Theo cuốn "The Church Emerging from Vatican II: A Popular Approach to Contemporary Catholicism"
của Tiến Sĩ Dennis M. Doyle. Pt Giuse Trần Văn Nhật chuyển ngữ

Chương 2: Các Thách Đố của Giáo Hội

H

ãy tưởng tượng trong vài giây phút, bạn là vị vua đầy thế lực sống trong một lâu đài đồ sộ, tách biệt với thế giới bên ngoài. Một ngày kia có một mảnh giấy nhét dưới cổng lâu đài, nói rằng quan điểm về thế giới của bạn chưa đầy đủ. Ngày hôm sau lại có mảnh giấy khác nói bạn hoàn toàn thối nát. Ngày hôm sau nữa lại có mẩu giấy nói rằng bạn không còn tối quan trọng nữa. Rồi cứ thế, các mẩu giấy tiếp tục nói rằng bạn thực sự không biết gì cả, bạn là một nhà độc tài tàn nhẫn không biết nghe theo lẽ phải, và bạn là nhà cai trị tồi tệ đứng về phía quyền lực để đàn áp người nghèo. Dưới những hoàn cảnh như thế, có lẽ bạn sẽ trở nên nghi ngờ thế giới bên ngoài và không ít thì nhiều bạn sẽ tìm cách chống lại với những lời buộc tội ấy.

Vị vua trong câu chuyện trên có thể đại diện cho Giáo Hội Công Giáo. Những mẩu giấy tượng trưng cho các thách đố được đặt ra cho Giáo Hội qua sự phát triển của văn minh Tây Phương. Thái độ hồ nghi và tự vệ tượng trưng cho lập trường của Giáo Hội trong giai đoạn ngay trước khi có Công Đồng Vatican II.

Làm thế nào mà Giáo Hội Công Giáo có thể được ví như vị vua nói trên? Những đoạn dẫn giải sau chỉ có tính cách bao quát nhằm giải thích tại sao một giáo hội đã có hàng bao thế kỷ lại bị đe dọa ngày càng chồng chất.

Kitô Giáo khởi sự một cách lén lút, đôi khi bị bách hại. Hầu hết trong ba thế kỷ đầu, việc từ chối thờ cúng các thần La Mã là một hành động trái luật. Vào năm 313, hoàng đế Constantine ban chỉ dụ Milan tuyên bố tự do tôn giáo. Vào năm 380, Kitô Giáo trở thành tôn giáo chính thức của đế quốc La Mã. Qua nhiều năm, Giáo Hội Công Giáo du nhập nhiều cơ cấu và phẩm phục của đế quốc La Mã cũng như của xã hội phong kiến thời Trung Cổ. Vào thế kỷ mười ba, không những hầu hết thế giới Tây Phương đều là Kitô Giáo mà Giáo Hội Công Giáo còn là yếu tố duy nhất có ảnh hưởng quan trọng đến nền văn minh Tây Phương. Những quan điểm về vũ trụ, thiên nhiên, đức tin và đời sống hàng ngày trong văn hóa Tây Phương là của Kitô Giáo. Mặc dù có những cuộc tranh luận thần học sôi nổi trong suốt thời Trung Cổ, các cuộc tranh luận ấy xảy ra trong vòng quan điểm của Kitô Giáo với những giả thuyết vững như bàn thạch cho rằng: thế giới này được cứu chuộc qua sự Nhập Thể của Đức Kitô; Đức Kitô sáng lập Giáo Hội; Giáo Hội và các bí tích giúp dân chúng được thừa hưởng ơn cứu độ của Đức Kitô. Tranh luận thì nhiều nhưng không có nhiều thách đố.

Tuy nhiên, qua các thế kỷ, tổng hợp trung cổ của Giáo Hội Công Giáo phải đối diện với nhiều thử thách khiến nó bắt đầu lung lay. Vào thế kỷ mười bốn, trận dịch hạch Tử Thần Đen tàn phá hầu hết thế giới, quét sạch một phần ba dân số Âu Châu, và đặt ra nhiều vấn đề về Thiên Chúa, về sự đau khổ, và mục đích của đời sống. Trong thế kỷ mười lăm, sự thối nát lan tràn trong Giáo Hội Công Giáo đã khiến nhiều người phải lên tiếng kêu gọi cải tổ. Trong thế kỷ mười sáu, một số phong trào đòi hỏi canh tân đã quy tụ thành một tổ chức là giáo phái Tin Lành. Sự phát triển của các phong trào này lại được tiếp tay bởi nhiều yếu tố, đó là: chủ nghĩa dân tộc được phát sinh cùng lúc, sự hình thành nền kinh tế mới, và sự gia tăng hiểu biết và giáo dục do kỹ nghệ ấn loát mang lại. Những tiến triển này cũng song song với sự phát sinh thế giới "trần tục" mà thế giới ấy không trực tiếp nhờ cậy đến Giáo Hội Công Giáo. Điều này góp phần cho sự thay đổi thế giới trung cổ hoàn toàn lệ thuộc vào Giáo Hội mà trong đó chưa có thế giới "trần tục."

Trong các thế kỷ gần đây, sự phát triển của các khoa học tự nhiên và xã hội đã đề ra nhiều thách đố cho Giáo Hội Công Giáo. Thế kỷ mười bảy chứng kiến các nhà thiên văn như Galileo không chấp nhận quan điểm vũ trụ mà Giáo Hội Công Giáo dạy bảo  theo như Sáng Thế Ký đã viết. Thế kỷ mười tám lại càng nhấn mạnh hơn nữa đến lý lẽ con người, phát sinh những tư duy mới về chính trị cách mạng nhằm đặt quyền lực dân chủ vào tay người dân thay vì các bạo chúa. Vào thế kỷ mười chín, một xã hội kỹ nghệ mới được thành hình, gây nên các hình thức bóc lột mới; nhiều nhà phân tích xã hội và cải cách đã giải thích vai trò của Giáo Hội theo một giới hạn tiêu cực, họ coi Giáo Hội như một cơ chế truyền thống nhằm củng cố sự đàn áp.

Một phần nào giống như ông vua trong câu chuyện ở trên, Giáo Hội nhìn thấy các lời buộc tội dường như ngày càng chồng chất. Vào giai đoạn ngay trước khi Công Đồng Vatican II, Giáo Hội có khuynh hướng trở thành điều mà nhiều người gọi là một "thành trì tinh thần" hay một "nhà tù tinh thần," có phần nào tách biệt với sự phát triển của thế giới hiện đại.

Trong Chương Này

Mục đích của chương này là tỉ mỉ khảo sát trong khung cảnh lịch sử một số thách đố mà Giáo Hội phải đưa ra trong Công Đồng Vatican II. Sau khi đưa Công Đồng Vatican II vào hoàn cảnh lịch sử của các công đồng trước đây, chúng ta sẽ thảo luận về các thách đố mà thế giới hiện đại đã đề ra cho Giáo Hội. Sau đó, chúng ta sẽ ngắn gọn đề cập đến một số phương cách mà Công Đồng Vatican II đã trả lời các thử thách này, những câu trả lời này sẽ được nghiên cứu trong các chương kế tiếp.

Hai Mươi Mốt Công Đồng Được Công Giáo Chấp Nhận

Công Đồng Vatican II là một trong hai mươi mốt công đồng được người Công Giáo coi là đáng tin cậy. Trong các công đồng này, chỉ có bảy công đồng đầu tiên được Chính Thống Giáo Hy Lạp xác nhận,  và sau đó họ có thêm các công đồng khác của chính họ. Mỗi giáo phái Tin Lành lại chấp nhận số công đồng khác nhau.

Mặc dù không được coi là công đồng "chung", công đồng Giêrusalem--được đề cập đến trong sách Tông Đồ Công Vụ 15--bao gồm các vị lãnh đạo Giáo Hội thời tiên khởi để quyết định về một thắc mắc căn bản là vấn đề các người tòng giáo có phải tuân giữ luật Môisen hay không. Một số cho rằng phải như vậy, nhưng quyết định của công đồng lại khác.

Bảy công đồng chung đầu tiên đã thông qua các phán quyết về sách thánh và kinh tin kính và niên lịch phụng vụ, nhưng chính yếu vẫn nhằm làm sáng tỏ những gì Kitô Hữu tin tưởng về Đức Giêsu. Công Đồng Nicêa năm 325 lên án lạc giáo Arian, khi lạc giáo này cho rằng Đức Giêsu tuy cao hơn loài người nhưng vẫn kém Thiên Chúa. Công đồng tuyên xưng rằng Đức Giêsu "đồng bản thể với Thiên Chúa Cha." Công Đồng Chalcedon năm 451 bài bác những ai cho rằng Đức Giêsu chỉ có một bản tính, hoặc là con người hoặc là Thiên Chúa. Công đồng tuyên xưng Đức Giêsu là một con người với hai bản tính, nhân tính và thiên tính.

Tám công đồng kế tới được người Công Giáo xác nhận có tính cách hoàn vũ (công đồng 8 - 15) và liên hệ đến mối tương giao giữa Chính Thống Giáo Hy Lạp và Giáo Hội Công Giáo La Mã. Thí dụ, Công Đồng Constantinople IV trong năm 869-70 đã truất phế Đức Thượng Phụ của Constantinople và công đồng này góp phần trong cuộc đại ly giáo sau đó giữa Hy Lạp và Roma. Công Đồng Lyons II năm 1274 thiết lập một tái hợp ngắn ngủi giữa hai thành phần này.

Một công đồng trong thời gian đó, Latêranô III vào năm 1179, đã kết án các phong trào Tin Lành ban đầu thường được biết đến là Waldense và Albigense, và công đồng cũng kêu gọi canh tân Giáo Hội. Việc lên án các giáo phái Tin Lành và cố gắng canh tân là các động lực chính của các công đồng 16 đến 19. Công Đồng Constance năm 1414-18 nổi tiếng nhất vì đã ổn định được sự tranh chấp giữa ba người tự xưng là giáo hoàng, công đồng cũng ban bố sắc lệnh chống với những người cải cách tiên khởi là John Hus và Wycliffe. Công Đồng Latêranô V trong năm 1515-17 cố gắng chấn chỉnh các lạm dụng trong Giáo Hội sau khi đã quá nhiều người kêu gọi cải tổ, nhưng vì thiếu hành động quyết liệt nên đã làm phát sinh làn sóng Cải Cách. Công Đồng Trentô (Triđentinô), 1545-63, vừa lên án lập trường của các nhà cải cách Tin Lành vừa có những biện pháp nghiêm khắc nhằm gia tăng phẩm chất của việc chăm sóc mục vụ trong Giáo Hội. Trong các phản ứng quyết liệt chống với bất cứ gì là của Tin Lành, công đồng này đã đưa đến việc quá chú trọng các quy tắc và luật lệ mà thái độ ấy kéo dài trong Giáo Hội mãi cho đến thập niên 1960 và Công Đồng Vatican II.

Công Đồng Vatican I từ 1869-70 có văn kiện về Giáo Hội trong chương trình nghị sự, nhưng văn kiện này không được thông qua vì công đồng phải chấm dứt sớm hơn thường lệ khi cuộc chiến Pháp-Phổ bùng nổ. Tuy nhiên, công đồng này đã xoay sở để thông qua hai văn kiện rất quan trọng: văn kiện về đức tin và lý lẽ đề cập đến sự hài hòa giữa hai yếu tố này, và một văn kiện (nguyên thủy là một phần của văn kiện về giáo hội) xác định tính cách tối cao và bất khả ngộ của đức giáo hoàng.

Công Đồng Vatican II xảy ra trong khoảng 1962 và 1965. Công đồng này không được khai diễn cách liên tục, nhưng mỗi năm công đồng gặp gỡ trong khoảng hai tháng và liên tiếp trong bốn năm. Công Đồng Vatican II là công đồng thứ hai mươi mốt. Nếu không kể Công Đồng Vatican I vì chưa thực sự kết thúc, một công đồng chung đã không được triệu tập trong vòng bốn trăm năm.

Các Thách Đố Hiện Đại

Giáo Hội Công Giáo phải đương đầu với nhiều thử thách ngay trong giai đoạn trước thời Công Đồng Vatican II. Một số học giả ngày nay coi giai đoạn bốn trăm năm trước Công Đồng Vatican II là "Giai Đoạn Phản Cải Cách," với đặc tính là quá nhấn mạnh đến quy tắc và luật lệ được đưa ra bởi Công Đồng Trentô. Để vượt ra khỏi giai đoạn Phản Cải Cách mà đến với Công Đồng Vatican II, Giáo Hội cần đảo ngược thái độ bài bác Tin Lành cách quá đáng và quân bình lại cơ cấu thẩm quyền của hệ thống phẩm trật nặng ở trên đỉnh. Giáo Hội cần hàn gắn lại mối bất hòa với Chính Thống Giáo Hy Lạp. Ngoài ra, Giáo Hội cần phải đạt được sự thoả thuận trong các tương giao với Do Thái Giáo và các tôn giáo khác trên thế giới khi một cộng đồng nhân loại toàn cầu đang phát sinh.

Tuy nhiên, các thử thách nghiêm trọng lại ở ngoài lãnh vực tôn giáo. Giáo Hội phải thiết lập một quan hệ đầy mâu thuẫn với khoa học: Một đàng, Giáo Hội phải công nhận trên lý thuyết giá trị căn bản của lý lẽ con người; đàng khác, Giáo Hội đã từng do dự và ngay cả tẩy chay một số khám phá khoa học khi nhân danh việc bảo vệ đức tin. Vào thập niên 1960, điều mà nhiều người cho rằng cuộc chiến giữa khoa học và tôn giáo thì dường như khoa học đã rõ ràng chiến thắng. Các phát minh khoa học kỹ thuật có thể chữa trị nhiều bệnh tật, việc thám hiểm không gian, việc vận chuyển, các toà nhà chọc trời, và thực phẩm gia tăng. Đó là một thời kỳ lạc quan nhất trong tiến trình nhân loại mà trong đó thẩm quyền của Giáo Hội bắt đầu mất đi sự tin tưởng đối với nhiều người.

Các thách đố gay go nhất được đề ra bởi những người vô thần có thế lực. Karl Marx, triết gia của thế kỷ mười chín là người đã tiên đoán và thúc đẩy các cuộc cách mạng vô sản trên toàn thế giới, ông đã giải thích tôn giáo như những hứa hẹn hão huyền về sự sống đời sau với mục đích kềm hãm dân chúng đừng để họ chống lại sự đàn áp ngay bây giờ. Sigmund Freud, cha đẻ của phân tâm học, cho rằng Thiên Chúa và tôn giáo là những gì mà người trưởng thành cũng như nền văn minh phải khước từ. Freud cho rằng khoa học là phương cách duy nhất giúp chúng ta biết đến sự vật. Triết gia hiện sinh của Pháp là Albert Camus lý luận rằng tôn giáo thì bất lực khi đề cập đến các thắc mắc căn bản mà nhân loại phải đối diện. Sự đau khổ và sự dữ mà con người phải gánh chịu dường như cho thấy không có một Thiên Chúa đầy nhân từ và đầy quyền năng, nhưng đúng hơn là một vũ trụ vô lý mà trong đó tâm hồn con người kêu gào tìm kiếm ý nghĩa nhưng không thấy câu trả lời.

Ngay cả những người không bị hấp dẫn bởi các hình thức vô thần, những phê bình tôn giáo này thật quan trọng vì nó hùng hồn nói lên những hồ nghi và thắc mắc của một con người bình thường. Nhiều người trong thế giới hiện đại, tuy không phải vô thần, nhưng ngày càng có khuynh hướng theo bất khả tri thuyết, theo chủ nghĩa thế tục, và chủ nghĩa nhân văn. Người theo bất khả tri thuyết chủ trương rằng người ta không thể biết được có Thượng Đế hay không; người theo chủ nghĩa thế tục coi giáo hội như một điều không thích hợp; người theo chủ nghĩa nhân văn tin tưởng vào sự tốt lành của các cố gắng con người mà không nhất thiết phải dính dáng đến mục đích siêu nhiên. Đối với một số người, dường như Giáo Hội Công Giáo đang cố gắng duy trì vị thế trong chiếc thang đi xuống, trong khi toàn thể thế giới đang tiến lên.

Công Đồng Vatican II là Công Đồng Có Tính Cách Mục Vụ

Cũng như hai mươi công đồng trước đây, Công Đồng Vatican II cần đề cập đến nhiều thử thách vừa đối nội vừa đối ngoại. Tuy nhiên, không như các công đồng trước, Công Đồng Vatican II không nhằm lên án các lạc giáo qua việc công bố các giáo điều. Đúng hơn, công đồng được tiến hành trong một phong thái tích cực hơn qua những phát biểu mới nhằm xác định bản chất của mình và qua sự tiến hành việc đối thoại với thế giới hiện đại.

Chính vì lý do này mà Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nói rằng mục đích chính của Công Đồng Vatican II là aggiornamento, đó là cập nhật hoá Giáo Hội. Ngài kêu gọi công đồng phải có tính cách "mục vụ" mà không xác định thêm một giáo điều gì mới, nhưng đúng ra là để tìm hiểu xem làm cách nào giáo huấn của Giáo Hội có thể truyền đạt cách trọn vẹn hơn và được sử dụng hữu hiệu hơn.  Nói cách khác, công đồng này được triệu tập để Giáo Hội Công Giáo tự cải tiến để có thể đảm trách sứ vụ của mình một cách hữu hiệu hơn trong thế giới ngày nay.

Tuy nhiên, thật sai sót nếu quên đi phản ứng của công đồng đối với các thách đố. Mặc dù Freud và Marx và Camus không được nêu đích danh trong các văn kiện, rõ ràng là có sự cố gắng đề cập đến các vấn đề mà những nhân vật này cũng như nhiều nhà phê bình khác đã đưa ra. Hơn thế nữa, Công Đồng Vatican II còn thiết lập một hướng đi và một động lực mà qua đó Giáo Hội tiếp tục khảo sát các vấn đề tương tự trong một đường lối liên tục.

Một trong những điều vĩ đại về Công Đồng Vatican II là công đồng không chỉ bác bẻ lại những thách đố đó và quên đi; đúng hơn, công đồng đã để sự chỉ trích của họ có ảnh hưởng tích cực đến sự hiểu biết về chính Giáo Hội. Đó là, trong Công Đồng Vatican II, hiển nhiên là Giáo Hội không chỉ tự bảo vệ chính mình mà còn thăng tiến từ những thách đố đó.

Đây là điểm quan trọng, bởi vì các chỉ trích của Freud, Marx, Camus và những người khác không những tượng trưng cho các lý lẽ có tính cách lịch sử mà còn là những hồ nghi, những lưu tâm mà bất cứ ai, có đức tin hay không, rất có thể phải đối diện. Trong quãng thời gian nào đó của cuộc đời, nhiều người tự hỏi tôn giáo có phải là một sự chống đỡ về phương diện tâm lý, một công cụ để kiểm soát của các nhà lãnh đạo xã hội, hoặc một chuỗi câu trả lời khi chúng ta thực sự có câu hỏi chính đáng.

Giáo Hội thoát thai từ Công Đồng Vatican II với nhiều lưu tâm rõ ràng về quyền tự trị của con người và sự trưởng thành của đức tin, về tiến bộ nhân loại và sự thay đổi cơ cấu xã hội, về sự bí ẩn không thể hiểu của đời sống và nhận ra nhu cầu của Giáo Hội là cần phải tiến hành việc tự-phê-bình. Mặc dù đạo Công Giáo trước thời Công Đồng Vatican II có nhiều khía cạnh tốt đẹp, Giáo Hội thời hậu Công Đồng Vatican II lại càng tốt đẹp hơn khi được trang bị để đối phó với những chỉ trích về tôn giáo, để thực sự lưu tâm đến những vấn đề chính đáng, và để phát triển từ những va chạm đó.

Tóm Lược

Trong chương này, chúng ta vừa nhìn đến cách Giáo Hội phát triển từ "thành trì tinh thần" trước thời Công Đồng Vatican II. Sau đó chúng ta thử nhìn đến Công Đồng Vatican II trong khung cảnh của các công đồng trước và các thách đố của thời đại. Sau cùng chúng ta nhìn đến Công Đồng Vatican II như một công đồng mục vụ cần phải đề cập đến nhiều vấn đề nhằm cập nhật hoá Giáo Hội. Trong chương kế tới, chúng ta sẽ làm quen với mười sáu văn kiện của Công Đồng Vatican II, và đặc biệt lưu tâm đến văn kiện Lumen Gentium (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội) và Gaudium et Spes (Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay), hai văn kiện này sẽ làm nền tảng sắp xếp cho các chương còn lại của cuốn sách.

Câu Hỏi Suy Tư

  1. Hình ảnh nào và ý nghĩ nào bạn liên tưởng đến Giáo Hội thời trước Công Đồng Vatican II? Chúng tích cực hay tiêu cực?
  2. Trong các thử thách của Giáo Hội Công Giáo, thử thách nào bạn cho là trầm trọng nhất?
  3. Trong các thử thách của Giáo Hội Công Giáo, thử thách nào tiêu biểu cho các thắc mắc, nghi ngờ, và lưu tâm của chính bạn?
  4. Nếu dân chúng không biết đến các thử thách của Giáo Hội, họ có lợi hơn không?
  5. Làm thế nào mà Giáo Hội được lợi ích khi coi trọng sự chỉ trích của những người vô thần?

Xem Tiếp

Copyright © 2007 by www.nguoitinhuu.com