Chương 14: CHUYẾN BAY

T

hật kỳ cục, sau khi Chúa thay đổi ý định của tôi về việc từ giã Pakistan, bỗng dưng có nhiều trở ngại.

Thí dụ, một trở ngại dường như không thể vượt qua được là quy tắc một công dân Pakistan chỉ có thể đem ra khỏi nước năm trăm đôla.  Như bất cứ vị thành niên nào, cháu Mahmud chỉ có thể đem 250 đô la. Làm thế nào mà tôi và Mahmud có thể sống trong vòng bốn tháng với 750 đô la được? Chỉ điều này thôi cũng đủ để tôi đừng nghĩ đến lời đề nghị của bà Peggy.

Một vài ngày sau đó, bà Peggy mời chúng tôi đến thăm nhà. Khi trò chuyện, tên của Tiến Sĩ Christy Wilson bỗng dưng được nhắc đến. Bà cũng biết đến ông này. Tôi thực sự lưu tâm đến ông từ khi nghe biết chính phủ Hồi Giáo trục xuất ông ra khỏi A Phú Hãn và thiêu hủy ngôi thánh đường mà ông đã dựng nên ở Kabul cho người ngoại quốc.

"Bà có biết ông ấy ở đâu không?" tôi hỏi.

"Tôi không rõ lắm," bà Peggy trả lời.

Ngay lúc đó, có tiếng chuông điện thoại. Bà Peggy đi vào trả lời. Khi trở ra, đôi mắt tròn xoe, bà hỏi: "Bà có biết ai đó không? Chính là ông Christy Wilson!"

Sau đôi chút sững sờ, chúng tôi phá lên cười và tự hỏi không biết đó có phải là "tình cờ" hay không. Bà Peggy nói Ts. Wilson vừa mới đi ngang qua Lahore. Ông muốn ghé thăm. Dĩ nhiên tôi vui mừng, vì đó là cơ hội tốt để biết thêm tin tức, nhưng tôi linh cảm rằng đó không chỉ là một cuộc viếng thăm thông thường.

Chúng tôi có một cuộc họp mặt tuyệt diệu tại nhà bà Peggy vào ngày hôm sau. Tôi cho Ts. Wilson biết những biến cố xảy ra ở Wah và trong chính cuộc đời tôi. Sau đó bà Peggy nói với ông là bà đang dụ dỗ tôi sang Hoa Kỳ. Ông rất thích thú với ý tưởng đó.

"Tuy nhiên, có một vài trở ngại," bà Peggy nói. "Thứ nhất là quy tắc chuyển ngân mà bà Bilquis chỉ có thể đem năm trăm đô la ra khỏi nước."

"Tôi nghĩ…" Ts. Wilson vừa nói vừa xoa cằm. "Tôi có vài người bạn, có thể họ… Có lẽ tôi sẽ đánh điện tín… Tôi có biết một người ở California…"

Sau một vài ngày, bà Peggy điện thoại cho tôi, thật phấn khởi. Bà la lên, "Bà Bilquis này. Mọi chuyện đã được sắp xếp! Bs. Bob Pierce của tổ chức Samaritan's Purse sẽ bảo trợ cho bà! Có thể nào bà sẵn sàng ra đi trong vòng bảy ngày không?"

Bẩy ngày! Bỗng dưng cái ý tưởng khủng khiếp là phải từ bỏ quê hương lướt nhanh qua đầu tôi. Vì tôi vẫn tin rằng nếu tôi ra đi, nó sẽ mãi mãi.

Làng Wah… khu vườn… căn nhà… dòng họ… Có thể nào tôi thực sự muốn từ bỏ?

Được, tôi có thể. Tôi có thể không nghĩ gì khác hơn nếu tôi thực sự tin rằng đây là ý Chúa. Vì tôi đã biết điều gì sẽ xảy ra nếu tôi bất tuân phục. Sự Hiện Diện của Người sẽ tan biến.

Hơn hai mươi bốn giờ sau, dường như một sự xác nhận khác lại xảy đến. Khi ở bữa ăn, Khalid bảo tôi chỉ còn một chi tiết nhỏ cần được che đậy thì mọi khó khăn về bất động sản đều vượt qua. Khalid nói, "Con nghĩ mẹ có thể an tâm nói rằng cho đến hôm nay, mẹ đã bị tước đoạt các tài sản mà mẹ muốn bán."

Sau đó bỗng dưng các cánh cửa đóng sập lại. Không bởi Thiên Chúa, dường như vậy, nhưng bởi quê hương tôi. Vì còn một quy tắc mới được ban hành, đó là không một người Pakistan nào có thể rời bỏ quê hương nếu chưa đóng tất cả thuế lợi tức. Phần của tôi đã trả đủ, nhưng tôi cần giấy chứng nhận. Tôi phải có Chứng Nhận Thanh Thỏa Thuế Lợi Tức. Chỉ với giấy này tôi mới có thể mua vé máy bay sang Hoa Kỳ.

Bốn ngày trong bảy ngày đã trôi qua; bây giờ chỉ còn lại ba ngày trong khi tôi và Khalid bước vào văn phòng chính phủ để xin giấy Chứng Nhận Thanh Thoả. Khalid và tôi đều nghĩ rằng sẽ chẳng có khó khăn gì, vì mọi giấy tờ của tôi đều hợp lệ.

Văn phòng nằm trên một con đường bận rộn nhất của trung tâm Lahore. Tuy nhiên, khi bước vào văn phòng, điều gì đó khiến tôi thấy kỳ lạ. Nó quá yên lặng đối với một văn phòng công chức thường lệ, nơi các thư ký chạy đi chạy lại và dường như lúc nào cũng có người tranh luận với nhân viên.

Khalid và tôi là những người duy nhất trong văn phòng, không kể ông thư ký đầu hói ngồi tận góc phòng đang đọc báo. Bước đến gần, tôi cho ông biết điều tôi muốn.

Ông thoáng ngước nhìn lên rồi lắc đầu. "Xin lỗi bà," vừa nói ông vừa nhìn vào tờ báo, "có cuộc bãi công đang xảy ra."

"Một cuộc bãi công?"

"Phải, thưa bà," ông nói. "Vô hạn định. Không ai làm việc. Không ai có thể làm gì cho bà."

Tôi nhìn ông chằm chặp. Rồi tôi bước lùi ra vài bước. "Chúa ơi," tôi kêu lớn, nhưng chỉ đủ để con tôi nghe được, "Ngài đã đóng cánh cửa rồi sao? Nhưng sao cho đến bây giờ Chúa lại khuyến khích con?"

Sau đó một ý tưởng chợt đến. Có thực sự Người đóng cánh cửa này không? Tôi cầu nguyện, "Được rồi, Cha ơi. Nếu đó là ý Cha là Mahmud và con sẽ sang Hoa Kỳ, Cha sẽ là người sắp xếp để con được giấy phép." Một cảm giác tin tưởng tràn ngập và tôi thấy mình lên tiếng nói với ông thư ký.

"Dường như ông đang làm việc," tôi nói. "Tại sao ông không thể cấp giấy phép cho tôi?"

Ông liếc nhìn tôi một cách khó khăn. Dường như ông là loại người luôn luôn vui vẻ để từ chối.

"Tôi đã nói với bà là có cuộc bãi công mà," ông cằn nhằn.

"Nếu vậy, ông cho tôi gặp trưởng phòng." Một điều tôi học được khi làm việc với chính phủ là để công việc được trôi chẩy, tôi phải luôn luôn đến với cấp cao hơn.

Ông thư ký thở dài, gấp tờ báo lại và tháp tùng tôi sang một văn phòng kế cận. "Đợi ở đây," ông lại cằn nhằn, sau đó biến vào phòng. Tôi có thể nghe được những tiếng thì thầm từ căn phòng ấy, sau đó một người bước ra và làm hiệu cho tôi vào.

Khalid và tôi đứng trước một ông trung niên đẹp trai ngồi sau một cái bàn sứt sẹo. Tôi giải thích nhu cầu của mình. Ông ngả người ra sau ghế, tay vân vê cây bút chì. "Tôi xin lỗi thưa bà… Bà… bà nói tên bà là gì?"

"Bilquis Sheikh."

"Tôi xin lỗi. Tuyệt đối chúng tôi không thể làm gì được khi đang bãi công…" Nhưng bỗng dưng đôi mắt ông loé lên chút tia sáng quen biết.

"Bà có phải là Begum Sheikh người tổ chức Chương Trình Sống Đơn Giản không?"

"Chính tôi."

Ông đập tay trên bàn rồi nói lớn. "Vậy thì," ông kéo ghế lại gần bàn và mời tôi ngồi xuống. "Tôi nghĩ đó là chương trình tốt đẹp nhất của quê hương chúng ta."

Tôi mỉm cười.

Sau đó ông trưởng phòng tựa đôi tay trên bàn một cách tín cẩn. "Bây giờ để xem chúng tôi có thể làm gì cho bà."

Ông buộc tôi phải giải thích một cách chính xác đâu là vấn đề và tôi cho ông biết là tôi phải đến Karachi để kịp chuyến bay sang Hoa Kỳ trong vòng ba ngày. Khuôn mặt ông có vẻ nghiêm trọng. Đứng thẳng người, ông gọi người thư ký bên ngoài. "Bảo người phụ tá mới vào đây."

Trầm giọng, ông nói, "Tôi vừa mới có người đánh máy tạm thời. Hắn không thuộc về ban làm việc thường xuyên và không bãi công. Hắn có thể đánh máy bản Chứng Nhận. Chính tôi sẽ đóng dấu. Tôi rất vui để giúp bà."

Một vài phút sau, tôi đã có tờ Chứng Nhận trong tay, thị thực đầy đủ. Khi ra khỏi đó, tôi thú nhận là tôi đã phe phẩy tờ giấy trước mặt ông thư ký, và ông đã ngước lên nhìn tôi lâu đủ để thấy tôi mỉm cười và nghe tôi nói, "Xin Chúa chúc lành cho ông."

Khi chúng tôi rời văn phòng chính phủ, Khalid ngạc nhiên nhận xét rằng chỉ mất có hai mươi phút để hoàn tất mọi vấn đề. Nó nói, "Nhanh hơn là nếu có người làm việc thường lệ!"

Tim tôi reo vui, tôi cố gắng giải thích cho Khalid hiểu rằng Thiên Chúa khao khát tình bạn trung thành của chúng ta. Khi chúng ta cầu xin, Người muốn hoạt động với chúng ta.  Đó là nguyên tắc Cây Gậy Môsê. Nếu tôi giao khoán mọi khó khăn cho Chúa mà không cố gắng sống đức tin, có lẽ không bao giờ tôi có được giấy chứng nhận. Tôi phải bước đi để giải quyết bất cứ gì có thể. Tôi phải yêu cầu gặp người trưởng phòng. Cũng như Chúa yêu cầu ông Môsê lấy gậy đập vào đá, Người cũng yêu cầu chúng ta tham dự trong công việc phép lạ của Người.

Khalid hơi chút ngạc nhiên trước nhiệt tình của tôi, nhưng nó trầm tĩnh lại và mỉm cười: "Này mẹ, con có điều muốn nói. Con thấy mẹ thay vì nói 'Cám ơn', mẹ lại nói 'Chúa chúc lành cho bạn.' Và khi mẹ nói như vậy, con thấy đó là điều tốt đẹp nhất chưa bao giờ con nghe."

Bây giờ, mọi giấy tờ đã đầy đủ tôi tự hỏi có nên trở về làng Wah để từ giã hay không, vì cho đến lúc bấy giờ tôi vẫn tin rằng chuyến đi này sẽ lâu hơn bốn tháng. Tuy nhiên, khi đưa ra đề nghị này, Khalid nói:

"Mẹ không nghe biết gì về trận lụt hay sao?"

Mưa lớn đã tàn phá một phần của Pakistan giữa Lahore và Wah. Nhiều vùng đất rộng bị ngập nước. Mọi sự di chuyển đều bế tắc. Chính phủ phải đảm trách việc lưu thông.

Tâm hồn tôi chùng lại. Ngay cả chào tạm biệt tôi cũng không được phép. Chúa muốn tôi dứt khoát cắt đứt, như ông Lót ngày xưa được bảo là không được quay lại nhìn.

Tôi dự định rời Lahore vào sáng thứ Sáu. Tôi sẽ bay đến Karachi rồi đổi máy bay sang Hoa Kỳ. Bà Peggy và cậu con trai sẽ đi từ Tân Đề-li. Chuyến bay của bà cũng sẽ ngừng tại Karachi và từ đó, sẽ đi cùng chuyến bay với tôi và Mahmud. Tuy nhiên, vào sáng thứ Năm, có một sức lực thúc giục tôi là đừng chờ đợi. Tôi lo lắng nghĩ đến cháu Mahmud. Chắc chắn rằng tin tức sẽ đồn về làng Wah là chúng tôi không chỉ đến thăm Lahore mà đang trên đường ra khỏi nước. Có thể nào những người bà con sẽ tìm cách đưa Mahmud ra khỏi sự ảnh hưởng "sai lạc" của tôi không? Liệu tôi có bị ngăn cản bởi một vài lý do nào đó không thành thật? Tôi cảm thấy sự nguy hiểm trùm lấp.

Không, tôi không thể chờ đợi. Tôi sẽ từ giã ngay hôm ấy. Tôi sẽ đến Karachi ở với một vài người bạn, tránh lộ diện.

Bởi thế vào chiều hôm đó, sau khi vội vàng khăn gói, Mahmud và tôi tạm biệt Khalid và gia đình nó rồi mau lẹ ra phi trường. Chúng tôi bay khỏi Lahore mà lòng thấy nhẹ nhõm.

Đứng như tôi còn nhớ, Karachi là một sa mạc dài và các thành phố nằm dọc theo biển Ấn Độ Dương. Đó là một pha trộn giữa cũ và mới, giữa các con lạc đà và những chiếc Roll Royce, giữa các tiệm tạp hóa đầy ruồi nhặng với các nhà hàng sang trọng hiện đại. Tuyệt diệu. Thành phố quá lớn nên chúng tôi sẽ bị cuốn hút trong đó.

Chúng tôi ở với một người bạn và tôi đi mua sắm, chuẩn bị sang Hoa Kỳ vào ngày hôm sau. Bỗng dưng, một sự đàn áp kỳ lạ đến với tôi. Tôi nhắm mắt lại và dựa người vào tường cầu xin Chúa bảo vệ. Tôi cảm thấy Mahmud và tôi sẽ phải đi đến một khách sạn vào tối hôm đó. Tôi cố xua đuổi ý nghĩ ấy. "Thật điên khùng!" Tôi tự nhủ. Sau đó tôi nhớ đến câu chuyện của ba Đạo Sĩ trong một giấc mơ được khuyến cáo là phải đi về bằng đường khác.

Không lâu, chúng tôi thuê khách sạn của hãng Air France ở ngay trong khu phi trường. Tôi vội vã đưa Mahmud vào phòng, gọi thức ăn đưa lên phòng và chúng tôi chờ đợi. Mahmud dường như không yên. Nó hỏi, "Tại sao chúng ta phải bí mật như vậy?"

"Bà nghĩ là chúng ta chỉ phải giữ im lặng một chút, thế thôi."

Đêm hôm trước khi bay, tôi trằn trọc trên giường suy nghĩ. Tại sao tôi quá sợ hãi? Không có lý do nào đích thực. Có phải tôi đã mất tinh thần? Có phải tôi đã phản ứng quá đáng với những đe dọa trong quá khứ? Vụ cháy nhà? Tôi chập chờn ngủ được vài giờ đồng hồ. Lúc hai giờ sáng tôi thức dậy và mặc quần áo, lại cảm thấy có sự cấp bách giục giã. Tôi lại cảm thấy nực cười. Không phải là tôi. Tôi chỉ có thể giải thích là đã đến lúc tôi phải ra khỏi khách sạn và tôi được Chúa đẩy đi. Tôi hối hả mặc quần áo cho Mahmud còn đứng chưa vững, sau đó lấy các hành lý để ra cửa cho nhân viên khách sạn đem ra xe.

Lúc ấy là ba giờ sáng. Máy bay sẽ cất cánh lúc năm giờ. Mahmud, vẫn còn thèm ngủ, cùng đứng với tôi trước khách sạn chờ xe tắc xi đưa chúng tôi đến phi trường. Tôi nhìn lên mặt trăng không đầy đặn và tự hỏi, có phải đây là lần cuối cùng tôi ngắm trăng khi còn ở quê hương? Một cơn gió sớm phớt qua thoang thoảng mùi hoa thủy tiên, có lẽ từ một chậu hoa gần đó, và tim tôi như nghẹn ngào, vì cảm thấy rằng sẽ không bao giờ tôi được nhìn lại khu vườn của tôi nữa.

Sau cùng một chiếc tắc xi trờ tới. Mahmud và tôi leo lên xe. Tôi cầu nguyện khi xe len qua dòng xe cộ. Ngay cả vào lúc sáng sớm, các con đường ở phi trường cũng đã bận rộn. Khi ngừng ở các ngã tư, tôi bồn chồn thu mình sâu hơn vào ghế. "Chúng mình chỉ giữ im lặng trong chốc lát thôi," tôi nói với chính mình, để cố trấn tĩnh tôi và Mahmud. Không, không đúng như vậy. Điều tôi thực sự cần là cầu nguyện. "Lạy Chúa, xin lấy đi sự lo lắng này. Trong Chúa không có sự lo lắng. Con không thể vừa tín thác vào Chúa vừa lo lắng! Tuy nhiên nếu đây là điều Chúa thúc giục thì sẽ có lý do và con xin vâng theo."

Chúng tôi ghé vào cảng phi trường và đi vào hành lang râm ran tiếng phản lực pha trộn với các âm thanh chói tai của hàng trăm tiếng nói trong một bầu khí khẩn trương. Tim tôi như ngừng đập khi nhìn lên và thấy lá cờ của quê hương tôi, hình ngôi sao và lưỡi liềm trên nền xanh lá cây, đang phất phới trong gió. Tôi sẽ luôn luôn tôn trọng lá cờ đó, người dân và đức tin Hồi Giáo của họ. Một nhân viên đẩy vội hành lý của chúng tôi vào quầy vé là nơi tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy mớ hành lý biến dạng một cách an toàn.

Mỗi người chỉ được mang 40 cân. Tôi mỉm cười khi nghĩ đến các chuyến bay nội địa mà trước đây mỗi khi gia đình tôi đi đâu, dù chỉ một vài tuần lễ nhưng cả hàng ngàn cân đồ đạc và các chị em của tôi phải kêu than vì mớ quần áo họ không được mang theo.

Chúng tôi phải đợi một giờ đồng hồ trước khi máy bay cất cánh. Kéo Mahmud sát bên cạnh, tôi cảm thấy tốt nhất chúng tôi nên trà trộn trong đám đông ở phi trường để khỏi bị nhận diện. Nhưng tôi không thể gạt bỏ cảm giác nguy hiểm cận kề. Một lần nữa tôi lại trách mình về sự lo lắng không cần thiết. Tôi tự nhủ, Chúa là người bảo bọc. Người đã dẫn dắt tôi đến hoàn cảnh này, và tất cả mọi sự tôi cần là vâng theo.

Rồi Mahmud muốn đi vệ sinh. Chúng tôi bước dọc theo hành lang đến phòng vệ sinh dành cho các ông. Tôi đứng đợi ở ngoài hành lang.

Bỗng dưng tiếng loa phóng thanh gọi tên chuyến bay của chúng tôi.

"Hành khách chuyến bay sang Nữu Ước của hãng Pan Am sẵn sàng lên tầu."

Tim tôi đập mạnh. Mahmud đâu rồi! Chúng ta phải đi!

Sau cùng, cửa phòng vệ sinh mở ra. Nhưng không, đó là một người Sikh vấn khăn đi ra.

Tôi thấy mình lần mò đến cửa phòng. Tôi làm gì vậy! Chắc chắn là không một phụ nữ nào trong quốc gia Hồi Giáo này dám lần mò vào phòng vệ sinh đàn ông dù để tìm đứa cháu chín tuổi.

Bây giờ, họ lại gọi chuyến bay của chúng tôi. "Chuyến bay sang Nữu Ước của hãng Pan Am đã sẵn sàng cất cánh. Tất cả các hành khách phải lên tầu."

Ôi thôi! Tim tôi nức nở. Tôi phải làm điều gì đó. Tôi đẩy cánh cửa phòng vệ sinh và kêu lớn, "Mahmud!"

Một tiếng yếu ớt vang lên, "Con ra bây giờ, bà ơi…"

Tôi thở phào nhẹ nhõm và ngả người vào tường. Không lâu Mahmud bước ra. "Con ở đâu vậy? Sau lâu vậy!" Tôi la lớn.

Không cần nghe câu trả lời, tôi nắm tay nó và chạy như bay dọc theo hành lang đến cửa lên tầu.

"Ôi chà, bà ơi," Mahmud trầm trồ, "Máy bay lớn quá!"

Máy bay lớn thật. Chiếc 747 thật lớn. Cả hai chúng tôi đều khích động. Tôi chưa bao giờ thấy chiếc máy bay nào lớn như vậy.

Khi sắp sửa bước lên tầu, tôi hơi do dự, đây là lần cuối cùng tôi còn ở trên đất Pakistan.

Nhưng tôi phải đi vào. Bên trong máy bay, tôi thấy như một thính đường, có tiếp viên hướng dẫn đến ghế ngồi. Bà Peggy đâu? Tôi phải làm gì khi đến Hoa Kỳ mà không có bà?

Và kìa bà đang tiến đến phía chúng tôi. Bà giang tay ôm lấy tôi.

"Thật quý hóa," bà kêu lên. "Tôi lo quá khi không thấy bà trong đám đông đợi lên tầu!" Tôi giải thích việc xảy ra và bà có vẻ an tâm. Bà giới thiệu chúng tôi với người con trai của bà. "Tiếc quá chúng ta không được ngồi chung với nhau," bà nói. "Họ chỉ đâu thì mình ngồi đó."

Thành thật mà nói, mọi sự đều tốt đẹp. Lúc ấy tôi không muốn trò chuyện nhiều. Họ hiểu là tôi đang lìa xa quê hương. Chắc chắn là tôi cảm thấy buồn, nhưng đồng thời cũng cảm thấy hoàn tất. Tôi không thể hiểu điều đó.

Không lâu, Mahmud hồn nhiên trở lại. Nó làm quen với các người tiếp viên để đưa nó đến xem phòng lái. Nó trở về say mê. Tôi thấy vui. Các tiếp viên yêu cầu chúng tôi thắt giây an toàn. Tôi nhìn qua cửa sổ để thấy các tia nắng đầu tiên le lói ở phía đông. Các động cơ nổ ầm ầm và tôi cảm thấy khích động. Máy bay chúng tôi bắt đầu ra phi đạo. Tôi nhìn ra phía sau nhưng không thấy bà Peggy.

Mahmud ngồi cạnh tôi. Khuôn mặt nó đầy khích động khi các máy phản lực nổ mạnh để cất cánh. Tôi cầm lấy tay Mahmud và cầu nguyện.

"Chúa ơi, bây giờ là cái gì? Con lại cảm thấy hoàn tất! Chúa đã đưa con ra khỏi quê hương, như ông Abram xưa. Không biết điều gì sẽ đến, nhưng hoàn tất. Con thấy an lòng vì con ở với Ngài."

Bây giờ, sự sợ hãi và lo lắng không còn quấy rầy tôi. Tất cả những gì tôi biết là tôi đã vâng lời Chúa trong mọi sự. Và tôi phải thú nhận rằng nếu tôi không vâng theo mọi mệnh lệnh và đi theo sự chỉ dẫn của Người thì không biết những gì sẽ xảy ra.

Các tia sáng yếu ớt len qua các cửa sổ và bỗng dưng tiếng ầm ì của bánh xe bên dưới giảm dần. Chúng tôi đang ở trên không! Trong tia nắng bình minh, tôi có thể thấy bờ biển Pakistan trên Ấn Độ Dương xa dần sau lưng.

Tôi đã giang cánh tay lên với Chúa. Người là sự an toàn duy nhất của tôi. Niềm vui duy nhất của tôi là được ở trong sự Hiện Diện của Người. Một khi ở trong đó, tôi biết là mình đang sống trong sự vinh hiển của Người.

"Lạy Chúa, tạ ơn Chúa," tôi thì thầm. "Cám ơn Chúa đã cho con du lịch với Ngài."

Lời Kết

1978--Sáu năm đã trôi qua kể từ khi nhìn thấy quê hương tôi xa dần trong làn sương sớm. Nhận thức rằng tôi sẽ không nhìn lại Pakistan quả là điều tiên tri.

Tôi chưa bao giờ trở về. Chuyến thăm ngắn ngủi đã được kéo dài vì nhiều lý do. Trước hết, các bạn tôi khuyên rằng, tốt nhất cho tôi và Mahmud--một thiếu niên mười lăm tuổi và có tên là David--là đừng trở về. Tôi cũng nhận được các điều tương tự từ các người bạn có thẩm quyền ở quê nhà. Trong năm 1976 có một cuộc họp của Nghị Hội Thế Giới Hồi Giáo mà một giải pháp đã được thông qua là họ kêu gọi các tổ chức, các đài phát thanh truyền giáo và nhân viên Kitô Giáo phải rút ra khỏi quê hương. Hiển nhiên là bây giờ tôi sẽ không được đón nhận khi trở về.

Quan trọng hơn cả, Chúa đã rõ ràng muốn tôi ở lại đây; dường như ở Hoa Kỳ cần được nghe câu chuyện đời tôi. Đầu tiên tôi được cho thấy điều này trong một thị kiến khi mới đến Hoa Kỳ. Chúa đứng trong phòng tôi. Người yêu cầu tôi nói về gánh nặng của Người vì các giáo hội, và sẽ có sự tách biệt giữa chiên và dê và cuộc phán xét sẽ bắt đầu từ Nhà Chúa. Tôi khép nép trước công việc; nó không phải là chỗ để tôi nói với người khác về những thiếu sót của họ. Tôi là khách của quốc gia này và là một Kitô Hữu mới. Vì vậy, tôi hỏi: "Lạy Chúa, tại sao lại là con?"

Xem Tiếp