Chương 10: HỌC CÁCH SỐNG TRONG SỰ VINH HIỂN CỦA CHÚA
hi tôi ngồi ở cửa sổ nhìn xuống khu vườn, nơi Karim và tôi thường chơi đùa khi còn nhỏ, một ngọn gió mùa thổi lên từ nước Ấn làm cong cả ngọn cây. Trong đó dường như tôi nhận được một sứ điệp mà thật khó tin ở đôi tai của mình.
Tôi mỉm cười lẩm bẩm, "Không thể nào Chúa thực sự nói với con như vậy. Con vừa mới nghe những điều đó mà! Chúa muốn con tham dự đám tang của Karim sao. Không thích hợp đâu Chúa ơi. Có vẻ lạc điệu quá. Và rồi con sẽ phiền hà những người đang thương tiếc Karim."
Ngay cả khi tôi đang phản đối, một lần nữa tôi cảm thấy sự Hiện Diện của Người mờ dần. Ngay lập tức, với dấu hiệu này, tôi bắt đầu tự hỏi không biết có thật là tôi được bảo phải thi hành điều khác thường này hay không, đó là trực diện với những người thù nghịch muốn tẩy chay tôi.
Sau cùng, hít một hơi dài, tôi bước ra khỏi chỗ ngồi ở cửa sổ, nhún vai và nói lớn, "Chúa ơi, con đang bắt đầu học. Cảm giác của con về những gì đúng cần phải làm thì không thể nào sánh với Chúa được! Con sẽ đến đó, một khi Chúa nói với con như vậy."
Và dĩ nhiên, tôi lại cảm thấy sự Hiện Diện của Người.
Thật lạ thường là dường nào khi cảm được sự xuất hiện cũng như tan biến của vinh hiển Chúa. Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng là sự hiểu biết đó mới chỉ sơ sài. Làm thế nào để tôi có thể ở trong sự Hiện Diện của Người càng lâu càng tốt? Tôi không ngờ rằng trong hai tháng kế tiếp tôi có được một chuỗi cảm nghiệm giúp tôi thăng tiến thêm trong tiến trình học hỏi ấy.
Tôi đứng trên con đường đá sỏi dẫn đến nhà của Karim và do dự. Bất kể là tôi đã hứa vâng lời Chúa, tôi cảm thấy mình như một con bồ câu lẻ loi sắp bị ném vào hang rắn độc. Hít một hơi dài, tôi hướng về ngôi nhà bằng đá nằm giữa các căn tương tự. Tôi bước vào sân và đi lên hành lang, chịu sự dòm ngó của các dân làng đang im lặng ngồi chung quanh. Tôi đi vào một căn nhà kiểu xưa với trần được trạm trổ và các bức tường bằng thạch cao trắng, đó là nơi Karim và tôi thường chơi đùa và cười giỡn với nhau.
Giờ đây tiếng cười không còn nữa. Ngoài bầu khí ảm đạm của gia đình đang thương tiếc, tôi còn phải hứng chịu những cái nhìn khinh miệt lạnh lùng. Tôi đưa mắt nhìn về người chị họ mà trước đây chúng tôi rất thân. Ánh mắt chúng tôi gặp nhau trong giây lát; chị quay đầu đi và chuyện trò với một người đứng gần đó.
Đôi vai giương cao tôi đi vào phòng khách, rồi ngồi xuống một tấm nệm dầy được đặt trên sàn nhà và có các gối đệm rải rác chung quanh. Tôi kéo váy sari che đôi chân. Bỗng dưng mọi người như tỉnh thức khi nhận ra tôi là ai. Tiếng rì rào nói chuyện tràn ngập căn nhà bỗng dưng im bặt. Ngay cả các bà đang lần chuỗi, mỗi một hột biểu thị một lời cầu xin với Ala, cũng ngừng và ngước nhìn. Cả căn phòng, nóng nực với cái nóng đầu hè và với biết bao người trong đó, bỗng dưng dường như ớn lạnh.
Tôi không nói một lời, không muốn trò chuyện với ai, chỉ cúi đầu và thầm thì cầu nguyện, "Lạy Chúa Giêsu, xin ở với con khi con đại diện cho Chúa trong nhóm bạn hữu và thân thuộc đang buồn sầu vì cái chết của Karim."
Sau mười lăm phút, tiếng rì rào nói chuyện lại nổi lên. Đã đến lúc phải chia buồn với vợ của Karim. Ngẩng cao đầu, tôi đứng dậy và bước vào phòng kế cận, nơi thi hài Karim được đặt trong một quan tài sâu và to, được đóng theo phong tục Hồi Giáo để người chết có thể ngồi dậy khi các thiên thần đến tra hỏi trước khi được vào thiên đàng. Tôi chia buồn với vợ của Karim, sau đó nhìn vào khuôn mặt im lìm của người anh họ thân mến của tôi trong tang phục mầu trắng, và tôi thì thầm lời cầu nguyện với Chúa Giêsu cho linh hồn người ấy. Ôi tôi rất muốn được nói chuyện với anh trước khi anh từ trần.
Tiếng râm ran trầm buồn tràn ngập căn phòng khi vợ con người qua đời cầu nguyện cho Karim. Các bà thì đứng và đọc các câu thơ trong kinh Koran. Đó là các phần nói về sự sống và cái chết mà tôi quá quen thuộc. Tôi xoay lưng lại tất cả các thứ đó. Hôm nay trước khi mặt trời lặn, đám tang sẽ ra nghĩa trang với mọi người trong gia đình đi theo sau quan tài. Tại phần mộ, khi quan tài được đặt trong lòng đất một thầy tu sẽ đọc lớn, Ôi Thượng Đế thật cao trọng. Lạy Ngài, đây là tôi tớ của Ngài, con của tôi tớ Ngài. Hắn luôn tuyên xưng chỉ có Ngài chứ không có Thượng Đế nào khác, và Môhamét là tôi tớ của Ngài và sứ giả của Ngài…
Khi tôi đứng lắng nghe tiếng than van nhè nhẹ trong căn phòng, tôi thấy mẹ của Karim quỳ bên quan tài. Bà có vẻ đau khổ, bỗng dưng tôi cảm thấy giục giã đến bên bà. Tôi có dám không? Đó có phải là sự lăng mạ không? Tôi có nên nói điều gì về Chúa Giêsu không? Có lẽ không. Chỉ cần hiện diện ở đó như một Kitô Hữu cũng đã đem Chúa Giêsu đến bên bà một cách an ủi.
Do đó tôi bước đến bên mẹ của Karim và ôm lấy vai bà, nhỏ nhẹ chia buồn. "Karim và cháu rất thân với nhau. Xin Thượng Đế chúc lành và an ủi bác." Mẹ của Karim xoay đầu lại. Đôi mắt đẫm lệ của bà nhìn tôi biết ơn và tôi biết Chúa Giêsu cũng đã an ủi trái tim phiền muộn của bà.
Nhưng dường như mẹ của Karim là người duy nhất trong phòng chấp nhận hành động của tôi. Khi tôi rời bà và trở về ngồi với các thân quyến đang thương khóc, một người bà con--cũng gần lắm--vội vã đứng dậy và ra khỏi phòng. Một người bà con khác đi theo. Và rồi một người khác nữa.
Tôi ngồi đó vừa bối rối với những cảm xúc thương xót Karim cùng tang quyến, vừa thật ngượng ngùng lúng túng. Tim tôi đập mạnh. Thái độ thù nghịch đã khiến tôi phải tự vệ. Tất cả những gì tôi có thể làm là ngồi lì ở đó trong một thời gian rồi đứng dậy, chào tạm biệt và bước ra khỏi phòng. Sau cùng khi ra về, tôi cảm thấy mọi con mắt trong nhà như muốn ăn tươi nuốt sống tôi.
Tôi ngồi trong xe một lúc lâu để trấn tĩnh lại. Tôi đã vâng lời Chúa, và giá phải trả thì cao. Chắc chắn là tôi muốn ở nhà hơn là đi vào tâm điểm của sự tức giận.
Nếu nghĩ rằng tôi chỉ phải đi qua thung lũng này một lần, thì thật sai lầm. Một vài tuần sau, ngay khi cái nóng giữa hè bắt đầu tràn lấp quận lỵ, một người bà con khác lại từ trần. Lại vâng lời sự hướng dẫn của Chúa, tôi thấy mình miễn cưỡng đi vào một căn phòng đầy những người có thái độ ghét bỏ thật lạnh lùng. Với sức mạnh của ý chí, tôi cố gắng không nghĩ gì đến chính mình và hướng về người thực sự mất mát, là vợ người qua đời. Bà cũng có một đứa con trai chừng năm tuổi, cùng tuổi với cháu Mahmud. Bà thật đau khổ một mình đứng bên quan tài, tôi khóc cho bà và chồng bà.
Và rồi cũng như tôi đã thi hành trong tang lễ của Karim, tôi thấy mình được thúc giục đến với người đàn bà tuyệt vọng này. Khi đến gần, ánh mắt chúng tôi gặp nhau, và tôi thấy sự do dự thoáng qua trên khuôn mặt đầy nước mắt của bà. Sau đó, với một quyết định mau chóng, dù biết trái với ý muốn của gia đình, bà đưa tay về phía tôi. Khi cầm lấy bàn tay gầy guộc và run rẩy của bà, tôi âm thầm nhỏ lệ. Chúng tôi chỉ trao đổi một hai câu, nhưng tim tôi cầu nguyện thật mãnh liệt xin Thánh Thần đến trong sự mất mát của bà cũng như giữ lời hứa của Người, ngay cả với người Hồi Giáo thân yêu này, là "Phúc cho những ai than khóc."
"Cám ơn Bilquis, cám ơn" bà quả phụ thì thầm những lời ấy khi buông tay tôi ra. Tôi ôm lấy bà rồi bước ra khỏi phòng.
Thật kỳ quặc, hai đám tang liền một lúc. Đó là một điều bất thường cho gia đình tôi. Nhưng trong mỗi trường hợp, tôi được Chúa bảo thật rõ ràng, thật dứt khoát là phải ra khỏi căn nhà êm ấm của tôi và đến những nơi cần thiết. Tôi không phải nói nhiều. Chỉ để sự hiện diện ân cần của tôi làm chứng.
Và suốt thời gian ấy Thiên Chúa làm việc với tôi. Người có quá nhiều điều để dạy tôi, và Người dùng các đám tang này như lớp học của Người.
Chính trong khi thăm viếng tang quyến mà tôi khám phá điều bí ẩn lớn lao để có thể ở trong sự Hiện Diện của Người.
Trong tang lễ của Hồi Giáo, không ai nấu nướng hay ăn uống khi chưa chôn cất. Điều này có nghĩa phải nhịn đói nguyên ngày nhưng không quá khó khăn. Tuy nhiên, hôm ấy, khi ngồi một mình trong căn phòng đầy người, bỗng dưng tôi thấy thèm trà. Tôi tự nhủ, đây là điều không thể không có.
Sau cùng, không nhịn được nữa, tôi đứng dậy xin kiếu. Tôi nghĩ, mình phải rửa tay chứ. Tôi lẻn ra khỏi nhà và đến một quán ăn nhỏ ở cuối đường. Tôi dùng trà ở đó rồi quay lại đám tang.
Ngay lập tức, tôi cảm thấy sự cô đơn kỳ lạ, như thể một người bạn vừa từ giã tôi. Dĩ nhiên tôi biết đó là gì. Sự Hiện Diện đầy an ủi của Thần Khí Người không còn nữa.
Tôi nói với chính mình, "Chúa ơi, con đã làm gì vậy?"
Và rồi tôi biết. Tôi vừa nói dối khi xin kiếu ra ngoài.
"Nhưng đó chỉ là nói dối vô hại mà Chúa," tôi tự nhủ. Tôi vẫn không cảm thấy khuây khỏa. Thật im lặng như tờ.
Tôi nài nỉ, "Nhưng Chúa ơi, con không còn phải theo các tập tục Hồi Giáo nữa. Và ngoài ra, con không thể sống mà không có trà được. Chúa biết mà."
Vẫn không cảm thấy Thần Khí của Người.
Tôi tiếp tục nài nỉ, "Nhưng Cha ơi, con không thể nói với họ là con ra ngoài để uống trà ăn bánh được. Điều đó làm họ đau lòng."
Vẫn không có Thần Khí.
"Thôi được. Con hiểu rồi. Thật sai lầm khi con nói dối. Con biết là con tìm kiếm sự đồng ý của loài người và đúng ra con chỉ nên sống theo sự đồng ý của Chúa mà thôi. Con thực sự xin lỗi, Chúa ơi. Con sẽ không làm thế nữa nếu Chúa giúp con."
Và với những lời ấy, sự Hiện Diện an ủi của Người lại tràn ngập tôi, như mưa đổ xuống trên mặt hồ khô cạn. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi biết là Người ở với tôi.
Và đó là một phương cách nữa mà tôi vừa được biết để trở về với sự Hiện Diện của Người cách mau chóng. Bất cứ khi nào không cảm thấy sự gần gũi của Người, tôi biết mình đã làm buồn lòng Chúa. Tôi phải nhìn lại cho đến khi nhận ra sự Hiện Diện của Người lần sau cùng. Và rồi tôi kiểm điểm lại mọi hành động, mọi lời nói và mọi tư tưởng cho đến khi khám phá ra điều lầm lỗi. Lúc đó tôi thú tội và xin Người tha thứ.
Tôi học được điều này với sự can đảm ngày càng gia tăng. Qua việc tập luyện vâng phục tôi biết được vẻ đẹp bí ẩn của sự hối lối. Tôi khám phá thấy sự hối lỗi không phải là ăn năn khóc lóc mà là thú nhận mình đã sai trái ở đâu và thú nhận rằng với sự giúp đỡ của Chúa chúng ta sẽ không tái phạm lỗi lầm ấy nữa. Khi nhận ra khuyết điểm của mình, tôi mới có thể xin Chúa nâng đỡ.
Chính trong thời gian này tôi khám phá rằng không có dối trá nào mà không hại người khác. Nói dối là nói dối và luôn luôn xuất phát từ Satan, là cha dối trá. Hắn dùng những nói dối "vô hại" để chúng ta bắt đầu đi vào một thói quen xảo quyệt. Nói dối dọn đường cho những cám dỗ khác lớn hơn sẽ đến. Satan rỉ tai rằng nói dối vô hại là sự "lưu tâm" đến người khác. Chúng ta khom lưng khuất phục một thế giới không thuộc về Chúa Giêsu, Người là Sự Thật.
Tuy tôi học được điều này trong đám tang của người bà con, bài học đó khởi sự một đời sống mới cho tôi, mà trong đó tôi cố gắng nhổ tận gốc mọi dối trá. Từ ngày đó trở đi mỗi lần sửa soạn nói dối tôi lại ngăn chặn kịp. Có lần một người thừa sai quen biết mời tôi đến dự cuộc họp mà tôi không thích. Tôi dự định sẽ kiếu từ với lý do có cuộc gặp gỡ khác. Ngay lúc đó như có tiếng báo động trong tôi và kịp thời tôi ngưng lại. Thay vào đó, tôi thấy mình được tín nhiệm nhưng vẫn không làm buồn lòng người khác khi thành thật trả lời, "Thành thật cáo lỗi, tôi không thể đến đó được."
Hoặc, một ngày kia tôi ngồi xuống viết thư cho một người bạn ở Luân Đôn và tôi đặt bút viết "vì xa thành phố trong một thời gian nên tôi không thể trả lời thư của bạn ngay được." Tôi dừng bút.
Xa thành phố? Lúc nào mà tôi chẳng ở đó. Tôi vò tờ giấy, vất vào thùng rác và viết lại. "Bạn mến: Tôi xin lỗi đã chậm trễ trả lời thư bạn…"
Chắc chắn đó là những điều nhỏ mọn. Nhưng tôi học được rằng khi thận trọng trong việc nhỏ sẽ giúp tôi chống trả những cám dỗ lớn dễ dàng hơn. Ngoài ra, cuộc sống dễ thở hơn khi tôi không phải mất thời giờ bịa đặt.
Từ từ, chắc chắn, tôi chớm thấy rằng tôi đang cố gắng sống với Đức Kitô như một người đồng hành trung kiên! Dĩ nhiên, điều đó không dễ. Tôi thấy mình thường trở về đường cũ! Nhưng tôi vẫn cố gắng.
Và trên cuộc hành trình tôi khám phá ra khía cạnh thực tế của lời hứa, "Trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa, và sự chính trực của Người; và tất cả những điều khác sẽ được ban cho anh em" (Mt. 6:33). Vì, khi tôi cố gắng đặt Chúa lên trên hết, những nhu cầu chân thành khác lại được ban cho tôi.
Một buổi chiều kia, nhỏ Raisham bước vào phòng với khuôn mặt sững sờ.
Nó nói: "Có một người trong phòng khách đợi được gặp bà."
"Ai vậy?" tôi hỏi.
"Thưa bà, nếu con không lầm thì đó là mẹ của Karim."
Chắc nó lầm! Mẹ của Karim thì đời nào đến đây.
Tôi bước xuống nhà bâng khuâng tự hỏi đó là ai. Nhưng khi vừa rẽ vào phòng khách, quả thật mẹ của người anh họ tôi đang đứng đó. Nghe tiếng chân tôi, bà ngước nhìn, chạy đến và ôm lấy tôi.
"Bilquis ơi," bà nói với đôi mắt ngấn lệ. "Bác đến để nói với cháu một điều. Trong đám tang, lúc đầu bác không thấy cháu trong đám người đến chia buồn. Nhưng bác phải nói là cháu đã an ủi bác thật nhiều. Bác không biết… có điều gì đó thật lạ lùng. Thật đầm ấm và đặc biệt."
Và sau cùng tôi thấy tại sao tôi không được phép trực tiếp nói về Chúa Giêsu cho mẹ của Karim nghe trong khi bà đau đớn mất người thân yêu. Vì điều đó giống như lợi dụng. Bây giờ hoàn cảnh thật khác biệt. Một cách ôn tồn và nhẹ nhàng, tôi nói cho bà nghe về Chúa Giêsu, Người thật có ý nghĩa đối với tôi, và Người thật từ từ nhưng cương quyết thay đổi kiểu cách hống hách của tôi bằng cá tính niềm nở của Người.
"Đúng vậy," mẹ Karim lên tiếng. "Cháu thật sự lưu tâm. Cháu thật sự muốn chia sẻ sự đau buồn của bác."
Đó là cuộc viếng thăm ngắn ngủi nhưng thật tuyệt diệu. Khích lệ cả hai chiều: Trước hết, đã có người nhận ra sự thay đổi nơi tôi; và thứ hai, tôi hy vọng sự tẩy chay sẽ bắt đầu gián đoạn.
Tuy nhiên, nó không xảy ra mau chóng. Cứ mỗi lần điện thoại reo thì đó lại là một người thừa sai bạn của tôi. Do đó, một sáng kia ngay trước ngày sinh nhật thứ sáu của Mahmud, khi tiếng điện thoại reo tôi đoán là bà Maria. Nhưng thay vào đó, tôi nghe tiếng nói của bà mẹ người bà con thứ hai mới từ trần.
"Bilquis?"
"Dạ."
"Bilquis, bác muốn nói là bác rất cám ơn điều cháu giúp đỡ cho con dâu của bác. Nó bảo lời cháu nói rất an ủi nó."
Thật lạ lùng. Tôi có nói gì nhiều đâu. Chính Đức Kitô là người an ủi đấy chứ.
Chúng tôi trao đổi vài lời vui vẻ và sau đó gác máy.
Một lần nữa tôi không thể làm gì khác hơn là bàng hoàng ở những điều mà Chúa Giêsu đã thực hiện qua tôi khi tôi nói ít lời hoặc chẳng nói gì về Người cả. Chính sự hiện diện của tôi ở đó, đại diện cho Thần Khí Người trong lúc cần thiết đã là một sự giúp đỡ.
Trong vài tuần kế đó, một vài phần tử khác trong gia đình đến thăm tôi. Họ ghé ngang để thăm Mahmud vào ngày sinh nhật của nó, đem cho nó ít bánh kẹo và quà. Bề ngoài là để thăm thằng bé. Thực sự, tôi biết, đó là lời bào chữa khéo. Họ đến để hòa dịu phần nào sự xúc phạm khi tẩy chay tôi. Các cuộc thăm viếng của họ luôn luôn ngắn ngủi và miễn cưỡng. Nhưng họ thông minh, biết lợi dụng kẽ hở của bức tường được chính họ dựng lên bao bọc quanh tôi.
Đã gần một năm trôi qua kể từ khi tôi quyết định chấp nhận lời mời gọi của Chúa Kitô. Thời gian trôi thật nhanh! Chẳng bao lâu sẽ đến ngày sinh nhật của tôi. Đã một năm kể từ khi tôi dâng mình cho Chúa. Và giờ đây tôi ngóng đợi việc thực sự mừng lễ Giáng Sinh. Dĩ nhiên tôi đã từng thấy người ta mừng lễ Giáng Sinh ở Âu Châu. Nhưng chưa bao giờ tôi thực sự mừng lễ Giáng Sinh. Tôi mượn một máng cỏ của ông bà Mitchell. Khi họ đem máng cỏ đến nhà, họ cũng mang theo một cây thông nhỏ, và chúng tôi hát, "Ồ cây Noel… ô cây Noel…," trong khi bé Mahmud hét lên vui sướng. Các đầy tớ đặt cây thông trong phòng khách và tất cả chúng tôi trang hoàng cây với những giải giấy mầu.
Tuy nhiên, có điều gì không ổn.
Tôi rất thích các ngày lễ, nhưng tôi không thấy ý nghĩa đích thực. Tôi bắt đầu tự hỏi có thể nào tôi mừng lễ Giáng Sinh trong một phương cách mà nó phản ánh những thay đổi trong cuộc đời tôi hay không.
Và rồi một ý tưởng nảy ra trong đầu. Tại sao không tổ chức họp mặt cho mọi người--các nhà truyền giáo, và dân làng, ngay cả các người quét đường. Ngay tức thì, tôi nghe có tiếng cảnh cáo của dòng tộc là tôi đừng phô trương đức tin; và tôi cũng nghe tiếng của ông tướng cảnh cáo rằng ông sẽ không thể chính thức bảo vệ tôi nếu gặp khó khăn. Tôi biết một cuộc họp mặt Giáng Sinh như thế sẽ là một đe dọa đối với nhiều người. Tuy nhiên, sau nhiều lần cầu nguyện tôi cảm thấy sự Hiện Diện của Chúa dường như mạnh mẽ nhất khi tôi bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc họp bất thường ấy.
Do đó tôi tiếp tục tổ chức họp mặt Giáng Sinh như dự định và tạo nên một khuấy động ở làng Wah. Dân làng đến từ sớm và tụ tập chung quanh cây thông trong phòng khách. Sau đó các nhà thừa sai đến. Bà Synnove tập hát cho mọi người. Và tôi ngạc nhiên khi một đầy tớ cho biết bà dì của tôi và một vài bà con từ Rawalpinsdi đến thăm tôi!
Tim tôi đập thình thịch. Không biết họ sẽ phản ứng như thế nào? Tôi không cần phải lo lắng--họ sẽ phản ứng một cách bình thường theo kiểu thượng lưu. Trước hết họ sẽ há hốc miệng, sau đó âm thầm rút lui sang phòng khác và ngồi một mình trong sự thinh lặng ngột ngạt.
Tôi không muốn bỏ quên nhóm nào do đó tôi đi hết phòng này sang phòng khác. Như thể đi đi lại lại từ bồn nước nóng sang bồn nước lạnh.
Sau cùng, có lẽ vì sự kiên trì của tôi, một vài phần tử trong gia đình bắt đầu khuây khỏa. Ngay cả một vài người đó đi vào phòng khách và cùng mừng lễ chung quanh cây thông. Lúc cuối cuộc họp mặt, họ chuyện trò với ông bà Old và Mitchell, nhưng không nói chuyện với các người quét đường.
Tôi hy vọng cuộc họp mặt này tiên đoán khởi đầu một năm khác biệt. Không phải một năm dễ dàng, nhưng chỉ là một năm khác lạ. Vì bày ra ngay trước mặt tôi là những ngã ba đường chằng chịt có thể khiến tôi gặp khó khăn nếu tôi sai bước. Vì ngoài một vài bà con và thân hữu trở lại với tôi, còn có một loại thăm viếng khác. Họ là những người quyết định đưa tôi trở về với đức tin Hồi Giáo. Tôi có cảm tưởng là có những người tò mò, nóng lòng muốn biết xem tôi phản ứng thế nào với những lời thúc giục tôi trở về nhà. Liệu tôi phải thận trọng im lặng, hay tôi phải lên tiếng?
Một lần nữa, câu trả lời lại đến với tôi trong sự Hiện Diện của Chúa. Vì bất cứ khi nào thử dùng thủ đoạn, tôi đều cảm thấy không an tâm và cô đơn. Nhưng bất cứ khi nào tôi trả lời các câu hỏi gay go ấy một cách thẳng thắn và trong đức ái, tôi cảm thấy Chúa hiện diện với tôi.
Tỉ như, một chiều kia, có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Tôi ngạc nhiên, vì đó là hai giờ trưa.
"Ai đó?" Cửa mở ra. Đó là nhỏ Raisham. "Thưa bà có khách đến thăm."
Giọng nói của nó có vẻ do dự. Tôi từng nói với Raisham là tôi không muốn bị quấy rầy từ trưa cho đến ba giờ chiều. Tuy nhiên, đó không phải là một mệnh lệnh. Một năm trước đây, tôi đã gay gắt ra lệnh cho Raisham đừng quấy rầy tôi vì bất cứ lý do gì. Giờ đây, tôi giải thích cho nó biết rằng thời giờ không còn là của tôi nữa, mà là của Chúa. Nếu có điều gì nó nghĩ là tôi phải biết, thì cho biết ngay dù bất cứ lúc nào.
"Thưa bà, đó là một người nước Anh." Trong ánh mắt của nó có chút hóm hỉnh. "Ông ấy bảo ông muốn nói về Thiên Chúa."
"Được rồi, bác sẽ xuống."
Đợi tôi trong phòng khách là một người Anh xanh xao, tóc lởm chởm. Tôi thích thú khi thấy ông mặc y phục bình dân của người Pakistan, chiếc áo trắng và quần rộng thùng thình. Với nét mặt xanh xao và áo trắng, dường như ông biến dạng trong bức tường trắng của phòng khách. Sau khi xin lỗi vì không hẹn trước, ông đi thẳng vào đề. Ông cho biết ông từ mãi Karachi đến đây để gặp tôi; vì ông đã bỏ Kitô Giáo để theo Hồi Giáo, các phần tử trong gia đình tôi nghĩ chúng tôi có cùng chung những ý thích. Tôi tự nhủ, "À thì ra thế. Vì biết mình rất thích người Anh nên họ nghĩ mình sẽ bàng hoàng khi thấy một người Anh từ bỏ Kitô Giáo để theo Hồi Giáo."
Vị khách của tôi ấp a ấp úng rồi sau cùng đề cập đến mục đích cuộc viếng thăm.
Ông nói, "Bà Begum này. Một điều thực sự làm tôi khó chịu khi người Hồi Giáo trở về với Kitô Giáo là cuốn Phúc Âm. Tất cả chúng tôi đều biết rằng Tân Ước Kitô Giáo đã bị sửa đổi khác với những gì Thiên Chúa đã ban cho."
Ông bày tỏ lời kết án chính yếu của Hồi Giáo về Phúc Âm, họ cho rằng sách này đã bị sửa đổi đến độ các ấn bản ngày nay không còn tin tưởng được. Người Hồi Giáo cho rằng nguyên bản Phúc Âm thì phù hợp với kinh Koran.
Tôi nói, "Hy vọng là ông không nghĩ tôi nói đùa. Tôi thực sự muốn biết vài điều. Tôi thường nghe là Phúc Âm bị sửa đổi nhưng tôi không thể biết ai sửa đổi. Những sửa đổi ấy xảy ra khi nào và các đoạn nào?"
Vị khách của tôi ngả người ra sau, mắt nhìn lên trần nhà, tay gõ nhịp trên thành ghế. Ông ta không có câu trả lời. Tôi biết là không ai có thể trả lời câu hỏi này.
Tôi nói tiếp, "Ông thấy không, ở Bảo Tàng Viện Anh Quốc có những cuốn Phúc Âm cổ được viết xuống trước khi Môhamét sinh ra gần ba trăm năm. Về mỗi vấn đề giữa Kitô Giáo và Hồi Giáo những bản cổ này không có gì khác với Phúc Âm ngày nay. Các chuyên gia nói rằng, các điều căn bản chủ yếu trong Phúc Âm ngày nay không khác gì với nguyên bản. Đây là điều quan trọng đối với tôi. Vì, với tôi Phúc Âm trở nên Lời sống động. Nó nói với linh hồn tôi và nuôi dưỡng tôi. Nó hướng dẫn tôi… Và vì vậy, thật quan trọng để biết những chỗ nào mà tôi bị lừa gạt. Ông có thể cho tôi biết không?"
Vị khách nói, "Bà nói về 'Lời' như thể đang sống động."
Tôi trả lời, "Tôi tin là Đức Kitô đang sống, nếu đó là điều ông muốn nói. Chính kinh Koran nói Đức Kitô là Lời của Thiên Chúa. Nếu có thời giờ tôi muốn nói với ông về điều này."
"Tôi phải đi ngay."
Và chỉ có vậy. Tôi tiễn vị khách ra cửa và mời ông trở lại. Ông không bao giờ trở lại nhưng những người khác lại đến, một số được trang bị kỹ càng cho sự tranh luận và với những quan niệm sai lầm! Tôi không bao giờ quên có một ông cho rằng Kitô Hữu thờ ba Chúa khác nhau.
Ông nói, "Chúa Ba Ngôi của bà gồm Thiên Chúa, Đức Maria và Đức Giêsu! Kitô Hữu các bà nói rằng Thiên Chúa lấy vợ là Đức Maria và từ đó sinh ra Đức Giêsu. Đức Ala không thể có vợ!" ông cười đắc thắng.
Tôi cầu xin. Và một ý tưởng rõ ràng đến với tôi.
"Ông có thực sự đọc kinh Koran không?" tôi hỏi.
"Dĩ nhiên rồi."
"Vậy ông có nhớ kinh Koran nói gì khi Đức Kitô nhận được Thần Khí Thiên Chúa không?" Tôi thường bàng hoàng khi thấy kinh Koran nói về các chân lý tuyệt vời như điều này. "Có lẽ ông được nghe về Sadhu Sundar Singh, một người Sikh đạo đức được thấy Đức Giêsu trong một thị kiến. Đây là điều Đức Giêsu giải thích cho ông ta về Chúa Ba Ngôi: 'Cũng như trong mặt trời vừa có ánh sáng vừa có sức nóng, nhưng ánh sáng không phải là sức nóng, và sức nóng không phải là ánh sáng, nhưng cả hai là một, dù thể hiện dưới những hình thức khác nhau, do đó Ta và Thánh Thần, xuất phát từ Chúa Cha, đem ánh sáng và sức nóng đến thế giới… Tuy nhiên Chúng Ta không phải là ba nhưng là Một, cũng như mặt trời chỉ là một.'"
Căn phòng im như tờ khi tôi dứt lời. Vị khách của tôi trầm ngâm suy nghĩ. Sau cùng ông đứng dậy, cám ơn tôi đã dành thời giờ cho ông và im lặng từ giã.
Khi trông theo bóng dáng tuyệt vọng của ông bước trên con đường đá sỏi, tôi tự hỏi có phải ông này cũng như ông người Anh trước đây cũng được Thiên Chúa dùng đến hay không. Tôi không thể nào biết được điều ấy vì sau đó họ không bao giờ trở lại. Điều đó không quan trọng. Có lẽ tôi không nên tìm hiểu kết quả. Điều duy nhất tôi phải bận tâm là sự vâng lời. Nếu Chúa muốn tôi nói với những người này, thì đó là điều tôi phải làm.
Khi mùa đông từ từ vào xuân, dường như Thiên Chúa cũng ban cho tôi nhiều cách khác để lên tiếng. Tôi đến Lahore và--sau cuộc thăm viếng tốt đẹp nhưng không mấy thiện cảm với con trai Khalid--tôi mua một trăm cuốn Phúc Âm để tặng cho bất cứ ai muốn đọc. Tôi cũng mua một lô sách biện hộ Kitô giáo. Tôi phân phát bất cứ khi nào có thể, ngay cả để các sách ấy trong phòng vệ sinh công cộng. Tôi không rõ điều này có tốt không. Có lần tôi trở lại phòng vệ sinh, tôi thấy chồng sách vơi đi nhưng khi nhìn vào các sọt rác, tôi cũng thấy các trang giấy sách hộ giáo nhầu nát.
"Dường như vô dụng," tôi tự nhủ. "Có phải con đang thi hành điều Chúa muốn không? Tại sao vậy, Chúa ơi. Sao chưa có lần nào con được thấy kết quả khi nói về Chúa?" Một người Anh trở lại Hồi Giáo, và một ông Tướng, và các người đầy tớ bỏ trốn, và hàng trăm lần tôi nói chuyện với các người trong dòng họ cũng như bạn hữu--không một lần nào đem đến kết quả nhãn tiền. "Khó hiểu quá Chúa ơi! Con không hiểu sao Chúa không dùng đến con."
Khi tôi cầu nguyện, cảm giác về sự Hiện Diện của Chúa ngày càng lớn dần. Dường như Người lấp đầy bầu khí trong phòng với sức mạnh và sự an ủi. Tôi nghe trong tâm hồn lời đề nghị rõ rệt, "Biquis, Thầy chỉ có một câu hỏi với con. Hãy nghĩ lại những lần con nói chuyện với bạn hữu, và với gia đình con. Nghĩ lại những lần con chấp nhận những người đến tranh luận với con. Con có thấy sự Hiện Diện của Thầy trong những lần đó không?"
"Thưa Chúa có. Quả thật là có."
"Sự vinh hiển của Thầy có ở đó không?"
"Thưa Chúa có."
"Đó là tất cả những gì con cần. Kết quả không phải là điều con bận tâm. Tất cả những gì con cần lo lắng là sự vâng phục. Hãy tìm sự Hiện Diện của Thầy, đừng tìm kết quả."
Do đó tôi tiếp tục con đường của tôi. Điều kỳ lạ là nó trở nên quãng thời gian ngày càng hứng khởi và khích lệ. Có lần Chúa đã giúp tôi đừng nhìn đến "các kết quả" và hướng về sự Hiện Diện của Người, tôi có thể vui thích khi gặp gỡ bạn hữu, bà con mà không cảm thấy một chút chán chường. Tôi học cách lợi dụng thời cơ. Dù cuộc đàm thoại về vấn đề chính trị hay thời trang, tôi vẫn xin Chúa gợi ra một câu hỏi mà nó đem đến cho tôi cơ hội thuận tiện. Thí dụ, có một lần khi tôi nói chuyện với người cháu, cuộc đàm thoại hướng về người chồng cũ của tôi, hiện làm đại sứ ở Nhật.
"Nếu bác Khalid đến nhà bác thì sao?" con bé hóm hỉnh cười, hơi nhíu đôi lông mày.
Tôi nhìn thẳng nó, "Bác sẽ mời ông ấy vào nhà. Bác sẽ mời uống trà." Đứa cháu gái nhìn tôi nghi ngờ. "Bác sẽ tha thứ cho ông ấy," tôi tiếp tục. "Và bác hy vọng ông ấy tha thứ cho bác vì những gì bác đã làm ông ấy buồn."
"Làm sao bác có thể tha thứ được!" Cô cháu gái biết rằng sự đổ vỡ là điều khó khăn nhất.
Tôi giải thích rằng chắc chắn không dễ để tha thứ với chính sức mạnh của mình. Tôi xin Chúa Giêsu giúp đỡ tôi. Tôi nói, "Cháu biết là Chúa Giêsu mời tất cả chúng ta đến với Người, với những khó nhọc của chúng ta. Chúa Giêsu đã cất gánh nặng vì căm thù khỏi con người bác."
Nó ngồi thinh lặng trong giây lát rồi nói, "Đó là một điều của Kitô Giáo mà cháu chưa bao giờ nghe đến. Nếu bác tiếp tục nói theo chiều hướng này thì cháu sẽ là người đầu tiên đến đây và tìm hiểu về Chúa Giêsu."
Ngay cả vậy tôi cũng thất vọng. Tôi quá kỳ vọng. Tôi tin rằng cháu tôi sẽ trở lại nhưng không bao giờ nó đến.
Trong thời gian này, có nhiều lần tôi đánh mất sự vinh hiển của Chúa. Luôn luôn xảy ra theo cùng một kiểu cách. Tôi rơi vào bẫy của Satan khi nghĩ rằng tôi giỏi giang! Lý lẽ của tôi thật thâm thuý!
Tỉ như một ngày kia bạn tôi hỏi, "Tại sao bạn có vẻ quá khác biệt như vậy? Bạn phải thú nhận rằng chúng ta thờ phượng cùng một Thượng Đế, dù là Kitô Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo hay Do Thái Giáo. Chúng ta có thể gọi Người khác nhau, nhưng nói cho cùng cũng cùng một Thượng Đế."
"Bạn muốn nói Người như một đỉnh núi mà có nhiều đường đến khác nhau?"
Anh ta ngồi xuống, xoay ly trà và gật đầu. Và tôi bắt đầu tấn công.
Tôi nói, "Người có thể là một đỉnh núi nhưng chỉ có một đường đến với Người, qua Đức Giêsu Kitô. Chúa Giêsu nói: 'Ta là đường, là sự thật và là sự sống.' Không phải là một con đường nào đó," tôi cay cú nhấn mạnh, "mà là con đường này."
Bạn tôi đặt tách trà xuống, nhăn mặt và lắc đầu. Anh nói, "Bilquis, có ai nói cho bạn biết là bạn thực sự ngạo mạn chưa?"
Và ngay lúc đó, tôi biết người ngồi trước mặt tôi đang nói thay cho Chúa. Lý luận của tôi thì đúng. Nó phù hợp Phúc Âm và hợp lý. Nhưng Thần Khí đã xa tôi. Tôi cầu nguyện xin lỗi và xin Chúa làm chủ con người tôi.
"Thành thật xin lỗi," tôi cười. "Nếu tôi thực sự tự mãn vì tôi là một Kitô Hữu, thì đó không phải là điều Đức Kitô muốn nơi tôi. Càng học biết về Đức Kitô bao nhiêu, tôi càng cần phải sửa đổi mình bấy nhiêu. Chúa muốn nói với tôi nhiều điều và tôi biết Người đang nói với tôi qua bạn."
Bạn tôi từ giã, có thể gần Chúa hơn, có thể không. Tôi không nghĩ là mình có thể biết được. Nhưng tôi biết rằng, qua những bước đau thương, tôi mới học được cách lắng nghe và vâng phục.
Và rồi một đêm kia, một cảm nghiệm kinh hoàng đến với tôi chỉ sau khi tôi trở nên một Kitô Hữu. Tôi đang ở trong phòng chuẩn bị đi ngủ thì bỗng dưng tôi cảm thấy một sự hiện diện mạnh mẽ của ma qủy ở cửa sổ phòng ngủ. Ngay lập tức tôi hướng về Đấng Quan Phòng và tôi được cảnh giác là đừng đến gần cửa sổ. Tôi quỳ xuống sàn nhà cầu nguyện, xin Chúa che chở tôi như gà mẹ bao bọc đàn con và tôi cảm thấy sự bảo vệ của Người ôm choàng lấy tôi. Khi đứng dậy, sự hiện diện ở cửa sổ không còn nữa.
Sáng hôm sau, tôi lái xe đến nhà ông bà Mitchell. Mặt trời chói chang trên đường phố nhưng tôi vẫn rùng mình. Tuy nhiên, khi bước đến cửa nhà họ, tôi cảm thấy do dự không biết có nên đề cập đến điều xảy ra cho tôi hay không vì sợ họ không hiểu.
Bà Synnove ôm tôi ngay trước cửa, sau đó lùi ra xa, bà nhìn tôi dò hỏi.
"Chuyện gì vậy, Bilquis?"
Tôi đánh bạo, "Tại sao nhiều điều sợ hãi xảy đến với tôi sau khi tôi trở thành một Kitô Hữu?"
Bà dìu tôi vào phòng khách và chúng tôi ngồi xuống.
"Tôi thực sự không hiểu bà muốn nói gì," bà bối rối hỏi. "Có ai hăm dọa bà hay sao?"
"Không phải một người," tôi trả lời, "một cái gì đó."
"Vậy sao?", bà vừa nói vừa đứng dậy lấy cuốn Phúc Âm. "Đây," bà ngồi xuống, tay lần giở những trang sách, "trong thư Êphêsô đoạn 6 nói về loại đó." Bà đọc: "Chúng ta chiến đấu với những quyền lực vô hình kiểm soát thế giới tối tăm này, và các tay sai quái ác từ chính các trung tâm quỷ quái ấy."
Bà nhìn tôi.
"Chắc là như vậy," tôi kể cho bà nghe những điều xảy ra tối hôm qua.
Bà cẩn thận lắng nghe rồi nói, "Sao bà không kể cho ông bà Old nghe điều này?"
Tôi cười lo lắng, "Tôi không biết là có nên nói về điều đó nữa không."
Và đó là điều tôi cảm thấy khi mở đầu câu chuyện với ông bà Old vào tối hôm đó. Tôi quyết định là không đưa ra. Tôi nghĩ, mình chỉ làm trò hề. Có lẽ đó chỉ là óc tưởng tượng của tôi.
Tuy nhiên, khi ngồi nói chuyện với bà Old trước lò sưởi, tôi không thể nào không đề cập đến điều ấy. Tôi cố làm ra vẻ không quan trọng.
Tôi nói, "Bà này, có một điều thật kỳ lạ xảy ra cho tôi vào đêm qua. Tôi cảm thấy sợ hãi nhất và không biết giải thích làm sao."
Ông Ken, chồng bà, theo kiểu cách thoải mái thường lệ, ông ngồi gần cửa sổ đọc sách. Nghe tôi nói, ông đặt sách xuống, nhìn tôi và cảm thấy tôi lưỡng lự, ông dịu dàng và lặng lẽ giúp tôi kể lại toàn thể câu chuyện.
Khi kết thúc, tôi muốn phá lên cười. Tôi nói nhỏ, "Có lẽ tối hôm qua tôi ăn quá nhiều cà ri!"
"Đừng coi thường những điều mà Thiên Chúa sẽ đưa bà trải qua," ông ôn tồn nói. "Các điều siêu nhiên có xảy ra." Ông bước vòng qua ghế salông và ngồi ở chiếc ghế đối diện với chúng tôi. Khuôn mặt ông nghiêm trọng.
Ông giải thích sự hiện diện siêu nhiên của ma qủy, và Thiên Chúa cho phép điều đó xảy đến để thử thách ai đó. Để thí dụ, ông đưa ra đoạn Cựu Ước mà trong đó Thiên Chúa cho phép Satan tấn công ông Gióp, và Thiên Chúa cũng cho phép Satan cám dỗ Đức Kitô trong sa mạc. Ông Ken cho biết, cả hai trường hợp này là những thử thách. Và trong mỗi trường hợp, ông nói thêm, các nạn nhân của Satan đều chiến thắng vì họ tin tưởng vững vàng nơi Thiên Chúa.
Việc học hỏi từ từ tiếp tục. Nhưng khi nghĩ đến điều giải thích thật an ủi của ông Ken, tôi không biết là Thiên Chúa đã khởi sự một tiến trình giúp tôi ngày càng cô độc nhưng không cô đơn; càng tách rời với gia tộc, nhưng trở nên một phần tử của gia đình rộng lớn hơn; ngày càng tách khỏi các gốc gác thật có ý nghĩa đối với tôi ở Wah, nhưng lại bám rễ sâu trong một Thành Phố mới.
Chính vì những thử thách sự chịu đựng sắp đến mà Người đã đưa tôi vào những hoàn cảnh mà tôi chỉ còn biết tùy thuộc vào Người.

|