Chương 1: MỘT HIỆN DIỆN ĐÁNG SỢ

K

hi đang thong thả dạo bước trên lối mòn đá sỏi của khu vườn trong khuôn viên căn nhà, tôi thấy lòng hơi quặn thắt. Lúc ấy đã chập choạng tối. Mùi hoa thủy tiên nở muộn còn nồng nàn trong không khí. Tôi tự hỏi, không biết có điều gì khiến tôi khó chịu?

Tôi dừng bước và nhìn quanh. Cách một thảm cỏ rộng là căn nhà của tôi mà trong đó các người đầy tớ bắt đầu lên đèn chuẩn bị bữa ăn tối. Bên ngoài, tất cả dường như êm đềm và yên tịnh. Tôi giơ tay hái vài bông hoa trắng để chưng trong phòng ngủ. Khi chồm tới trước để vói một cành trên cao thì dường như có vật gì quét ngang qua đầu tôi.

Sững người lại vì lo sợ. Tôi tự hỏi cái gì vậy? Một cụm khói như sương mù lơ lửng lướt qua--một hiện diện lạnh lẽo, ẩm ướt và ma quái. Khu vườn dường như tối sầm lại. Làn gió lạnh thổi tung các cành liễu rũ làm tôi rùng mình.

Hãy bình tĩnh, Bilquis! Tôi nhủ thầm. Trí tưởng tượng của mình đang đánh lừa mình. Dầu sao, tôi cũng hái vội mấy bông hoa và nhanh chân đi về căn nhà chắc chắn là ấm cúng. Ở đó, các bức tường dầy bằng gạch trắng và những cánh cửa bằng lim rắn chắc là một bảo đảm an toàn. Khi vội vã bước trên lối mòn đá sỏi tôi thấy mình ngoái đầu lại nhìn. Tôi thường hay cười nhạo khi nói về siêu nhiên. Dĩ nhiên là chẳng có gì ngoài đó. Có phải không?

Như để trả lời, tôi cảm thấy một cái đập nhẹ thân mật, lạ lùng vào cánh tay phải của mình.

Tôi hét lên. Tôi chạy vội vào nhà và đóng sầm cánh cửa lại. Các đầy tớ chạy đến, ngại ngùng không dám lên tiếng, vì có lẽ lúc ấy chính tôi cũng giống như một con ma. Mãi cho đến khi đi ngủ tôi mới lấy lại can đảm để kể cho hai người tớ gái nghe về sự hiện diện lạnh lùng đó. "Mấy đứa có tin ở những chuyện siêu nhiên không?" Tôi lên tiếng hỏi để kết thúc câu chuyện. Cả hai đứa, Nur-jan và Raisham, một người là Hồi Giáo, người kia là Kitô Giáo, đều tránh trả lời câu hỏi của tôi, nhưng tay của Nur-jan run lên bần bật, nó hỏi tôi có muốn gọi "mullah" (mu-la), tu sĩ của ngôi đền Hồi Giáo trong làng đến tẩy rửa khu vườn này bằng nước phép không. Nhưng bản tính của tôi là không tin vào những chuyện siêu nhiên. Hơn nữa, tôi cũng không muốn tin này lan ra trong làng. Tôi cố nhoẻn miệng cười với nó và bảo tôi không muốn bất cứ thầy chú nào giả bộ trừ ma quỷ trong khu đất của tôi cả. Tuy nhiên, sau khi hai đứa ra khỏi phòng, tôi thấy mình cầm cuốn kinh Koran lên. Nhưng sau khi cố gắng lướt qua một vài trang sách thánh của Hồi Giáo, tôi ngáp dài và ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, tôi uể oải thức giấc như người bơi lội cố trồi lên mặt nước, tiếng tụng kinh làm tôi bừng tỉnh:

"Laa ilaaha illa Ilaah
Muhammed resolu'lla!"

Những lời tụng kinh xuyên qua bức rèm ở khung cửa sổ phòng ngủ:

"Không có Thiên Chúa, chỉ có Ala:
Và Môhamét là Thiên Sứ của người."

Thật là một âm thanh đầy an ủi, người Hồi Giáo gọi đây là lời cầu nguyện vì nó dường như thật tự nhiên sau một đêm dài. Đó là tiếng gọi mà tôi đã từng nghe mỗi buổi sáng trong 46 năm qua. Tôi có thể hình dung ra nơi phát xuất tiếng kinh này.

Trước đó ít phút, trong ngôi làng Wah nhỏ bé ở gần đó, một thầy tu già giữ nhiệm vụ báo giờ vội vã đi qua cánh cửa dưới chân tháp cũ kỹ. Bên trong ngôi tháp lạnh lẽo đó ông khó nhọc bước trên các bậc đá lồi lõm, được nhẵn nhụi phần nào bởi các đôi dép của nhiều thế hệ thầy tu. Đến đỉnh tháp, tôi có thể hình dung ra ông đang khó nhọc đẩy cánh cửa nặng nề bằng gỗ tếch dẫn vào một căn phòng và dừng chân lấy hơi. Sau đó, bước ra ngoài lan can, ông ngửa cổ hít một hơi dài, cất lên những âm điệu đã hơn 1,400 năm để kêu gọi tín hữu cầu nguyện:

"Hãy cầu nguyện, hãy đến với sự cứu độ,
Cầu nguyện thì tốt hơn là giấc ngủ."

Tiếng kêu ấy xuyên qua đám sương mù buổi sáng đang vắt ngang các con đường đá vụn ở làng Wah vẫn còn lạnh lẽo sau những đêm tháng Mười, và trôi đến khu vườn nhà tôi rồi lượn theo bức tường đá cũ mà giờ đây đang hoe đỏ dưới ánh bình minh.

Khi tiếng kinh sau cùng còn âm vang, tôi nhớ lại cảm giác kỳ lạ trong khu vườn tối hôm qua, và cảm giác ấy tan biến mau chóng vì các thói quen thân thuộc của một buổi sáng. Tôi ngồi dậy và cầm chiếc chuông vàng trên bàn cẩm thạch gần giường ngủ. Khi tiếng chuông vừa leng keng, như thường lệ Nur-jan vội vã mở cửa bước vào. Cả hai người đầy tớ ngủ trong căn phòng bên cạnh và tôi biết chúng đã thức giấc cả giờ đồng hồ trước đó, chờ tôi gọi. Uống trà buổi sáng khi còn trên giường ngủ là điều bắt buộc phải có. Nur-jan bắt đầu bầy ra các chiếc lược bằng bạc. Nó là một thiếu nữ tốt bụng, người đầy đặn và hay cười khúc khích, nhưng hơi vụng về. Khi nó làm rơi chiếc lược, tôi la mắng nó một cách thậm tệ.

Raisham, cũng là một đầy tớ, lớn tuổi hơn và ít nói hơn, một phụ nữ cao và duyên dáng, bước vào phòng với khay trà trên tay. Cô đặt khay trà trên chiếc bàn nhỏ, và rót cho tôi một chén trà còn nóng hổi.

Nhắp một ngụm trà thượng hạng, tôi gật gù thoả mãn; trà thì tốt hơn sự cầu nguyện. Mẹ tôi có lẽ phải sửng sốt nếu biết được ý nghĩ ấy. Biết bao lần tôi nhìn thấy bà trải chiếc thảm nhỏ ngay trên sàn phòng ngủ, sau đó, mặt hướng về thành thánh Mecca, bà thành khẩn phủ phục trên thảm trong tư thế cầu nguyện. Nhớ đến mẹ, bất giác tôi quay nhìn tủ quần áo. Các kiểu thời trang của nhiều thế kỷ trước với những chiếc dép gỗ trạm bạc, từng thuộc về mẹ tôi và bà nội của tôi, giờ đây nó là của gia truyền để tôi gìn giữ. Sau khi uống xong hai chén trà tôi nghiêng người tới trước, đó là dấu hiệu cho Raisham bắt đầu chải mớ tóc bạc dài tới thắt lưng của tôi trong khi Nur-jan thận trọng dũa móng tay cho tôi.

Vừa làm việc, chúng vừa tự nhiên chuyện trò về những gì xảy ra trong làng, Nur-jan nói luyên thuyên và Raisham thận trọng đưa lời nhận xét. Họ nói về một đứa con trai rời nhà lên tỉnh và một cô gái sắp sửa lấy chồng. Và rồi chúng tranh luận về vụ giết người xảy ra trong thành phố kế cận là nơi dì của Raisham sinh sống. Tôi có thể cảm thấy Raisham rùng mình khi nghe tin ấy. Vì nạn nhân là một Kitô Hữu. Đó là một thiếu nữ sống trong khu nhà truyền giáo. Ai đó tình cờ thấy xác của cô nằm vất vưởng trên một những con đường mòn chằng chịt trong làng. Lẽ ra phải có cuộc điều tra của sở cảnh sát.

"Có tin tức gì về cô bé đó không?" tôi bất thần lên tiếng.

"Thưa bà không," Raisham nhỏ nhẹ trả lời vừa thận trọng bện mớ tóc của tôi lại. Tôi có thể hiểu tại sao Raisham, cũng là một Kitô hữu, lại không muốn nói về vụ giết người này. Chính cô và cả tôi nữa cũng đã biết ai đã giết cô bé đó. Nói cho cùng, cô bé này đã từ bỏ đạo Hồi để rửa tội trở thành một Kitô hữu. Do đó anh của cô, điên tiết vì sự xấu hổ mà gia đình phải gánh chịu vì hành động "tội lỗi" này, đã thi hành một điều luật cổ xưa của tín đồ là họ phải bị giết khi bỏ đạo.

Mặc dù các luật lệ của Hồi Giáo có thể khắc nghiệt và tàn nhẫn, nhưng thường được dịu bớt vì cách dẫn giải với lòng thương xót. Tuy nhiên luôn luôn có những người cuồng nhiệt tuân thủ kinh Koran theo nghĩa đen của từng chữ.

Mọi người đều biết ai là kẻ sát nhân. Nhưng chẳng có điều gì được thi hành. Từ trước đến nay là như vậy. Một năm trước đây, xác một Kitô hữu phục dịch cho các nhà truyền giáo được tìm thấy trong cái hố, cổ bị cắt lìa, và cũng chẳng ai làm gì cả. Tôi gạt câu chuyện của cô bé gái sang một bên và chuẩn bị đứng dậy. Các người đầy tớ vội vã chạy đến phòng quần áo và đem ra vài chiếc váy xari bằng lụa để tôi chọn. Tôi chỉ tay vào một chiếc váy có đính châu báu và sau khi giúp tôi quấn xari, họ lặng lẽ cúi đầu ra khỏi phòng.

Ánh nắng đã chan hòa khắp phòng ngủ, biến các bức tường trắng và bộ bàn ghế màu ngà thành màu vàng óng ả. Tia mặt trời lấp lánh từ chiếc khung vàng của tấm ảnh ở bàn trang điểm khiến tôi chú ý. Tôi giận dữ bước lại cầm nó lên, vì mấy ngày trước đó tôi đã úp tấm ảnh lại, và có lẽ một trong hai người đầy tớ lại dựng ảnh lên. Trong cái khung trạm trổ hoa hòe ấy là hình của một đôi vợ chồng thượng lưu đang mỉm cười khi họ ngồi trong một nhà hàng sang trọng ở Luân Đôn.

Dù khó chịu tôi lại nhìn đến tấm ảnh một lần nữa, như một người đau răng cứ tiếp tục ấn vào chiếc răng đau. Người đàn ông bảnh bao với hàng ria rậm đen và cặp mắt thiết tha ấy từng là chồng của tôi, tướng Khalid Sheikh. Vậy mà sao tôi vẫn giữ tấm ảnh này! Nỗi oán hờn lại trào dâng trong lòng khi tôi nhìn đến người đàn ông mà trước đây tôi nghĩ rằng không thể nào sống nổi nếu không có ông ta. Khi tấm ảnh này được chụp cách đây sáu năm, Khalid là Tổng Trưởng Nội Vụ của Pakistan.

Người phụ nữ đẹp một cách quyến rũ ngồi bên cạnh ông ấy chính là tôi. Là con gái của một gia đình Hồi Giáo thủ cựu với trên bảy trăm năm làm quý tộc trong vùng khí hậu ôn hòa là tỉnh Biên Giới Tây Bắc mà trước đây từng là một tỉnh của Ấn Độ, tôi thường đón tiếp các nhà ngoại giao cũng như các nhà tư bản đến từ khắp nơi trên thế giới. Tôi cũng thường lưu trú ở Ba Lê và Luân Đôn, là nơi tôi tiêu thời giờ bằng cách đi mua sắm trên con phố "Rue de la Paix" hay ở khu Harrods sang trọng. Người phụ nữ mảnh mai đang mỉm cười trong hình cũng không còn nữa, vừa suy nghĩ tôi vừa nhìn mình trong gương. Làn da trắng mềm mại đã thành nâu sậm, mái tóc đen óng ả giờ đây đã nhiều chùm tóc bạc, và ước mộng không thành đã tạo nên những nếp hằn sâu trên khuôn mặt.

Thế giới trong tấm ảnh đã vụn vỡ năm năm trước đây, khi Khalid bỏ rơi tôi. Đau khổ vì nỗi nhục ấy, tôi từ giã đời sống thượng lưu ở Luân Đôn, Ba Lê và Rawalpindi để ẩn náu một cách thanh thản trong vùng đất của tổ tiên tôi nằm dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn. Khu bất động sản này bao gồm làng Wah ở ven đồi là nơi tôi có nhiều kỷ niệm đẹp trong thời thơ ấu. Làng Wah được bao bọc bởi vườn tược và cây ăn trái mà tổ tiên tôi đã gầy dựng nên. Và một ngôi nhà nguy nga bằng đá với các ngọn tháp, sân thượng và các thư phòng đồ sộ mà nó cũng cổ kính như các ngọn tuyết trắng chập chùng ở phía tây. Tuy nhiên, dì tôi cũng muốn sống trong dinh thự này và thích sống tách biệt, do đó tôi di chuyển sang một căn nhà nhỏ hơn mà gia đình tôi đã xây ở ngoại vi làng Wah. Căn nhà này được đính vào mười hai mẫu vườn tược như một viên ngọc, với phòng ngủ trên lầu và phòng khách, phòng ăn và phòng trò chuyện ở tầng dưới, nó hứa hẹn một nơi khuây khoả cần thiết cho tôi.

Không chỉ có thế. Vì khi mới đến, phần lớn khu vườn đã xanh um. Đây là điều may mắn vì tôi có thể chôn vùi sự sầu muộn trong lớp đất mầu mỡ mà tôi nhất quyết khôi phục lại. Tôi biến một ít đất trong mười hai mẫu thành khu vườn chính với các bức tường và các luống trồng hoa, phần đất còn lại tôi để nó phát triển tự nhiên. Từ từ, khu vườn với các con suối róc rách đã trở nên thế giới riêng biệt của tôi mãi cho đến lúc đó, năm 1966, tôi nổi tiếng là một người ẩn dật, tự tách mình ra khỏi thành phố và ẩn mình giữa các luống hoa.

Tôi úp tấm ảnh xuống và nhìn về làng Wah qua khung cửa sổ phòng ngủ. Wah, cái tên có nghĩa là tiếng reo vui. Nhiều thế kỷ trước, khi nơi đây là một thôn nhỏ, theo truyền thuyết, hoàng đế Akbar du hành qua đây và đã cùng đoàn tùy tùng dừng chân nghỉ ngơi cạnh một con suối mà giờ đây đang bao quanh khu nhà của tôi. Ông sung sướng bước vào đám dương liễu và thốt lên một cách vui mừng, "Wah!" và tiếng kêu ấy đã mãi mãi trở thành tên của khu vực.

Nhưng ký ức về quang cảnh này không làm mất đi cái cảm giác kỳ lạ vẫn ám ảnh tôi vào tối hôm trước.

Dầu sao, tôi cũng cố quên đi khi đứng trước cửa sổ. Một sáng nữa lại đến, tôi nhủ lòng, một ngày êm đềm với những quen thuộc và nắng ấm. Tình tiết của đêm hôm qua dường như có thật, nhưng đã xa vắng như một ác mộng. Tôi kéo chiếc màn trắng sang một bên để hít một hơi dài bầu không khí trong lành của sáng sớm, để nghe tiếng sột soạt quét nhà trên vỉa hè, để ngửi thấy hương thơm của củi cháy từ một lò bếp nấu sớm, và để nghe tiếng ầm ì đều đặn của cối xay chạy bằng sức nước đang vẳng lại từ xa. Tôi thở dài khoan khoái. Đó là làng Wah, đó là nhà của tôi, nói cho cùng, đó là một nơi an toàn. Đây cũng là nơi hoàng tử Nawab Muhammad Hayat Kahn, một địa chủ thời phong kiến, từng sống cách đây bảy trăm năm. Chúng tôi là hậu duệ trực tiếp của ông và gia tộc tôi nổi tiếng khắp Ấn Độ là dòng họ Hayat ở Wah. Nhiều thế kỷ trước đây, các đoàn lữ hành của các vua chúa thường tách khỏi con đường Đại Thụ để đến thăm tổ tiên của tôi. Ngay cả khi tôi còn nhỏ, các bậc vị vọng từ khắp Âu Châu và Á Châu cũng đi cùng một con đường mà trước đây là con đường xuyên Ấn, để đến thăm gia đình tôi. Nhưng giờ đây, thường chỉ có người nhà mới rẽ vào con đường ấy để thăm tôi. Dĩ nhiên, điều này có nghĩa tôi không còn gặp những người ngoài gia tộc nữa. Tôi không còn lưu tâm nhiều nữa. Mười bốn gia nhân trong nhà cũng đã đủ bận rộn. Họ và tổ tiên của họ đã phục vụ gia tộc tôi trong nhiều thế hệ. Quan trọng nhất là tôi còn có cháu Mahmud.

Mahmud là cháu ngoại của tôi, nó được bốn tuổi. Mẹ nó, Tooni, là con út trong ba người con. Là một phụ nữ mảnh khảnh duyên dáng, Tooni hành nghề bác sĩ ở bệnh viện Thánh Gia trong vùng Rawalpindi gần đó. Chồng cũ của nó là một chủ đất có thế lực. Tuy nhiên, hôn nhân của họ không có hạnh phúc và sự tương giao ngày càng vụn vỡ. Trong những thời kỳ bất hoà cay đắng và lâu dài nhất, Tooni thường gửi Mahmud cho tôi giữ để vợ chồng nó giải quyết vấn đề. Một ngày kia, Tooni và chồng nó đến gặp tôi. Có thể nào tôi giữ bé Mahmud, lúc ấy mới một tuổi, cho đến khi vợ chồng giải quyết xong các bất đồng không?

"Không," tôi cương quyết. "Mẹ không muốn nó trở thành trái banh lông. Nhưng mẹ sẵn sàng nhận nó làm con nuôi và coi nó như con ruột." Thật đáng buồn, Tooni và chồng không thể nào ổn thỏa các bất đồng và sau cùng họ đã ly dị. Tuy nhiên, chúng đồng ý cho tôi nhận Mahmud làm con nuôi. Tooni thường đến thăm Mahmud và cả ba chúng tôi rất thân với nhau, nhất là vì hai người con kia sống xa tôi.

Gần trưa hôm ấy, Mahmud đạp xe ba bánh trong hàng hiên dưới cây hạnh nhân. Nó đã ở với tôi trên ba năm và là một đứa bé tròn trĩnh với đôi mắt nâu sậm, cái mũi nhỏ xinh xắn từng là nguồn vui duy nhất của đời tôi. Tiếng cười dòn dã của nó như đem lại sinh khí cho căn nhà vắng vẻ cổ kính này. Dù vậy, tôi vẫn lo lắng không hiểu nó sẽ bị ảnh hưởng thế nào khi sống với một người xế chiều như tôi. Cố bù đắp cho sự thiếu sót ấy, tôi cung cấp cho nó tất cả những gì cần thiết, kể cả ba người hầu, cộng thêm mười một người của tôi, để mặc quần áo, đem đồ chơi cho nó hay dọn dẹp sau khi nó chơi xong.

Nhưng tôi vẫn thấy lo cho Mahmud. Vì trong vài ngày qua, nó không chịu ăn. Đây là một điều kỳ lạ, vì nó thường xuống bếp để gạ gẫm tôi cho nó miếng đường hay miếng bánh. Sáng hôm ấy tôi bước xuống lầu, đi qua hành lang lót gạch bông để ra hàng hiên. Sau khi ôm hôn Mahmud, tôi hỏi người đầy tớ xem nó có ăn gì chưa.

"Thưa bà, cậu ấy không chịu ăn gì cả." Khi tôi ép Mahmud phải ăn, nó trả lời là không đói.

Tôi thấy khó chịu khi Nur-jan một mình đến với tôi và sợ sệt đưa ra giả thuyết rằng Mahmud bị ác thần tấn công. Giật mình, tôi liếc mắt nhìn nó, nhớ lại cái cảm giác kỳ lạ ở đêm hôm trước. Tất cả những điều này có nghĩa gì? Tôi lại ép Mahmud ăn, nhưng cũng vô ích. Nó cũng không thèm đụng đến miếng sô-cô-la Thụy Sĩ thường ưa thích mà tôi đã phải nhập cảng riêng cho nó. Đôi mắt lờ đờ của nó ngước nhìn tôi khi đưa cho nó thỏi kẹo. Nó nói: "Con thích ăn kẹo này lắm. Nhưng khi con nuốt, nó đau ở cổ." Tôi ớn lạnh khi nhìn đứa cháu ngoại, thường ngày nó rất náo động mà bây giờ thật bơ phờ.

Ngay lập tức tôi cho gọi Manzur, người tài xế, cũng là một Kitô hữu, và ra lệnh cho ông đi lấy xe. Trong vòng một giờ đồng hồ, chúng tôi đã có mặt ở Rawalpindi để gặp bác sĩ của Mahmud. Sau khi cẩn thận khám nghiệm, bác sĩ cho biết ông không tìm thấy căn bệnh gì cả.

Sự sợ hãi khiến tôi rùng mình khi trên đường về nhà. Nhìn đứa cháu ngoại bé bỏng đang im lặng ngồi bên cạnh, tôi băn khoăn. Có thể nào Nur-jan nói đúng không? Có phải đây là một điều gì ngoài khoa học tự nhiên không? Có phải ... điều gì đó trong thế giới siêu nhiên tấn công nó không? Tôi nghiêng người, ôm nó vào lòng, tự cười nhạo mình vì những ý nghĩ lẩn thẩn ấy. Tôi nhớ có lần cha tôi kể về vị thánh sống Hồi Giáo là người có thể làm các phép lạ. Tôi cười lớn khi nghe chuyện ấy. Cha tôi không bằng lòng, nhưng đó là phản ứng của tôi khi nghe những câu chuyện đại loại như vậy. Tôi ôm Mahmud sát vào lòng khi xe tách khỏi đường Đại Thụ để rẽ vào con đường về nhà, tôi thấy lởn vởn trong đầu một ý tưởng không đúng lúc: có thể nào bệnh của Mahmud có liên hệ đến cụm khói như sương mù trong khu vườn đêm qua không?

Khi tôi nói với Nur-jan về sự lo sợ này, nó đưa tay ôm lấy cổ sợ hãi và nài nỉ tôi gọi thầy mu-la và xin ông cầu nguyện cho Mahmud cũng như rẩy nước thánh trên khu vườn.

Tôi suy nghĩ lời yêu cầu của Nur-jan. Dù tôi tin vào giáo lý căn bản của Hồi Giáo, nhưng trong nhiều năm tôi đã xa lạ với các nghi thức, việc cầu nguyện năm lần một ngày, việc ăn chay, và những nghi thức thanh tẩy rườm rà. Nhưng sự lo lắng cho Mahmud đã lấn lướt những nghi ngờ ấy và tôi bảo Nur-jan đi gọi người tu sĩ của ngôi đền trong làng.

Sáng hôm sau, Mahmud và tôi ngồi ở cửa sổ, kiên nhẫn chờ đợi thầy mu-la. Sau cùng, khi thấy ông bước lên bậc thềm nhà với chiếc áo rộng rách rưới phất phơ trong gió, tôi vừa hối hận vì đã mời ông, và vừa bực tức vì ông đến quá chậm.

Nur-jan đưa người tu sĩ gầy guộc đến thư phòng của tôi và rút lui. Mahmud nhìn ông ta một cách tò mò khi ông mở sách Koran. Thầy mu-la có làn da nâu sậm cùng mầu với tấm da cũ kỹ bọc sách thánh, ông nhìn tôi qua đôi mắt nhăn nheo, đặt bàn tay xương xẩu lên đầu Mahmud và bắt đầu ngâm nga cầu nguyện bằng một giọng run run. Đó là lời cầu nguyện mà mọi người Hồi Giáo đều phải đọc trước khi thi hành một việc quan trọng, dù là cầu nguyện cho người đau yếu hay sắp sửa ký giấy tờ buôn bán.

Sau đó, thầy mu-la bắt đầu đọc kinh Koran bằng tiếng Ả Rập--kinh Koran luôn luôn phải đọc bằng tiếng Ả Rập vì thật sai lầm nếu chuyển dịch những lời mà thiên sứ đã nói với ngôn sứ Muhammad. Tôi bắt đầu thấy nóng ruột. Lẽ ra tôi đã nhịp nhịp bàn chân.

"Bà Begum Sahib," thầy mu-la vừa nói vừa đưa sách Koran cho tôi. "Bà cũng phải đọc những câu này nữa." Ông muốn nói đến các câu thưa Sura Falak và Sura Naz, khi có người bị khó khăn. "Sao bà không lập lại những câu này?"

"Không," tôi trả lời, "tôi không muốn. Ala đã quên tôi và tôi cũng đã quên Ala!" Nhưng khi thấy khuôn mặt đau khổ của ông, tôi dịu lại. Nói cho đúng, ông ta đến đây là vì tôi mời và vì sức khoẻ của Mahmud. "Thôi được," tôi trả lời và đưa tay cầm lấy cuốn kinh rách nát. Tôi mở đại một trang và đọc câu đầu tiên đập vào mắt tôi:

Môhamét là Ngôn Sứ của Ala, và những ai ở với người thì phải khắc nghiệt với những kẻ không tin...

Tôi nghĩ đến cô bé Kitô Hữu bị giết, và làn khói sương mù xuất hiện trong khu vườn nhà tôi ít lâu sau khi cô bị giết, và trên hết là căn bệnh bí ẩn của Mahmud. Có thể nào những điều ấy có liên hệ với nhau không? Chắc chắn là bất cứ ác thần nào có giận dữ thì cũng không thể coi Mahmud và tôi là Kitô Hữu. Tôi rùng mình.

Thầy mu-la có vẻ hài lòng. Không cần tôi mời, ông cũng trở lại trong ba ngày liền để cầu nguyện cho Mahmud.

Và, để chấm dứt những chuỗi bí ẩn, những biến cố xáo trộn, Mahmud đã khá hơn.

Tôi phải nghĩ gì về những điều đang xảy ra này?

Không bao lâu tôi đã khám phá ra điều đó. Vì dù muốn dù không, các biến động được sắp xếp xảy ra đã làm vụn vỡ cái thế giới mà tôi từng quen thuộc.

Xem Tiếp