả nghệ thuật, sống chung như một gia đình, sự tận tụy phục vụ, và đặc biệt sùng kính các phần tử của Thánh Gia.
Không phải tất cả các tu sĩ Phanxicô đều làm việc với người nghèo; không phải tất cả tu sĩ dòng Tên đều là học giả; không phải tất cả các tu sĩ dòng Đức Maria đều dậy học và sáng tác nghệ thuật. Các đặc tính này có liên hệ đến từng dòng, nhưng không phải mọi thành viên đều như vậy. Có thể nói rằng ngày nay mỗi dòng có tinh thần riêng, nhưng các phần tử có thể tham dự trong các sinh hoạt khác biệt. Đặc điểm công việc của các phần tử của tu hội là phần lớn họ phục vụ tha nhân. Dù đó là sứ vụ trong một giáo xứ, nhà thương, hay nhà dưỡng lão; dậy trẻ em tiểu học, trung học hay đại học; làm việc với người nghèo, nhà phát chẩn, hay huấn nghệ; làm việc ở đồng áng, khu thị tứ hay ở nước ngoài, những người tuyên khấn thường tham gia các sinh hoạt nhằm giúp đỡ người khác. Họ thi hành điều này với sự trợ giúp của nếp sống quên mình mà nguồn gốc được tìm thấy trong lịch sử của truyền thống Công Giáo.
Các Vấn Đề Hiện Nay
Các tu hội ngày nay bị choáng ngợp với nhiều thử thách và khó khăn. Trên một phương diện thực tế, có vấn đề sút giảm thành viên cùng lúc với sự gia tăng số tuổi của người tham dự. Tốn phí chăm sóc sức khỏe, về hưu, và quản lý các bất động sản thường là đề tài trong các buổi họp của tu hội.
Các phần tử của tu hội cũng phải phấn đấu để xác định căn tính của họ trong một thế giới thay đổi nhanh chóng. Thí dụ, một số tu hội chấp nhận mệnh lệnh của đức giáo hoàng là áo dòng được coi như y phục thường ngày. Các tu hội khác lại để vấn đề này tùy thuộc các tu sĩ nam nữ.
Trong thời đại chúng ta, là thời đại nhấn mạnh đến sự quan trọng của quyền tự trị của cá nhân, ý nghĩa của lời khấn "vâng phục" được đặt thành vấn đề. Có phải sự tự-hướng-dẫn để đáp ứng với lương tâm và ơn gọi của một người thì cũng quan trọng như vâng phục bề trên? Có thể nào phân biệt sự vâng phục có trách nhiệm với vâng phục mù quáng?
Ngày nay các vấn đề này thì đặc biệt quan trọng trong các tu hội nữ. Các nam tu sĩ có thể yêu cầu để trở nên một linh mục, nhưng các nữ tu có khả năng lãnh đạo lại không có sự lựa chọn này. Nhiều người ngày nay đặt lại vấn đề của một hệ thống giáo hội kêu gọi các dòng tu nữ phải lệ thuộc cơ cấu quyền bính được hình thành chỉ bởi các nam tu sĩ.
Bất cứ thách đố nào cũng đều có tính cách tiêu cực và tích cực. Nhiều người sống trong tu hội ngày nay thấy rằng họ đang sống trong thời kỳ nhiều thú vị và ích lợi. Nhiều người còn tin rằng thật khó để tìm thấy một con đường nào khác hơn để theo Chúa Kitô.
Tóm Lược
Trong chương này chúng ta vừa xem xét các lời khuyên phúc âm, các động lực gia nhập tu hội, lịch sử các tu hội, và một số vấn đề hiện thời. Lần sau khi một sinh viên hỏi tại sao người ta lại chọn làm một thầy dòng thay vì là linh mục, tôi sẽ cố không đi đến kết luận ngay. Tôi sẽ nhắc đến sự hấp dẫn của đời sống cộng đoàn, cũng như nhận xét là nhiều người có nhiều ơn gọi khác nhau. Tuy nhiên, chính yếu tôi sẽ nhấn mạnh đến nhu cầu của từng người để tìm ra phương cách tốt nhất mà trong đó họ có thể đáp lời mời gọi của phúc âm.
Trong hai chương kế tiếp, chúng ta sẽ tìm hiểu về thần học giải phóng như một phương cách tiếp cận đối với đức tin đặt trọng tâm đặc biệt trên cộng đồng.
Suy Nghĩ Thêm
- Điều gì thu hút người ta nhất để gia nhập một tu hội?
- Kinh nghiệm của bạn đối với những tu sĩ nam nữ là gì?
- "Ơn gọi" có nghĩa gì? Có phải ai ai cũng có một loại ơn gọi?
- Bạn có ngạc nhiên khi thấy một số người đi tu không phải chỉ vì các động lực tôn giáo?
- Các lời khuyên phúc âm có "kỳ cục" trong thế giới ngày nay không?

|