Chương 13: LÀN SÓNG CẢNH CÁO

C

Hai tháng đã trôi qua sau khi được biết họ đang đe dọa tôi. Không có gì xảy ra ngoại trừ ánh mắt thù hận của một vài thanh niên, và tôi bắt đầu tự hỏi sự báo động này có vô căn cứ hay không.

Giờ đây lại đến dịp Giáng Sinh sau một vài năm tôi tìm thấy Hài Nhi ở Bêlem. Mặc dù vài phần tử trong dòng họ đã đến thăm tôi nhưng cú điện thoại cảnh cáo từ ông chú như nhắc nhở tôi rằng các tương giao trong dòng họ vẫn còn căng thẳng, và tôi nghĩ có lẽ là một ý tưởng tốt khi tổ chức bữa tiệc cho bà con và thân hữu, để xem chúng tôi có thể làm gì để hàn gắn sự rạn nứt ấy.

Do đó tôi dành nhiều thời giờ để lập danh sách khách được mời. Sau đó vào một tối kia, trước khi đi ngủ, tôi kẹp danh sách ấy trong cuốn Kinh Thánh cho khỏi mất, dự định là sáng hôm sau tôi sẽ viết thư mời.

Nhưng điều đó không bao giờ xảy ra.

Vì sáng hôm sau, khi mở Kinh Thánh để lấy tờ danh sách ấy, mắt tôi để ý đến một đoạn. Thật không thể tin được, tôi đọc:

"Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại" (Luca 14:12)

"Chúa ơi, đó có phải là lời Chúa nói với con không?" tôi thầm nhủ trong khi một tay cầm Kinh Thánh tay kia cầm danh sách. Chắc chắn là hầu hết bà con và thân hữu của tôi là những người giầu có. Tôi thường tự nhủ rằng đây là cơ hội để người Hồi Giáo và Kitô Giáo quy tụ lại với nhau, nhưng thực sự tôi thấy đó là sự kiêu hãnh. Tôi muốn dòng họ tôi thấy rằng tôi vẫn còn những thân hữu trong giới giầu sang.

Tôi vo nát tờ danh sách.

Thay vào đó, tôi làm đúng như những gì Kinh Thánh viết. Tôi thiết lập một danh sách các bà goá, trẻ mồ côi, người nghèo và thất nghiệp ở trong làng và rồi mời tất cả đến dự tiệc Giáng Sinh. Lời mời này bao gồm mọi người, kể cả người đi xin ăn. Chính tay tôi viết một số thiệp mời, còn số khác tôi đưa cho các cộng tác viên. Tin tức kiểu này đi thật nhanh và chẳng bao lâu các người làm cho biết rằng cả làng chuẩn bị đến tham dự. Tôi hơi e sợ. Tất cả những người ấy. Tôi nghĩ đến bộ thảm bằng lụa Ba Tư đắt tiền trong phòng khách. Vậy thì mình sẽ cất bộ thảm ấy đi để rộng chỗ trong dịp này, tôi thầm nghĩ.

Và rồi chúng tôi bắt đầu chuẩn bị. Sự hăng hái của cháu Mahmud lây lan khi cháu giúp tôi chuẩn bị quà cho những người đến tham dự. Chúng tôi tìm được những chiếc áo len cho các con trai, các y phục mầu mè cho các cô gái, các tấm vải đỏ, hồng và tím cho các bà, các quần bó ống cho các ông và những tấm chăn, giầy ấm cho em bé. Các người làm cùng với tôi mất khá nhiều giờ để gói quà, và cột lại bằng giây ruy-băng.

Một ngày kia có tiếng gõ cửa. Một nhóm các bà từ làng Wah đứng ở ngoài cửa. Họ muốn tiếp tay. "Thưa bà Begum, không phải vì tiền," một bà lên tiếng giải thích. "Chúng tôi chỉ muốn giúp bà chuẩn bị bữa tiệc."

Bỗng dưng bữa tiệc trở nên một sinh hoạt của cộng đồng. Để trang trí, tôi yêu cầu một gia đình thợ gốm trong làng làm đèn, ở vùng ấy người ta vẫn dùng đèn dầu làm bằng đất nung. Tôi đặt 500 cái. Tôi nhờ các bà đến nhà để bện sợi bông lại làm tim đèn. Khi chúng tôi làm việc, các cơ hội để nói về Đức Kitô tự nhiên xảy đến. Thí dụ, khi đặt đèn chung quanh nhà, tôi kể cho họ nghe dụ ngôn về các trinh nữ khôn ngoan và dại khờ.

Thực phẩm là một công việc nhiều thích thú. Một lần nữa các bà trong làng lại giúp tôi nấu các đồ ngọt của người Pakistan, cũng như xắt nhỏ các hạt hạnh nhân và các loại hạt đậu khác. Họ quấn các giấy bạc thật nhỏ để nhét vào kẹo mứt.

Dân làng bắt đầu đến nhà tôi từ chiều tối 24 và họ tiếp tục đến trong những ngày hôm sau để trở thành một tuần lễ liên hoan. Các ngọn đèn gốm thật đẹp, toả sáng lung linh dọc theo đường đi và trên các cửa sổ. Cháu Mahmud có được quãng thời gian tuyệt vời để chơi với các trẻ em trong làng. Tôi chưa bao giờ thấy ánh mắt của chúng long lanh như vậy, kể cả cháu Mahmud. Tiếng cười nói tràn ngập cả nhà. Thỉnh thoảng Mahmud đến xin tôi.

"Bà ơi, có năm đứa đứng ngoài cửa, con cho nó vào chơi được không?"

"Đương nhiên rồi," tôi cười, vỗ lưng nó và cảm thấy vui khi lũ trẻ có mặt trong nhà tôi có lẽ còn đông hơn tất cả đứa trẻ trong làng. Khi tôi nói với dân làng là Đức Kitô đã truyền cho chúng ta phải đối xử với nhau như vậy, họ hỏi ngay, "Người có thực sự sống với người dân như chúng tôi không?"

"Có chứ," tôi trả lời, "và ngày nay khi chúng ta đối xử tốt đẹp với người khác là chúng ta đối xử với Người."

Sau cùng, khi các cuộc liên hoan trôi qua và tôi có thể mạnh dạn gieo mình xuống ghế mà không sợ ngồi lên đứa bé nào đang ngủ trên ghế, tôi thở dài mãn nguyện với Chúa. "Có phải đó là điều Chúa muốn con làm không?" Và dường như tôi nghe tiếng thì thầm trả lời, "Phải." Và sau đó tôi mới biết là tôi đã quên không cất các tấm thảm quý giá. Nhưng dường như chúng chẳng hư hại gì.

Nhiều người trong làng không quên dịp liên hoan đó. Khoảng một tháng sau, tôi nghe từ một người hầu về đám tang trong làng. Vợ của ông thầy tu Hồi Giáo lớn tiếng than phiền rằng tôi đã sai lầm khi từ bỏ đức tin. Tuy nhiên, ai đó đã mau mắn trả lời: "Bà có gặp bà Begum Sahib sau này chưa? Bà có làm được bất cứ gì mà bà ấy đã làm kể từ khi là Kitô Hữu chưa? Nếu bà muốn biết về Thiên Chúa tại sao không đến gặp bà ấy?"

Nhưng cảm nghiệm này cũng có một khía cạnh khác. Vì tôi biết rằng có nhiều lực lượng ở Wah không thích dịp liên hoan vừa qua.

Ngày kia, một lão bộc làm vườn trong nhà chặn tôi lại, ông gãi đầu, "Bà dừng chân đôi chút được không?"

"Dĩ nhiên."

"Thưa bà, bà phải biết trong phố người ta đang nói gì về bà. Họ nói rằng bà trở thành một vấn đề cho họ. Có những người trong làng nói rằng họ sẽ thi hành điều gì đó đối với bà."

"Đối với tôi? Sao lạ vậy."

"Tôi cũng không biết, thưa bà. Nhưng tôi nghĩ bà phải biết về điều đó…"

Những cảnh cáo như thế này, có lúc đến cùng lúc, có lúc cách nhau vài tháng, bắt đầu xảy ra thường xuyên hơn trong vòng một năm. Hầu như Thiên Chúa đang chuẩn bị tôi cho thời kỳ khó khăn hơn sẽ đến.

Thí dụ, một ngày kia có ba đứa trẻ nhỏ đến nhà tôi. Sau này tôi tự hỏi có phải chúng là sứ giả của Chúa hay không. Vì cháu Mahmud đến cho tôi biết điều ba đứa ấy nói. Nó run rẩy với đôi mắt tròn xoe sợ hãi.

"Bà có biết mấy đứa đó nói gì không? Chúng nó nói người trong làng định giết bà. Họ sẽ thi hành điều đó sau buổi tụng kinh chiều thứ Sáu." Cháu bắt đầu khóc. "Nếu bà chết, con cũng sẽ chết theo!"

Tôi phải làm gì! Tôi ôm lấy Mahmud để an ủi và vuốt mái tóc đen bù xù của nó. Tôi nói, "Để bà kể cho con nghe câu chuyện." Và tôi kể cho nó nghe câu chuyện về bài giảng thứ nhất của Đức Giêsu ở Nagiarét, khi đám đông tức giận muốn ném đá Người. Tôi nói, "Cháu biết không, Đức Giêsu băng ngang qua họ mà đi. Không có ai làm gì được Đức Giêsu cho đến khi Chúa Cha cho phép điều đó xảy ra. Điều đó cũng đúng với hai bà cháu mình. Chúng ta có sự bảo vệ của Người. Cháu có tin như vậy không?"

"Bà muốn nói là chúng ta không bao giờ bị thiệt hại hay bị xúc phạm?"

"Không, không phải vậy. Đức Giêsu bị xúc phạm. Nhưng chỉ khi nào đến thời điểm mà Người phải đau khổ. Không phải lúc nào chúng ta cũng sống trong sợ hãi vì điều gì đó khủng khiếp sẽ xảy ra cho chúng ta. Vì nó sẽ không thể xảy ra cho đến thời điểm nào đó. Và có lẽ nó chẳng bao giờ xảy ra. Chúng ta chỉ chờ đợi và nhìn xem. Nhưng hiện thời chúng ta có thể sống với sự tín thác vô bờ. Cháu có hiểu không?"

Mahmud nhìn tôi và cặp mắt nâu đen của nó dịu đi. Bỗng dưng nó mỉm cười, như quên hết mọi lo âu nó chạy ra sân chơi vui vẻ.

Tôi ước ao là chính tôi cảm thấy tự tin. Không phải vì tôi không tin điều mà tôi vừa nói với Mahmud. Nhưng chính vì đức tin của tôi chưa giống như đứa trẻ. Tôi đứng dậy và cầm quyển Phúc Âm đi ra vườn. Tâm hồn tôi chưa thực sự bình an. Làm thế nào mà họ dám ép buộc tôi ra khỏi vùng đất của tôi!

Thời tiết mùa thu khô và mát; khi rảo bộ trên đường đá sỏi, tôi có thể nghe tiếng cá quẫy trong lạch nước nhỏ của khu vườn và tiếng chim kêu xa xa. Hoa cúc và các loại hoa còn sót lại sau mùa hè làm vui mắt lối đi. Tôi hít thở không khí trong lành. Đây là đất đai của tôi, và dân tộc tôi. Đây là quê hương tôi. Dòng họ tôi đã phục vụ quê hương này trên bảy trăm năm. Đây là nhà của tôi, và tôi không thể, sẽ không bao giờ lìa xa nó!

Tuy nhiên các biến cố đang xảy ra ngoài tầm kiểm soát của tôi, và cũng không cho tôi cơ hội tốt vì quyết định bướng bỉnh của tôi là cứ ở trong nhà.

Vào tháng Mười Hai 1970, bốn năm sau khi tôi hoán cải, lần đần tiên Pakistan cho phép mọi người được quyền đi bầu. Dường như Đảng Nhân Dân đang nắm phần thắng. Và đó chưa hẳn là điều tốt cho tôi. Vì không một người bạn nào của tôi quen biết với đảng này. Khẩu hiệu của đảng mới này là "Hồi Giáo là Đức Tin chúng ta, Dân Chủ là Chính Sách của chúng ta, Xã Hội Chủ Nghĩa là Kinh Tế của chúng ta." Đó là một khẩu hiệu nhằm mời mọc mọi người trên đường phố. Tôi biết rằng một người Pakistan bình thường sẽ cảm thấy một sức mạnh mới. Điều này có tốt cho tôi không? Có lẽ nó tốt cho một Bilquis mới, nhưng cũng có sự nguy hiểm tiềm ẩn. Vì không có gì nung nấu nhiệt huyết của một người cuồng tín hơn là sự tin tưởng rằng chính phủ sẽ hỗ trợ sự lạm dụng của họ. Danh tiếng của tôi trước đây chắc chắn không phải là một người dân chủ; xã hội chủ nghĩa không hợp với truyền thống lâu đời của dòng họ tôi; còn Hồi Giáo?--thì bây giờ tôi là một người phản bội.

Tôi theo dõi các biến cố ở xa xa. Tuy nhiên, một ngày kia, một người bạn trong chính phủ cũ của cha tôi đến từ Sardar. Bất kể sự tuyệt vọng của ông vì đức tin mới của tôi, ông tìm cách gần với tôi. Thỉnh thoảng ông gọi điện thoại hay đến thăm chỉ để biết chắc là mọi sự đều êm đẹp.

Giờ đây ông ngồi uống trà với tôi trên chiếc đi-văng trong phòng khách.

"Bilquis này," ông nhỏ nhẹ nói, "bạn có biết điều gì đang xảy ra và nó ảnh hưởng thế nào đến bạn không?"

"Anh muốn nói về Đảng Nhân Dân Pakistan?"

"Dĩ nhiên họ đã thắng cuộc tranh cử. Bạn biết gì nhiều về Zulfikar Ali Bhutto không."

"Tôi biết nhiều về ông ta," tôi trả lời.

"Bạn không đọc báo? Nghe rađiô sao?"

"Không, anh biết là tôi không có thời giờ để làm việc đó."

"Vậy thì tôi khuyên bạn nên từ từ. Hoàn cảnh chính phủ đã thay đổi. Tôi không nghĩ là bạn có thể trông nhờ vào ông ta như trước khi ông làm tổng thống. Bạn đã mất ảnh hưởng mà bạn từng có trước đây trong giới cao cấp. Thời đại đó đã qua rồi."

Một nửa giờ sau tôi vẫy tay từ biệt người bạn cũ và khi gọi đầy tớ lên dọn dẹp, tôi mới nhận ra một điều kỳ lạ xảy đến qua sự thăm viếng của người bạn cũ. Dường như anh ta nói thay cho Chúa, để chuẩn bị tôi đương đầu với một sự kiện là sự bảo vệ nhờ các bạn có thế lực thì không còn nữa, điều đó đưa tôi đến việc hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa gần hơn.

Thời gian không lâu trước khi tôi cảm thấy thái độ thù nghịch gia tăng. Tôi thấy điều đó trong ánh mắt của những người mà tôi đi ngang qua ở làng Wah. Tôi không bao giờ quên được sự thay đổi thái độ của một viên chức nhỏ mà tôi thảo luận về thuế bất động sản. Trước đây, anh ta là một nô dịch, thường nghiêng mình cúi đầu. Giờ đây anh chàng công khai chống đối. Điều đó lộ liễu trong lời nhận xét hỗn xược và thái độ khinh bỉ khi hắn đập mạnh đống giấy tờ trước mặt tôi.

Và sau đó khi tôi bách bộ trên con đường bên ngoài căn nhà, tôi liếc thấy một ông thường hớn hở ra nói chuyện với tôi. Giờ đây tôi nhận thấy sự khác biệt rõ rệt. Khi thoáng thấy tôi, ông quay đầu làm như không thấy khi tôi đi ngang qua. Bên trong lòng, tôi cười thầm, "Chúa ơi, không phải là tất cả chúng con đều giống như con nít hay sao!"

Thật thú vị khi tân chính phủ dường như ảnh hưởng rất ít đối với các người làm trong nhà tôi. Ngoại trừ nhỏ Nur-jan, nó âm thầm vui sướng khi bước theo Đức Giêsu, và Raisham, một Kitô Hữu, toàn thể gia nhân của tôi là các tín đồ trung thành của Môhamét. Tuy nhiên một sự yêu mến thực sự hiện diện giữa chúng tôi. Hơn một lần các gia nhân Hồi Giáo lẻn vào phòng riêng của tôi và nài nỉ. "Thưa bà," chúng nói thật khẽ, "nếu bà phải rời nơi đây… hay nếu bà quyết định rời bỏ… đừng lo cho chúng con. Chúng con sẽ tìm được việc khác."

So với bốn năm trước, tương giao giữa tôi với các gia nhân bây giờ thật khác biệt.

Các giấc mơ cũng đóng một vai trò đáng kể trong thời gian đó. Các giấc mơ luôn luôn là một phần cảm nghiệm về Kitô Giáo của tôi, kể từ ngày đầu tiên tôi được gặp Đức Giêsu, người đến trong một giấc mơ để ăn cùng bàn với tôi. Giờ đây các cảm nghiệm kỳ lạ và huyền bí ấy trở nên tích cực hơn, giống như điều Thánh Phaolô cảm nghiệm.

Một đêm kia tôi thấy mình bước ra ngoài trong thần khí và băng qua đại dương với một động lực tuyệt vời. Như đi với vận tốc ánh sáng tôi đến nơi mà tôi cảm thấy là tiểu bang New England, mặc dù chưa bao giờ tôi đến Mỹ Châu. Tôi đến trước một căn nhà, hay có phải là nhà hưu dưỡng không? Tôi bay vào một phòng có các giường đôi. Trên một chiếc giường, tôi thấy người phụ nữ trung niên nằm trên đó với khuôn mặt tròn, mắt xanh trong và mớ tóc muối tiêu. Hiển nhiên bà bệnh nặng; tôi có cảm tưởng là bà bị ung thư. Một y tá ngồi đọc sách cho bà nghe. Và rồi tôi thấy Chúa đứng ở góc phòng. Tôi quỳ xuống trước mặt Người và hỏi tôi phải làm gì.

"Cầu nguyện cho bà ấy," Người nói. Do đó tôi đến bên cạnh giường của bà và thành khẩn cầu xin cho bà được khỏi bệnh.

Sáng hôm đó, ngồi bên cạnh cửa sổ tôi vẫn sợ hãi về điều đã xảy ra trong căn phòng ở bên kia đại dương. Tại sao Chúa Giêsu muốn tôi cầu nguyện cho bà ấy? Người ở ngay đó. Nhưng Người lại yêu cầu tôi cầu nguyện cho bà. Tôi bắt đầu nhìn thấy một tia sáng lờ mờ của sự mặc khải vĩ đại. Lời cầu xin của chúng ta rất quan trọng đối với Thiên Chúa. Người hoạt động qua các lời ấy. Tôi được dẫn đến chương năm của Thánh Giacôbê: Lời cầu xin đầy tin tưởng có thể cứu được người bệnh; Chúa sẽ phục hồi họ và bất cứ tội lỗi nào sẽ được tha thứ… Sức mạnh khủng khiếp thì luôn sẵn sàng ban cho qua lời cầu xin chân thành của người tốt lành…

Như thế lời cầu xin của chúng ta sẽ khai mở sức mạnh này để ban cho người mà chúng ta cầu nguyện cho họ.

Một lần khác tôi thấy mình bước trên một tấm ván như thể đi lên tầu. Tấm ván ấy dẫn đến một căn phòng. Đức Kitô đang đứng trong phòng. Dường như Người chuẩn bị ra lệnh cho tôi. Sau đó tôi bước lùi về tấm ván. Cuối tấm ván có một bà đang đứng đợi, mặc y phục tây phương, váy ngắn và áo khoác. Bà có vẻ đang chờ đợi tôi. Bà bước đến khoác lấy vai tôi và bắt đầu dẫn tôi đi.

"Chúa ơi, chúng con đi đâu đây?" Tôi quay đầu hỏi Chúa. Nhưng Người không trả lời.

Giấc mơ ấy dường như muốn nói rằng tôi sẽ đi xa một chuyến nữa. Mặc dù lần này tôi sẽ đến một nơi vô định, nhưng Đức Giêsu sẽ trông nom cuộc hành trình. Giấy mơ ấy đã chuẩn bị tôi khỏi bị sững sờ khi một người bạn cũ đưa tin cho tôi.

Vào tháng Ba 1971, chỉ một vài tháng sau khi ông Bhutto lên nắm chính quyền, ông Yaqub đến thăm tôi, ông là một người bạn trong chính phủ cũ. Ông rất thân với gia đình tôi trong nhiều năm. Thật vậy, khi chồng tôi làm Bộ Trưởng, có một thời gian kinh tế Pakistan suy thoái vì bất quân bình mậu dịch. Yaqub và tôi giúp phát động một chương trình tự lực cánh sinh mà sau này được gọi là Chương Trình Sống Đơn Giản. Ý tưởng căn bản là khuyến khích giới kỹ nghệ Pakistan sản xuất hàng hóa trong nước, bớt đi nhu cầu nhập cảng.

Chúng tôi đi khắp nước giúp khởi sự các nhà máy nhỏ và thủ công nghệ. Chúng tôi khích lệ dân địa phương dệt vải và sau đó sản xuất quần áo. Chính chúng tôi tình nguyện tham gia một chương trình khắc khổ, tự may lấy quần áo. Chương trình Sống Đơn Giản là một thành công. Khi các nhà máy địa phương bắt đầu phát đạt, điều kiện kinh tế của Pakistan tiến triển. Sau bao năm kể từ lúc đó, Yaqub thỉnh thoảng đến thăm tôi để thảo luận chính trị và vấn đề thế giới. Ông biết nhiều về những gì dòng họ tôi nắm giữ, vì ông đã từng đến xem các bất động sản của chúng tôi trên toàn quốc, và ông biết hầu hết cơ nghiệp của chúng tôi nằm ở bất động sản.

"Bilquis này" ông nói với giọng điệu biện giải, "một số bạn hữu mà tôi từng nói chuyện với họ… lại đề cập đến vấn đề tình hình tài chánh của bạn. Có bao giờ bạn nghĩ đến chuyện bán đi một số đất không? Tôi không chắc điều đó có an toàn không khi tất cả cơ nghiệp của bạn nằm ở bất động sản, với sự hứa hẹn cải cách ruộng đất của Bhutto."

Thật là một điều chín chắn để Yaqub thi hành. Và cũng không phải là không có rủi ro. Với thái độ thù nghịch ngày càng gia tăng đối với giai cấp thống trị của quá khứ, chiếc xe chính phủ của ông đậu trước nhà tôi thật dễ để ông bị dèm pha.

"Cám ơn Yaqub," tôi cố kềm giọng nói. "Nhưng như tôi đã quyết định--không gì có thể ép buộc tôi ra khỏi đây!"

Dĩ nhiên đó là một lời ấu trĩ. Một con người hống hách, ương ngạnh của Bilquis xưa lộ rõ chân tướng. Tuy nhiên đó lại là thái độ không làm người bạn tôi ngạc nhiên. "Đó là câu trả lời tôi chờ đợi," Yaqub vừa nói vừa vuốt râu mép và mỉm cười. "Cũng như xưa, sẽ đến lúc bạn phải từ giã Pakistan. Nếu bạn cần giúp đỡ…"

"Nếu đến lúc đó, chắc chắn tôi sẽ nhớ đến lời đề nghị của bạn."

Một giấc mơ khác: lần này là từ Raisham, lúc nào cũng e dè.

"Bà ơi," nó khóc, quỳ xuống bên cạnh đi-văng mà tôi đã ngồi ở đó vào đêm tôi gặp Chúa. "Con có giấc mơ khủng khiếp quá. Con có thể kể cho bà nghe không?"

"Dĩ nhiên."

Tôi lắng nghe. Raisham kể nó mơ thấy một số người hung dữ xông vào nhà và định bắt tôi. Nó khóc, "Con chống trả với họ. Con nói lớn 'Bà ơi, chạy đi!' Và trong giấc mơ con thấy bà chạy ra khỏi nhà và thoát khỏi."

Đôi mắt nâu đen của nó sũng nước. Chính tôi lại là người an ủi nó. Nhưng đối với tôi điều này không khó khăn gì. Trong những lời tôi nói, tôi thấy mình lắng nghe lời khuyên bảo mà chính tôi phải ghi lòng tạc dạ. Tôi nói, "Cháu ơi, gần đây bà cũng nghe nhiều từ Chúa về việc có thể phải đi trốn. Và điều đó có thể xảy ra. Lúc đầu bà không muốn tin. Nhưng bây giờ bà sẽ bắt đầu để ý."

"Rất có thể bà phải đi," vừa nói tôi vừa nâng cằm nó lên và mỉm cười. "Nhưng đi lúc nào thì tùy theo ý Chúa. Bà đang tập để chấp nhận điều đó. Cháu có thể tin bà không?"

Nhỏ người làm im lặng. Sau cùng nó lên tiếng, "Thật là một lối sống tuyệt vời, thưa bà."

"Thật đúng như vậy. Nó là lối duy nhất. Không có gì còn trong sự kiểm soát của mình."

Và mặc dù tôi tin vào mọi điều tôi nói, khi cô người làm bước ra khỏi phòng, tôi thấy mình dường như không làm chủ được cảm xúc như tôi nghĩ. Chạy trốn sao? Bỏ đi sao? Mình mà như vậy sao?

Hàng loạt "cảm nghiệm" bắt đầu xảy đến nhanh hơn vào mùa thu 1971. Một ngày kia, nhỏ Nur-jan hồi hộp đến với tôi và khuôn mặt nó thật căng thẳng.

"Cái gì đó, Nur-jan?" tôi hỏi trong khi nó chải tóc cho tôi, đôi tay nó run rẩy.

"Ôi bà ơi," nó khóc lóc, "con không muốn bà bị tổn thương."

"Tổn thương bởi cái gì?"

Nur-jan lau mắt. Nó cho tôi biết anh của nó, chính anh ruột, đến đền thờ hôm qua và có một nhóm người nói rằng đã đến lúc phải hành động tấn công tôi.

"Cháu có biết họ muốn nói gì không?"

"Thưa bà không. Nhưng con sợ. Không chỉ cho bà nhưng cho cậu bé nữa."

"Một đứa bé mới chín tuổi sao? Họ sẽ…"

"Thưa bà, quê hương này không còn như năm năm về trước," nhỏ Nur-jan nói một cách nghiêm trọng, không như bản tính huyên thuyên của nó. "Bà hãy cẩn thận."

Và thật vậy, chỉ vài tuần sau điều đó đã xảy ra.

Đó là một ngày thật đẹp. Khí trời vẫn còn vương vất mùa thu. Mùa mưa đã qua và thời tiết khô ráo. Không có gì bất hạnh xảy ra trong nhiều ngày đến nỗi tôi phải nhủ thầm, chúng ta đang sống trong thời hiện đại. Đó là 1971 chứ không phải 1571. Các cuộc thánh chiến chỉ là điều trong quá khứ.

Tôi lên lầu vào phòng để cầu nguyện.

Nhưng bỗng dưng, không hiểu tại sao, tôi được thúc giục mạnh mẽ là hãy đưa Mahmud ra khỏi nhà để vào khu vườn!

Thật là một điều điên rồ. Nhưng sự thúc giục ấy thật rõ rệt đến độ tôi chạy vào phòng, đánh thức nó dậy, và không một lời giải thích tôi vội vã kéo nó ra khỏi phòng.

Vẫn cảm thấy điên khùng, tôi chạy vội xuống lầu, mở toang cánh cửa và chạy ra ngoài.

Ngay khi bước ra hàng hiên, tôi ngửi thấy mùi cay sè. Ai đó đang đốt cành thông. Từ lâu tôi đã ra lệnh là không ai được đốt rác trong khu nhà này. Tôi đi tìm người làm vườn và khi vòng qua căn nhà sự sợ hãi bao trùm lấy tôi.

Một đống cành thông được chất sát vào căn nhà đang bùng cháy. Tiếng lửa nổ tanh tách, nóng hừng hực, liếm vào một bên tường và đang dâng cao.

Tôi hét lên. Các người làm chạy vội đến. Không lâu sau đó một số người chạy đi chạy lại để lấy nước ở con suối gần bên. Một vài người khác mở ống nước thường để tưới vườn nhưng sức nước quá yếu. Có lúc, lửa dường như bén vào xà gỗ trên mái nhà. Khói bốc ra âm ỉ. Không cách gì có thể dội nước lên cao đến thế. Cách duy nhất để khỏi cháy nhà là phải dập tắt được ngọn lửa.

Chúng tôi chạy đua với thời gian. Mười người đứng nối đuôi thành một hàng đến suối để chuyền tay nhau các thùng nước bắn tung toé vì vội vã.

Mọi người làm việc cật lực trong nửa giờ đồng hồ, cho đến khi dập tắt được ngọn lửa. Chúng tôi, chừng mười hai người, đứng thành một vòng chung quanh đống lửa. Tất cả đều đẫm mồ hôi, tất cả đều run sợ. Chỉ chậm một vài phút nữa là căn nhà đã bén lửa và không thể nào dập tắt được.

Tôi bắt gặp ánh mắt của nhỏ Nur-jan. Nó nhún vai và gật gật cái đầu.

Tôi biết nó đang nghĩ gì. Sự đe dọa đã được thể hiện. Tôi nhìn đến các xà gỗ, ở đầu xà đã đen lại và khói đen còn in vết trên bức tường trắng. Tôi cảm tạ Chúa vì không gì đáng tiếc xảy ra và rùng mình nghĩ lại không biết điều gì sẽ xảy ra nếu không được thúc giục chạy ra khỏi nhà đúng lúc.

Một tiếng đồng hồ sau, cảnh sát đến lập biên bản điều tra, thẩm vấn tôi và các người làm. Tôi vào phòng, cầm quyển Kinh Thánh lên để xem Chúa có nói điều gì đặc biệt với tôi.

Một câu dường như nổi bật khỏi trang.

"Ngươi phải vội vã, thoát khỏi nơi đó; vì Ta không thể làm gì khác cho đến khi ngươi đến nơi đó" (Sáng Thế 19:22).

Tôi đặt sách xuống và ngước mặt lên trời. "Tất cả những gì Chúa cần làm là xin cho con biết Chúa muốn con từ bỏ nơi đây như thế nào. Điều đó khó hay dễ?"

"Và trên tất cả, lạy Chúa" tôi nói mà nước mắt dàn dụa, "còn cháu bé thì sao? Nó cũng có thể đi với con không? Chúa đã lấy đi tất cả những gì của con. Không lẽ kể cả đứa bé đó sao?"

Sáu tháng sau, một ngày trong tháng Năm 1972, Chúa lại nói với tôi trong một giấc mơ. Raisham đến với tôi trong ánh mắt đầy âu lo.

"Thưa bà, hộp đựng tiền có an toàn không?"

"Dĩ nhiên là an toàn chứ. Sao vậy?"

"Thưa bà," Raisham giải thích và cố dằn xúc động. "Đêm qua con mơ thấy bà đi xa. Bà đem theo hộp đựng tiền."

"Vậy sao?" Điều này không phải bất thường, vì tôi thường đem theo hộp tiền trong các chuyến đi xa.

"Nhưng giấc mơ ấy thật lắm, thưa bà,"Raisham khẩn khoản. "Và điều buồn là khi bà đang đi, người ta chặn bà lại và lấy mất hộp tiền."

Nó run rẩy và một lần nữa tôi phải an ủi nó với sự trấn an rằng việc mất tiền sẽ đưa tôi đến gần với sự quan phòng của Chúa hơn. Sau khi nó đi làm việc tôi nghĩ về giấc mơ ấy. Có thể nào đó là một tiên đoán? Có thể nào nó có nghĩa là tài chánh của tôi sẽ bị người ta tước đoạt? Có phải không bao lâu nữa tôi sẽ phải tự lập, lao mình vào một chỗ xa lạ không ai giúp đỡ?

Đó là những ngày nhiều kinh ngạc. Vì chỉ hai tháng sau, một ngày nóng nực của tháng Bẩy 1972, một người làm đến cho tôi biết Khalid, con trai tôi, đến thăm.

"Khalid?" Con tôi vẫn sống ở Lahore. Sao nó lại đến đây trong một ngày nóng nực như thế này? Có điều gì quan trọng mà nó không thể nói trên điện thoại?

Khalid đang chờ tôi ở phòng khách. "Con!" tôi kêu lên mừng rỡ khi bước vào phòng. "Mẹ thật vui khi thấy con! Nhưng sao con không điện thoại?"

Khalid bước đến ôm hôn tôi. Nó đóng cửa phòng lại và, không dài dòng, nó đi ngay vào mục đích của cuộc viếng thăm. "Mẹ. Con nghe có lời đồn xấu lắm." Nó ngừng lời. Tôi cố mỉm cười. Khalid thấp giọng và tiếp, "Mẹ, chính phủ sẽ sung công nhiều tài sản tư."

Tâm trí tôi nhớ lại cuộc thăm viếng của một người bạn trong chính phủ, ông cũng nói tương tự trên một năm trước, trong tháng Ba 1971. Có phải cuộc viếng thăm có tính cách tiên đoán của ông ấy đang xảy ra? Khalid cho biết Bhutto đang bắt đầu chương trình canh tân ruộng đất và chắc chắn rằng các tài sản của tôi sẽ nằm trong số bị quốc hữu hóa đầu tiên.

"Con nghĩ mẹ phải làm gì?" tôi hỏi. "Liệu họ sẽ lấy một phần hay tất cả?"

Khalid đứng dậy và bước đến cửa sổ nhìn ra khu vườn, trầm ngâm suy nghĩ. Quay lại phía tôi, nó nói:

"Thưa mẹ, chưa ai biết cả. Có thể tốt nhất là bán đi từng lô nhỏ. Như vậy, người chủ mới sẽ được bảo vệ không bị chính quyền lấy mất."

Càng suy nghĩ về điều ấy, tôi càng thấy đề nghị của Khalid có lý. Chúng tôi lái xe đến gặp Tooni để thảo luận về vấn đề, tất cả chúng tôi đồng ý rằng đó là phương cách đúng nhất để tiến hành. Như vậy vấn đề được quyết định. Khalid sẽ trở về Lahore. Chúng tôi sẽ đến đó sau để lo giấy tờ. Cháu Tooni, Mahmud và tôi sẽ theo sau.

Do đó vào một buổi sáng nóng nực trong tháng Bảy 1972, ba chúng tôi lái xe đến Lahore để gặp chuyên viên địa ốc về vấn đề bất động sản của tôi. Khi bước ra khỏi nhà, tôi bàng hoàng trước vẻ đẹp của khu vườn. Mùa hè đã nở rộ và ngay cả các suối nước cũng róc rách mạnh hơn thường lệ.

"Chúng tôi sẽ trở lại trong một vài tuần," tôi nói với các gia nhân khi đứng trước thềm nhà. Mọi người dường như đều chấp nhận ý tưởng đó. Mọi người ngoại trừ Nur-jan và Raisham. Bỗng dưng Nur-jan bật khóc và bỏ đi.

Một cách buồn bã tôi bước lên phòng ngủ để lấy một vật để quên. Khi quay trở ra trước khi xuống lầu, Raisham đứng trước mặt tôi. Nó cầm lấy tay tôi, mắt nó ngập lệ.

"Chúa sẽ đi với bà," nó nhỏ nhẹ.

"Và Chúa cũng ở với cháu," tôi trả lời.

Raisham và tôi đứng im lặng một hồi lâu, không nói một lời nhưng hiểu tất cả. Vì lý do nào đó tôi biết rằng không bao giờ tôi gặp lại dáng người mảnh khảnh này nữa. Tôi xiết tay nó và nói thầm, "Không có ai chải tóc đẹp như cháu."

Raisham hai tay ôm lấy mặt rồi chạy ra khỏi phòng. Tôi vừa mới đến cửa phòng ngủ thì có điều gì chặn tôi lại. Tôi bước trở vào phòng và đứng đó. Một sự im lặng bao trùm căn phòng. Ánh mặt trời buổi sáng lùa vào từ cửa sổ phía khu vườn. Đây là nơi tôi đã được biết đến Thiên Chúa.

Tôi quay lưng lại căn phòng và khu vườn yêu quý, nơi tôi từng được biết đến sự Hiện Diện của Chúa, và đi thẳng ra xe.

Lahore có những người tôi thực sự vui mừng được gặp. Trước hết, dĩ nhiên là Khalid, vợ và cô con gái tuổi thiếu nữ. Sau đó có thể là tôi sẽ được gặp ông bà Olds. Tôi đã viết thư báo là tôi sẽ đến Lahore. Trụ sở truyền giáo mới của họ trong một ngôi làng hơi xa thành phố, nhưng tôi hy vọng sẽ gặp lại các bạn cũ.

Vào tháng Bẩy, như thường lệ, Lahore nóng như thiêu đốt, các con đường cũ của thành phố bốc hơi với nước của trận mưa cuối cùng. Khi chúng tôi len lỏi qua các con đường đầy chật người ở trung tâm thành phố, chiếc loa phóng thanh trên tháp đền kêu lạch tạch, sau đó bùng ra giọng đanh thép của lời kinh cầu buổi trưa. Dòng xe cộ bỗng dưng thưa hẳn khi các xe lớn nhỏ đều dạt vào lề đường. Các người lái xe bước xuống vệ đường, trải khăn và phủ phục cầu nguyện.

Tooni chỉ có thể ở với chúng tôi trong chốc lát vì những bổn phận ưu tiên phải làm. Sau khi chúng tôi hoàn tất các giấy tờ cần thiết, Khalid đưa chúng tôi đến trạm xe lửa để Tooni kịp chuyến xe. Đó là giây phút đau lòng ở bến xe, đau xót hơn tôi tưởng. Theo dự định, cháu Mahmud sẽ gặp lại mẹ nó trong một vài ngày. Tuy nhiên chúng tôi đều cảm thấy sự bất thường về cuộc tiễn biệt này. Mahmud, gầy và cao lêu nghêu vì đã gần mười tuổi, cố cầm nước mắt khi hôn từ biệt mẹ nó. Tooni khóc thành tiếng khi ôm lấy đứa con trai. Bỗng dưng tôi thấy mình cũng khóc và cả ba chúng tôi ôm lấy nhau ở trạm xe lửa.

Sau cùng, Tooni hất mái tóc đen hạt dẻ ra sau và gượng cười: "Thôi, đây đâu có phải là đám tang đâu."

Tôi mỉm cười, hôn cháu, và Mahmud cùng với tôi nhìn Tooni bước lên toa. Khi đầu máy vang lên tiếng kèn inh ỏi và chậm chạp rời bến, tim tôi thắt lại. Tôi đưa mắt tìm kiếm khuôn mặt của Tooni sau các khung cửa sổ. Khi nhận ra vị trí, cả Mahmud và tôi đều đưa tay lên hôn gió từ biệt.

Một cách thèm khát, tôi in chặt hình ảnh Tooni trong tâm trí.

Ngày hôm sau tôi gặp các chuyên viên địa ốc, họ cho biết việc bán bất động sản phải mất vài tuần. Khalid trấn an rằng bao lâu chúng tôi muốn ở lại đây, nó rất sẵn sàng.

Điều làm tôi khó chịu là tôi không có sự hiệp thông tinh thần. Bây giờ tôi mới biết tại sao các môn đệ phải đi hai người một. Kitô hữu cần nhau để nâng đỡ và an ủi.

Tôi điện thoại cho ông bà Old. Thật sung sướng là dường nào khi được nghe tiếng bà Marie! Chúng tôi cười với nhau và khóc với nhau cũng như cầu nguyện với nhau trên điện thoại. Mặc dù vì chương trình bận rộn nên họ không đến được Lahore, họ đã giúp tôi tiếp xúc với các Kitô hữu ở trong thành phố. Bà Marie đặc biệt nhắc đến vợ của một giáo sư đại học, bà Peggy Scholorholtz.

Thật kỳ lạ! Tại sao tim tôi đập mạnh khi nghe đến tên ấy?

Chỉ trong vòng vài phút, bà Peggy và tôi đã tiếp xúc với nhau qua điện thoại. Trong vòng một vài giờ, bà đã có mặt trong phòng khách nhà Khalid. Khi thấy tôi, bà nhoẻn miệng cười.

Bà nói, "Này bà Begum Sheikh, có thật là lần đầu tiên bà gặp Chúa Giêsu trong một giấc mơ không? Làm thế nào mà bà biết đến Chúa?"

Và thế là ngay trong phòng khách, tôi kể cho bà nghe toàn thể câu chuyện, như mới xảy ra sáu năm trước đây. Bà chăm chú lắng nghe. Khi tôi dứt lời, bà cầm lấy tay tôi và nói một điều thật ngạc nhiên.

"Tôi ao ước phải chi bà đến Hoa Kỳ với tôi!"

Tôi nhìn bà, chết lặng. Và một lần nữa tim tôi lại đập mạnh.

"Tôi nói thật đó," bà Peggy nói. "Tôi sẽ rời đây không lâu để đưa con vào trường. Tôi sẽ ở Hoa Kỳ trong bốn tháng. Bà có thể đi với tôi và nói chuyện với các hội thánh ở đó!"

Bà quá hăng hái nên tôi không muốn làm bà cụt hứng. Tôi mỉm cười trả lời, "Tôi cám ơn lời mời của bà. Nhưng tôi phải cầu nguyện xem đã."

Sáng hôm sau, người hầu đưa tôi xem một mẩu giấy. Tôi đọc và phá lên cười. Mẩu giấy từ bà Peggy với câu hỏi, "Bà đã cầu nguyện chưa?" Tôi mỉm cười, vo viên mẩu giấy và tư lự. Thật quá phi lý để nghĩ về điều đó.

Trừ phi… Bỗng dưng các biến cố trong hai năm vừa rồi dồn dập lướt qua tâm trí tôi. Các giấc mơ. Các cảnh cáo. Việc cháy nhà. Sự quyết định của tôi là thi hành bất cứ điều gì Chúa muốn--ngay cả phải từ bỏ quê hương.

Không. Tôi chưa thực sự đặt câu hỏi của bà Peggy với Chúa. Nhưng giờ đây tôi phải thi hành. Tôi giao phó chuyến đi trong bàn tay của Người. Điều đó thật khó vì tôi biết nếu từ giã thì không chỉ có bốn tháng. Nó sẽ mãi mãi.

"Lạy Chúa, con sẽ lập lại điều đó một lần nữa. Chúa biết con muốn ở lại quê hương là chừng nào. Nói cho cùng, con đã 52 tuổi, và không còn thời giờ để bắt đầu lại.

"Nhưng," tôi thở dài. "Nhưng… đó không phải là điều quan trọng nhất phải không Chúa? Điều quan trọng thực sự là ở trong sự Hiện Diện của Ngài. Lạy Chúa xin giúp con đừng bao giờ để con quyết định điều gì khiến con phải xa với sự vinh hiển của Chúa."

Xem Tiếp