Chương 12: THỜI GIAN ĐỂ GIEO
ự chia ly kế tiếp xảy đến khi có tin ông bà Mitchell được phép đi nghỉ hè. Sẽ mất một thời gian trước khi họ trở lại Pakistan.
Đã trên một năm sau khi đi Tân Gia Ba về, tôi ngồi trong phòng khách của nhà ông bà Michell với một nhóm chuyên gia Kitô Hữu trong vùng. Đó là một dịp không vui, lần họp mặt cuối cùng trước khi ông Đavít và bà Synnove từ giã. Tôi nhớ lại lần đầu tiên khi đến căn nhà này như một người e dè đang tìm kiếm đức tin. Kể từ đó đến giờ nhiều điều đã xảy ra. Tôi nhìn vào khuôn mặt của hai người thật quá gần gũi với tôi khi họ giới thiệu tôi với Đức Kitô: ông Đavít thì cao, tóc bạc, và bà Synnove chân thành từng cầu nguyện liên lỉ cho tôi.
"Tôi sẽ nhớ ông bà ghê gớm," tôi lên tiếng khi chúng tôi đứng ở sân cỏ trước nhà. "Làm thế nào tôi có thể sống được nếu không có sự tiếp tay của ông bà!"
"Có lẽ Thiên Chúa đang dạy bà tự lập," bà Synnove lên tiếng. "Bà Bilquis này, bà phải biết rằng Người luôn luôn đòi hỏi ở chúng ta đến độ chúng ta không còn ai giúp đỡ nữa ngoại trừ chính Người."
Nghe thì hay, nhưng tôi vẫn không muốn bị đòi hỏi và tôi nói với bà Synnove về điều đó. Bà cười, "Dĩ nhiên, bà không muốn như vậy. Có ai muốn ra khỏi sự an toàn của lòng mẹ đâu. Nhưng trước mặt là cuộc phiêu lưu!"
Bà Synnove bước vào chiếc xe cũ kỹ và đóng cửa. Chúng tôi lại ôm nhau qua khung cửa và chiếc xe của ông bà Mitchell lăn bánh trên con đường bụi mù, xa khỏi dẫy nhà vôi trắng từng là trung tâm chỉ huy trong thời chiến. Chiếc xe của họ biến dạng sau góc đường. Cuộc phiêu lưu, đúng vậy! Ở đây, tôi là một Kitô Hữu đơn độc trong một thành phố Hồi Giáo. Có thể nào tôi sống sót một mình không?
Một vài tuần trôi qua, trong quãng thời gian đó, thành thật mà nói, thật khó để tôi cảm nghiệm được cuộc phiêu lưu mà bà Synnove đã nói đến, hay chiều hướng cũng như mục đích mà ông Ken đã tiên đoán khi hai ông bà từ giã. Cuộc họp mặt Kitô hữu chiều Chúa Nhật vẫn tiếp tục, đầu tiên ở nhà một người sau đó thay phiên nhau trong năm người còn lại của chúng tôi, nhưng thiếu sự dẫn dắt của ông bà Old và ông bà Mitchell các cuộc họp dường như lúng túng.
Và rồi một tối kia sau cuộc họp bơ phờ, tôi nảy ra một ý kiến. Có phải chúng tôi sai lầm khi cố gắng thi hành đúng như những gì mà ông bà Old và ông bà Mitchell đã làm hay không? Nhóm cầu nguyện nhỏ bé của chúng tôi chắc chắn sẽ hao mòn nếu chúng tôi không có sức sống mới giữa những người trong nhóm. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi mời người tham dự mà họ không phải là chuyên gia--không phải là bác sĩ hay kỹ sư và thừa sai? Sao không mời những người dù có đạo hay không, người quét đường, người thuộc giai cấp thấp kém đến tham dự. Có lẽ tại chính nhà tôi vì nó rộng và thuận tiện. Khi tôi đưa ra đề nghị này với nhóm, lúc đầu có vài chống đối, sau đó e dè đồng ý. Chúng tôi quyết định tiến hành. Qua những lời mời trực tiếp và qua hệ thống tin mật, tôi loan báo rằng một cuộc họp Kitô Hữu sẽ được tổ chức ở nhà của tôi vào tối Chúa Nhật.
Tôi ngạc nhiên về số người đến tham dự. Hầu hết từ Rawalpindi là nơi tin tức được lan tràn. Và, như tôi mong đợi, không phải hầu hết là Kitô Hữu. Nhiều người chỉ đói khát muốn tìm hiểu về Thiên Chúa của người tín hữu Kitô. Với sự hướng dẫn của những người trong nhóm tiên khởi, chúng tôi ca hát và cầu nguyện cũng như cố gắng thoả đáp nhu cầu của những người đầy tớ, giới thợ thuyền, giáo chức, dân thương mại là những người đến với chúng tôi.
Không bao lâu buổi họp mặt Chúa Nhật trở nên hứng thú. Tinh thần trách nhiệm thật bàng hoàng. Tôi và những người thuộc nhóm hướng dẫn tiên khởi dành nhiều thời giờ quỳ gối cầu nguyện, để gần với Chúa và Lời Người, để biết chắc rằng chúng tôi không đi sai hướng mà Người muốn. Bỗng dưng giai đoạn "không kết quả" mà tôi từng cảm nghiệm bị đảo ngược. Tôi có thể thấy được những hoán cải thực sự. Người đầu tiên đến với Chúa là một goá phụ trẻ. Bà khóc lóc kể lể sự cô đơn và đau khổ rồi sau đó xin Chúa ngự vào lòng bà. Thật đặc biệt khi thấy sự biến đổi nơi con người bà, từ một tạo vật buồn sầu, không có khả năng tự vệ đến một người con Chúa tràn trề hy vọng. Sau đó ít lâu, một người thợ máy từ làng kế cận trở về với Chúa, sau đó là một thư ký, và một người quét đường.
Và tất cả tụ họp trong nhà của tôi. Và đó thật là một vinh dự, nhưng tôi vẫn lo lắng không biết khi nào tôi sẽ nghe dòng họ than phiền về sự hoen ố thanh danh của chúng tôi. Nhưng không có ai than phiền. Dù sao đi nữa, chưa có gì. Như thể dòng họ tôi không muốn thú nhận điều đang xảy ra. Một ngày kia tôi vấp ngã vì viên gạch trên sân và bị gẫy xương chân. Dòng họ tôi cũng không đến; thay vào đó họ gọi điện thoại. Tối thiểu thì họ đã điện thoại!
Sự chống đối của dòng họ giảm dần khi tôi ngày càng tiến triển trong đời sống Kitô hữu nhưng thỉnh thoảng trong lòng tôi vẫn có sự phản kháng. Tôi vẫn là một người rất kín đáo, ích kỷ, coi ruộng vườn là của riêng tôi.
Ngang qua bãi cỏ trước nhà tôi là một con đường dẫn đến khu nhà các người đầy tớ. Cạnh con đường này là cây be, có trái mầu đỏ giống như trái anh đào. Mùa hè năm đó sau khi ông bà Mitchell từ giã, trẻ con trong làng (có lẽ nghe biết là tính tình tôi đã thay đổi) chúng đi thẳng vào vườn và leo lên cây be để hái trái. Việc xâm nhập đã đủ sái quấy, nhưng khi tiếng la hét ồn ào của chúng làm gián đoạn sự nghỉ ngơi, tôi nghiêng người ra khỏi cửa sổ và ra lệnh người làm vườn đuổi chúng đi khỏi. Cũng chính ngày hôm đó tôi nói người làm vườn hãy đốn cây ấy. Thế là vấn đề được giải quyết!
Ngay khi cây ấy bị đốn tôi mới nhận thức được điều tôi đang làm. Cái cây không còn thì niềm vui và bình an của Thiên Chúa cũng biến mất. Tôi đứng thật lâu ở khung cửa sổ đăm chiêu nhìn vào khoảng trống trải ở chỗ cây be trước đó. Bấy giờ tôi thực sự ao ước là phải chi cây be vẫn còn đó để có thể nghe được tiếng hò hét vui vẻ của đám trẻ con. Tôi vừa nhận ra được con người thật của Bilquis. Một lần nữa tôi biết rằng trong bản chất tự nhiên của tôi, tôi sẽ không bao giờ đổi khác. Chính nhờ Thiên Chúa, qua ơn sủng của Người mà sự thay đổi mới có thể xảy ra được.
Tôi xin, "Ôi lạy Chúa, xin cho con được trở về với sự Hiện Diện của Người!" Chỉ có một điều phải làm. Rải rác trong khu vườn là các cây to đầy trái. Ngay hôm sau, tôi cho công bố một lời mời công khai với các trẻ trong làng là hãy đến mà vui hưởng! Và chúng đến. Dù rằng tôi phải khuyến cáo chúng cẩn thận vì các cành cây rải rắc và đừng đạp lên bông hoa.
"Con nghĩ con đã thấy điều Ngài làm," tôi thầm nhủ sau khi lũ trẻ ra về, và tôi đang quan sát sự thiệt hại. "Chúa thấy khu vườn trở nên một khoảng cách giữa con và Ngài. Chúa đang làm cho con dứt bỏ ngay cả khu vườn! Chúa lấy đi để ban cho người khác. Nhưng Chúa thấy không bọn trẻ thật vui thích. Đó là vườn của Chúa. Con đã nhường nó cho bọn trẻ với sự sung sướng. Cám ơn Chúa vì đã dùng điều này để đưa con trở về với sự Hiện Diện đầy an ủi của Chúa."
Chúa cũng đã trở lại. Cho đến khi, một lần nữa tôi cần được cắt tỉa. Lần này không phải là khu vườn, mà là sự nghỉ ngơi quý báu của tôi.
Một buổi trưa tháng Mười Một lạnh lẽo khi tôi đang nghỉ ngơi thì cháu Mahmud lẻn vào phòng. Bây giờ nó là một thiếu niên và với các đức tính tốt lành của nó ai cũng đoán nó sẽ là một thanh niên đẹp trai. Nhưng bấy giờ khuôn mặt của nó có vẻ lo âu.
"Ngoại ơi, có một bà đứng ngoài cổng muốn gặp ngoại. Bà ấy bế đứa con."
Tôi ngẩng đầu. "Mahmud!" tôi lớn tiếng, "Con đã tám tuổi rồi. Con phải biết là ngoại không muốn gặp ai trong lúc nghỉ trưa!"
Mahmud lững thững ra khỏi phòng trước khi một ý tưởng đến với tôi: nếu là Thiên Chúa thì Người sẽ làm gì? Và đương nhiên, tôi biết điều Người sẽ làm. Người sẽ đến với bà ấy ngay lập tức, ngay cả lúc ấy là nửa đêm.
Tôi gọi Mahmud, lúc ấy nó chưa đi quá xa để có thể nghe tiếng tôi. Một lần nữa nó lại thò đầu vào.
"Bà ấy muốn gì?" tôi hỏi.
"Con nghĩ đứa nhỏ con của bà ấy bị đau," Mahmud trả lời, bấy giờ nó đã bước vào phòng. Tôi có thể thấy sự lưu tâm trong ánh mắt của nó.
"Vậy mời bà ta vào nhà," tôi ra lệnh rồi chuẩn bị đi xuống lầu.
Khi tôi đến chỗ Mahmud thì người đàn bà và đứa con đã đứng ở cửa. Bà mặc quần áo thô kệch, thùng thình của một nông dân. Đứa nhỏ kia chắc là cháu của bà. Khuôn mặt bà khô héo, đôi vai nhô cao và chiếc quần bó ống ôm lấy thân hình mảnh mai. Chỉ khi bà ngước mắt nhìn với đôi mắt nâu đen sâu hoắm tôi mới thấy bà chỉ là một thanh nữ.
"Tôi có thể giúp đỡ gì cho cháu?" tôi hỏi mà thấy mủi lòng.
"Con nghe nói về bà và con đi bộ đến đây."
Chỗ ở mà cô ấy nói, cách đó mười hai dặm. Không lạ gì mà cô ta trông thật mệt mỏi. Tôi sai các đầy tớ dọn trà và bánh. Tôi không biết cô ấy còn cho con bú hay không; trong một số làng các bà mẹ vẫn cho con bú dù chúng đã ba tuổi. Đôi mắt đứa trẻ bơ phờ đăm đăm nhìn đèn chúc đài treo trên trần, cái miệng nhỏ xíu của nó bất động. Tôi đặt tay lên trán nó và cầu nguyện; nó nóng và khô. Khi tôi đặt tay lên đầu người mẹ, tôi có thể cảm thấy bao thế hệ dòng họ của tôi nhăn mặt. Trong những ngày trước, có lẽ tôi đã khiếp sợ dù chỉ là cái bóng của người nông dân này đổ trên tôi.
Khi tôi nhân danh Đức Giêsu cầu xin Chúa chữa lành cho họ, tâm hồn tôi thấy thương cảm hai mẹ con nhỏ bé này. Khi người đầy tớ bước vào, tôi bảo cô ta đi lấy một số thuốc bổ cho người mẹ. Chúng tôi nói chuyện khoảng nửa giờ, người mẹ kể cho tôi biết về cuộc đời cô ta với người chồng bị tật nguyền sau một tai nạn, và đứa con đầu lòng thì không đủ dinh dưỡng. Và quả thật, cô ta đang cho con bú--đó là phương cách rẻ tiền nhất để nuôi con. Khi người mẹ muốn đứng dậy ra về, tôi ra hiệu ngăn cản.
"Khoan đã," tôi nhỏ nhẹ. "Chúng tôi phải tìm ra phương cách nào đó để chăm sóc cho cô và đứa nhỏ." Ngay khi tôi nói điều này, con người cũ của Bilquis cảm thấy bồn chồn. Điều gì sẽ xảy ra nếu tin đồn đến với những người nghèo ở Wah rằng bà Bilquis bây giờ tử tế lắm? Chúng tôi có bị tràn ngập bởi những người đau ốm, bệnh tật, nghèo hèn không?
Nhưng khi tâm trí tôi đang còn thắc mắc, tôi biết rằng không có lựa chọn nào khác. Một là có hai là không khi tôi phó thác chính mình và tài sản của mình cho Chúa.
"… và dĩ nhiên là chồng cô cũng cần được để ý. Chúng tôi sẽ đưa tất cả vào bệnh viện. Và chúng tôi sẽ giúp bồi dưỡng cho cơ thể của cô. Sau đó, nếu chồng cô vẫn không thể tìm được việc làm, hãy cho tôi biết."
Đó là tất cả những gì trong cuộc thăm viếng. Tôi sắp xếp để bệnh viện gửi biên lai cho tôi và chờ đợi. Nhưng người phụ nữ ấy không bao giờ trở lại. Tôi hơi ngạc nhiên. Khi tôi hỏi các đầy tớ là họ có biết điều gì xảy ra cho cô ấy không, thì như thường lệ, họ đã có câu trả lời. Quả thật hai vợ chồng và đứa con có đến bệnh viện, và bây giờ họ đã khá hơn. Người chồng đã có việc. Lúc đầu, con người tự nhiên của tôi bực tức vì thái độ vô ơn của người phụ nữ này đã không trở lại cám ơn, nhưng Chúa đã cản trở tôi. "Đó có phải là lý do mà con giúp đỡ họ không? Để con được cám ơn? Thầy nghĩ sự cảm tạ phải dành cho Thầy!"
Và dĩ nhiên Chúa đúng. Tôi sống lại cảm giác đầu tiên khi giúp đỡ người phụ nữ này. Sau đó tôi xin Chúa tha thứ cho tôi, và xin đừng bao giờ để tôi sa ngã một lần nữa. Tôi thở dài, "Chúa ơi, có lẽ tay Chúa sẽ mệt mỏi vì cứ phải lôi con lên."
Qua những ngày ấy dường như tôi thành công chút đỉnh trong việc sống gần với Chúa, chỉ sau những lần thất bại. Tôi tự hỏi đó có phải là khuôn mẫu thường xảy ra trong đời sống Kitô Hữu. Vì không có ai để nói chuyện, tôi giữ mãi những thắc mắc này trong lòng.
Một sáng kia khi nhỏ Nur-jan đang giúp tôi trang điểm, con chim hồng hoàng bay đến khung cửa sổ.
Tôi kêu lên, "Ồ! Coi sáng nay Chúa gửi đến cho mình cái gì kìa."
Đôi chút im lặng khi nhỏ Nur-jan âm thầm chải tóc cho tôi. Tôi hơi ngạc nhiên; nhỏ Nur-jan thường nói nhiều. Sau đó nó bẽn lẽn nhận xét, "Thưa bà, bà có biết là khi bà nói về Chúa, toàn thể diện mạo bà thay đổi không?"
Chiều hôm đó, tôi đặt mua thêm vài cuốn Kinh Thánh ở trung tâm truyền giáo ở Islamabad. Đó là loại Kinh Thánh đặc biệt, dành cho trẻ em. Tôi khám phá ra sự hữu ích của các cuốn Kinh Thánh này đối với Mahmud. Tôi cũng thấy các đầy tớ thích đọc cuốn sách nhiều tranh ảnh mầu sắc này. Khi sách về, tôi dành một cuốn cho nhỏ Nur-jan. Thử tưởng tượng xem tôi vui biết chừng nào khi một ngày kia nó đến nói riêng với tôi.
"Thưa bà," nhỏ Nur-jan nói, khuôn mặt nó đầy xúc động. "Con có điều muốn nói với bà. Bà có nhớ là bà thường nói với tụi con là nếu muốn biết Chúa Giêsu, chúng con chỉ cần xin Người đến với tâm hồn mình không?" Nói đến đó, nó tràn trề nước mắt. "Thưa bà, con đã làm như vậy. Và Ngài đã đến. Con chưa bao giờ cảm được tình yêu thương như vậy suốt đời con!"
Tôi không tin đôi tai mình. Tôi giang tay ôm nó. Chúng tôi khiêu vũ trong nước mắt sung sướng.
"Nur-jan ơi, thật là một tin vui không thể tưởng được. Bây giờ chúng ta có ba Kitô Hữu-con, Raisham và bà. Chúng ta phải ăn mừng!"
Vì vậy, Raisham, Nur-jan và tôi cùng uống trà. Đó không phải là lần đầu tiên tôi uống trà với những người hạ cấp. Nhưng việc đó khiến tôi hơi bàng hoàng. Khi ba Kitô Hữu chúng tôi nhâm nhi chén trà và bánh ngọt, trò chuyện với nhau như những bạn thân, tôi thấy mình tư lự. Điều gì đã xảy ra cho người phụ nữ thu mình trong chốn này, để lánh khỏi một xã hội giầu sang? Thì đây, bà ta đang ngồi với những người đầy tớ. Dòng họ tôi và bạn bè tôi sẽ bị mang tiếng xấu biết chừng nào. Các bạn cũ của tôi và dòng họ tôi sẽ nghĩ gì! Tôi nhớ đến kiểu cách thông thường của tôi khi chán nản với những mệnh lệnh cay nghiệt và các cơn giận dữ. Nếu tôi thấy trên ghế có chút bụi, nếu các đầy tớ nói chuyện quá lớn ở nhà bếp, nếu bữa ăn của tôi không đúng giờ, cả nhà sẽ tùy thuộc vào cơn giận dữ ấy. Quả thật Thiên Chúa đã hoạt động với tôi, và tôi cảm nhận sự đồng hành của Người với nhiều mãn nguyện.
Không phải là tôi muốn trở nên một vị thánh. Nhưng tôi bắt đầu thấy rằng trách nhiệm của một người đại diện cho Đức Giêsu Kitô sẽ không cho phép tôi thi hành bất cứ điều gì làm xấu hổ Danh Người. Và Người cũng dạy tôi là hành động có giá trị hơn lời nói khi phải làm chứng nhân cho Đức Kitô.
Nhưng sau đó tôi nhận thấy một điều kỳ lạ trong các buổi họp ban tối. Nhỏ Nur-jan không còn trong đám dân làng mà giờ đây họ thường gặp gỡ trong phòng khách của tôi. Sao lạ vậy! Một ngày kia, sau khi nó chải tóc cho tôi xong, tôi yêu cầu nó ở lại đôi chút. Tôi hỏi nó tại sao không họp mặt với chúng tôi vào Chúa Nhật hàng tuần?
Nur-jan hơi sững sờ, mặt nó nhợt nhạt và trả lời, "Thưa bà, con không thể đến họp vì chồng con là một người Hồi Giáo sùng đạo. Chúng con được bốn đứa. Nếu con cho chồng biết là con trở lại Kitô Giáo, anh ấy sẽ tố cáo con."
"Nhưng con phải tuyên xưng đức tin," tôi nhấn mạnh. "Không có cách nào khác."
Nur-jan nhìn đăm chiêu, nó có vẻ không vui rồi rời phòng, vừa đi nó vừa lẩm bẩm và lắc đầu.
Một vài ngày sau, tôi đến thăm sơ bề trên là Mẹ Ruth, là người tôi quen biết khi ở bệnh viện Thánh Gia. Tôi luôn vui thích khi nói chuyện với bà. Mẹ Bề Trên có nhắc đến rằng nhiều người ở Pakistan là các tín hữu bí mật.
"Tín hữu bí mật!" tôi kêu lên. "Làm sao có thể được. Nếu bà là một Kitô Hữu tại sao lại không la lên cho người ta biết!"
Mẹ Ruth trả lời, "Bà hãy nhìn đến ông Nicôđêmô."
"Nicôđêmô?"
"Ông là là một tín hữu bí mật. Bà xem lại chương ba của Phúc Âm Thánh Gioan."
Tôi giở ngay Phúc Âm và đọc về đoạn người Pharisiêu này đến với Chúa Giêsu vào ban đêm và hỏi về Nước Trời. Tôi thường đọc đoạn Phúc Âm này nhưng cho đến bấy giờ tôi mới biết nhận ra rằng ông Nicôđêmô là một tín hữu bí mật.
"Có thể sau này, ông Nicôđêmô mới công khai tuyên xưng đức tin," sơ nói. "Nhưng theo Phúc Âm, ông ta thận trọng không để các người Pharisiêu khác biết về điều đó."
Ngày hôm sau, tôi gọi Nur-jan vào phòng và đọc đoạn Phúc Âm về ông Nicôđêmô cho nó nghe. Tôi nói, "Bác xin lỗi đã làm cháu không an tâm. Sẽ đến lúc Chúa cho cháu biết phải tuyên xưng đức tin thế nào. Bây giờ, chỉ cẩn thận lắng nghe điều Người hướng dẫn."
Mặt nó rạng rỡ hẳn. Sau đó tôi thấy nó vừa làm việc vừa hát thầm. "Chúa ơi, con hy vọng con đã làm đúng," tôi thầm thì. "Điều con phải canh chừng là đừng xét đoán người khác."
Chỉ vài ngày sau tôi mới tự khám phá rằng thật khó là dường nào để trở thành một Kitô Hữu trong quốc gia này.
Một chiều kia, có tiếng chuông điện thoại. Đó là một trong những ông chú, là người thường khó khăn với tôi. Ngay cả khi sự tẩy chay của dòng họ bắt đầu tan loãng, ông chú này chưa bao giờ lên tiếng. Giọng nói của ông trong điện thoại thật sắc sảo.
"Bilquis?!"
"Dạ."
"Chú nghe là cháu đang dẫn dắt người khác đi lạc đường. Cháu đang đưa họ ra khỏi đức tin chân chính."
"Thưa chú, đó chỉ là vấn đề ý kiến."
Tôi có thể tưởng tượng ra khuôn mặt của ông đỏ bừng vì tức giận được biểu lộ trong giọng nói. "Cháu quyết định cho mình là một chuyện. Nhưng quyết định cho người khác là một vấn đề. Bilquis, cháu phải chấm dứt điều này."
"Thưa chú, cháu rất biết ơn sự lưu tâm của chú, nhưng cháu phải nói rằng mỗi người có một cuộc đời để lo toan, cháu cũng đang lo cho cuộc đời cháu."
Ngay ngày hôm sau, khi người tài xế đưa tôi về nhà sau khi đi thăm cháu Tooni, một người đàn ông đứng ngay giữa đường và định chặn xe lại. Người tài xế biết tôi thường hay cho kẻ bộ hành đi quá giang. Nhưng lần này, ông ta không muốn ngừng xe.
Với giọng nói chắc nịch, ông nói, "Thưa bà, làm ơn đừng bắt tôi ngừng xe." Ông lái xe vòng qua người đàn ông, bánh xe rít trên mặt đường.
Tôi trườn người lên hỏi, "Điều đó có nghĩa gì. Ông nghĩ là người ấy có ý định…?"
"Thưa bà, đúng như vậy!"
Một tuần sau, một trong các đầy tớ bước vào phòng sau khi tôi mới ngả lưng.
Nó đóng cửa lại. Với giọng nói khẽ, nó nói "Con nghĩ là bà không lưu tâm, nhưng con chỉ muốn bà đề phòng. Hôm qua, em trai của con đến ngôi đền ở Rawalpindi. Có một nhóm thanh niên nói về sự thiệt hại mà bà đang làm. Họ nói cần phải thi hành điều gì đó để bịt miệng bà lại."
Giọng nói của nó run lên.
Nó nói, "Thưa bà, bà không nên công khai quá. Chúng con sợ cho bà và cậu Mahmud."
Tim tôi đập mạnh. Bây giờ đến lượt tôi tự hỏi rằng có phải cách tốt nhất là giữ mình thành một tín hữu bí mật ở quốc gia này, và đúng vậy, ngay cả trong dòng họ này là nơi Đức Giêsu bị ghét cay ghét đắng.

|