Chương 3: NHỮNG GIẤC MƠ

M

ãi cho đến ngày hôm sau tôi mới cầm lại cuốn Phúc Âm mầu sám nhạt. Cả cô con gái Tooni cũng như tôi đều không nhắc nhở gì đến cuốn sách ấy sau khi chúng tôi đổi đề tài nói chuyện. Nhưng trong suốt buổi chiều dài dặc ấy những chữ trong đoạn Phúc Âm lại thoáng hiện trong ý thức của tôi.

Vào chiều tối ngày hôm sau, tôi về an phòng định nghỉ ngơi và tịnh niệm. Tôi cầm lấy cuốn Phúc Âm và ngả mình giữa đám gối trắng êm ả trên chiếc đi-văng. Một lần nữa tôi lại lướt qua các trang giấy và nhìn thấy một đoạn khiến tôi bối rối.

Nhưng dân Ít-ra-en, tuân thủ Luật công chính, nhưng đã không đạt được mục tiêu công chính. (Roma 9:31)

À, tôi nghĩ. Cũng như trong sách Koran có nói; người Do Thái đã không thấy mục tiêu. Người viết những đoạn này có lẽ là một người Hồi Giáo, vì họ tiếp tục nói về dân Do Thái không biết đến sự chính trực của Thiên Chúa.

Nhưng đoạn kế tiếp làm tôi nín thở.

Vì Đức Kitô là cứu cánh của sự đấu tranh trở nên công-chính-bởi-Lề-Luật cho bất cứ ai tin vào Người. (Roma 10:4)

Tôi hạ thấp cuốn sách. Đức Kitô? Ngài là cứu cánh của sự đấu tranh sao? Tôi đọc tiếp.

Vì sự bí ẩn thì rất gần với bạn, trong lòng bạn, ngay trên miệng… Nếu bạn công khai tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. (Roma 10:8-9)

Tôi lại đặt cuốn sách xuống và lắc đầu. Điều này quá trái ngược với kinh Koran. Người Hồi Giáo tin rằng ngôn sứ Giêsu chỉ là con người, họ cho rằng ông này không chết trên thập giá nhưng được Thiên Chúa vội đưa về trời và một người khác, trông giống ông Giêsu, được nằm thế chỗ trên thập giá. Và sau một thời gian ở thiên đàng cấp thấp hơn, một ngày nào đó ông Giêsu này sẽ trở về trái đất để cai trị trong bốn mươi năm, kết hôn, sinh con cái, và chết. Quả thật, tôi nghe rằng có một ngôi mộ đặc biệt được dành cho hài cốt của ông này ở Medina, là nơi Môhamét cũng được chôn cất ở đó. Vào Ngày Sống Lại, ngôn sứ Giêsu sẽ sống dậy và cùng đứng với các người khác để chịu phán xét bởi Thiên Chúa Toàn Năng. Nhưng sách Phúc Âm lại nói là Đức Kitô được chỗi dậy từ kẻ chết. Đó hoặc là điều phạm thánh hoặc …

Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi tin rằng bất cứ ai kêu cầu đến danh Ala sẽ được cứu thoát. Nhưng tin rằng Đức Giêsu Kitô là Ala thì sao? Ngay cả Môhamét, người sứ giả vĩ đại sau cùng của Thiên Chúa, Dấu Ấn của các Ngôn Sứ, cũng chỉ là con người và đã chết.

Tôi nằm dài trên giường, tay tôi che mắt. Nếu sách Phúc Âm và kinh Koran đều trưng ra cùng một Thiên Chúa, tại sao có quá nhiều điều mơ hồ và trái ngược? Làm thế nào có thể cùng một Thiên Chúa được, nếu Thiên Chúa của kinh Koran là đấng trừng phạt và báo thù trong khi Thiên Chúa của Phúc Âm là đấng hay thương xót và thứ tha? Tôi thiếp đi lúc nào không biết. Bình thường tôi không mơ, nhưng đêm ấy tôi đã mơ. Giấc mơ quá thực, các biến cố trong giấc mơ quá thực đến nỗi sáng hôm sau, thật khó tin đó là giấc mơ. Đây là những gì tôi thấy.

Bỗng dưng tôi thấy mình ngồi ăn với một người mà tôi biết đó là Đức Giêsu. Ngài đến thăm tôi và ở lại nhà tôi hai ngày. Ngài ngồi đối diện với tôi ở bàn ăn và chúng tôi ăn uống một cách vui vẻ. Bỗng dưng, giấc mơ thay đổi. Bấy giờ tôi ở trên đỉnh núi với một người khác. Ông mặc áo dài và chân đi dép. Làm thế nào mà tôi biết được tên ông, có phải đó cũng là điều bí ẩn? Ông là Gioan Tẩy Giả. Cái tên thật lạ. Bỗng dưng tôi kể cho ông nghe về cuộc thăm viếng mới đây của Đức Giêsu. Tôi nói: "Đức Chúa đến và là khách của tôi trong hai ngày. Nhưng Ngài đã đi rồi. Ngài ở đâu? Tôi phải tìm Ngài! Có lẽ ông, là Gioan Tẩy Giả, sẽ dẫn tôi đến với Ngài?"

Đó là giấc mơ. Khi tỉnh giậy, tôi thấy mình kêu to "Gioan Tẩy Giả! Gioan Tẩy Giả!" Hai đầy tớ Nur-jan và Raisham vội vã vào phòng. Chúng có vẻ bối rối khi thấy tôi la lớn nhưng chúng làm bộ phớt lờ và chuẩn bị cho tôi làm vệ sinh buổi sáng. Tôi kể lại cho chúng nghe về giấc mơ.

"Ồ, thật tốt đẹp, " Nur-jan vừa cười khúc khích vừa bâng khay dầu thơm đến cho tôi. "Thưa bà, đó là một giấc mơ đẹp, " Raisham vừa nói vừa chải tóc cho tôi. Tôi ngạc nhiên vì là một Kitô Hữu mà Raisham không có vẻ gì khích động hơn. Tôi định hỏi Raisham về Gioan Tẩy Giả nhưng vội ngừng lại; nói cho cùng, Raisham cũng chỉ là một phụ nữ quê mùa. Nhưng Gioan Tẩy Giả là ai? Từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ đọc thấy tên ấy trong Phúc Âm.

Trong ba ngày kế tiếp, tôi tiếp tục đọc cả hai cuốn Phúc Âm và Koran cùng một lúc, hết cuốn này đến cuốn kia. Tôi thấy mình cầm cuốn Koran lên vì bổn phận, và rồi lại hăng hái quay sang cuốn Phúc Âm, đắm mình trong đoạn này đoạn nọ để tìm hiểu những chữ mới mà tôi vừa khám phá ra. Mỗi lần mở sách Phúc Âm, mặc cảm tội lỗi lại dâng lên trong người tôi. Có lẽ là vì tôi được giáo dục quá khắt khe khi còn nhỏ. Ngay khi là một thiếu nữ, cuốn sách nào tôi đọc đều phải được cha tôi chấp thuận. Có lần hai anh em tôi cất lén một cuốn sách đem vào phòng. Dù sách đó chẳng có gì xấu, nhưng chúng tôi thật lo sợ khi đọc cuốn sách ấy.

Bây giờ, khi mở sách Phúc Âm, tôi cũng thấy mình phản ứng tương tự. Một câu chuyện thu hút sự chú ý của tôi. Đó là các nhà lãnh đạo Do Thái đưa một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình đến với Ngôn Sứ Giêsu. Tôi rùng mình khi nghĩ đến số phận của người phụ nữ này. Quy tắc luân lý của vùng đông phương xưa cũng không khác với người Pakistan chúng tôi. Theo truyền thống, người đại diện cho cộng đồng phải trừng trị người phụ nữ ngoại tình. Khi đọc đến đoạn người phụ nữ đứng trước các kẻ buộc tội, tôi biết rằng chính anh em, chú bác, cô dì của bà cũng đứng đó, sẵn sàng để ném đá.

Và rồi Ngôn Sứ Giêsu nói: Người nào sạch tội hãy ném đá trước (Gioan 8:7).

Tôi choáng váng khi thấy dân chúng len lén bỏ đi. Thay vì giám sát cái chết của bà này, Đức Giêsu đã buộc những kẻ lên án phải nhận ra tội lỗi của mình. Cuốn sách hạ xuống lòng khi tôi nằm đó đắm mình trong tư tưởng. Có một điều gì quá đúng, quá hợp lý về sự thách đố của vị ngôn sứ này. Ngài nói sự thật.

Và rồi ba ngày sau tôi lại có một giấc mơ kỳ lạ thứ hai:

Tôi đang ở trong phòng ngủ khi người đầy tớ cho biết có một người bán dầu thơm đang chờ gặp tôi. Tôi bật người ngồi dậy, vì lúc này ở Pakistan đang khan hiếm dầu thơm nhập cảng. Tôi rất lo sợ khi không có những món hàng xa xỉ ấy. Vì vậy, trong giấc mơ, tôi vui mừng nói đầy tớ mời ông ta vào.

Ông ăn mặc y như những thương gia thời mẹ tôi còn sống, họ đi từ nhà này sang nhà kia để rao hàng. Ông mặc chiếc áo choàng đen của nhà tu và tay cầm chiếc va-li đựng dầu thơm. Mở va-li ra, ông cầm lên một bình bằng vàng. Mở nắp ra, ông đưa bình cho tôi. Khi nhìn vào dầu ấy, tôi nín thở, dầu thơm lóng lánh như pha lê lỏng. Tôi sửa soạn đưa tay chạm vào thì ông ấy rút tay lại.

"Đừng, " ông nói. Và cầm lấy bình vàng, ông bước đến bàn ngủ và đặt trên ấy. Ông nói: "Nó sẽ lan toả khắp thế giới. "

Khi tôi thức giậy, giấc mơ còn sống động trong tâm trí. Mặt trời len qua cửa sổ, và tôi vẫn còn ngửi thấy mùi thơm ấy; hương ngọt ngào của nó lan toả khắp phòng. Tôi ngồi dậy và nhìn về chiếc bàn ngủ, với hy vọng là sẽ thấy chiếc bình vàng ở đó.

Thay vào đó, chỗ chiếc bình là cuốn sách Phúc Âm!

Một sự rộn ràng trong tôi. Ngồi bên cạnh giường tôi trầm ngâm về hai giấc mơ. Chúng có nghĩa gì? Đã bao năm tôi không mơ gì cả, bây giờ liên tục tôi có hai giấc mơ sống động. Chúng có liên hệ gì với nhau không? Và chúng có liên can gì đến cảm nghiệm mới đây của tôi với những thực tại của thế giới siêu nhiên không?

Chiều hôm ấy, tôi dạo quanh vườn như thường lệ. Tôi vẫn còn kinh ngạc về các giấc mơ. Nhưng giờ đây, một điều gì đó được thêm vào. Tôi cảm thấy một niềm vui kỳ lạ, một sự bình an vượt trên bất cứ gì mà tôi chưa bao giờ biết đến. Như thể tôi được gần với sự Hiện Diện của Thiên Chúa. Bỗng dưng, khi từ trong bóng râm bước ra vùng ánh sáng, bầu khí chung quanh như sinh động hẳn lên với một mùi thơm nhẹ nhàng. Đó không phải là hương hoa--vì lúc ấy chẳng còn hoa nào nở--nhưng một mùi thơm rất thực.

Đôi chút bối rối, tôi quay trở về nhà. Mùi thơm ấy ở đâu ra? Điều gì đang xảy đến với tôi? Ai là người tôi có thể đề cập đến những điều này? Chắc phải là ai đó có kiến thức về Phúc Âm. Tôi gạt qua ý định hỏi các người đầy tớ Kitô Giáo. Thứ nhất, đi hỏi họ là điều không thể tưởng tượng được. Vì có lẽ họ chưa bao giờ đọc Phúc Âm và chẳng biết điều tôi muốn hỏi. Tôi phải nói chuyện với ai đó có học hỏi và biết rõ về cuốn sách này.

Khi suy tư về câu hỏi ấy, một ý tưởng thật bất ngờ đến với tôi. Tôi cố chống lại ý tưởng ấy. Đó phải là một nơi chốn sau cùng mà tôi phải đến để được giúp đỡ.

Nhưng một cái tên cứ tiếp tục ám ảnh tôi mãi đến nỗi sau cùng tôi phải điện thoại cho ông tài Manzur.

"Tôi muốn ông lấy xe ra cho tôi." Và không kịp để ông trả lời, tôi nói thêm: "Chính tôi sẽ lái xe. "

Mắt ông tròn xoe. "Chính bà?"

"Phải chính tôi. Ông làm ơn." Ông đi ra một cách do dự. Ít khi tôi lái xe ra khỏi nhà lúc trời tối. Tôi từng là một sĩ quan trong đội nữ quân nhân Hoàng Gia Ấn thời Thế Chiến II, và từng lái xe cứu thương hàng ngàn dặm trên các đường gồ ghề. Nhưng thời chiến là một chuyện và lúc ấy tôi còn có đồng đội. Là con gái của dòng dõi quý tộc Nawab thì không thể tự lái xe trong cuộc sống bình thường, nhất là khi ban đêm.

Nhưng tôi biết, không thể nào liều lĩnh để ông Manzur biết tôi đi đâu và gây nên nhiều xì xầm trong các đầy tớ. Tôi tin rằng chỉ có một nguồn để tìm ra câu trả lời cho những thắc mắc: Gioan Tẩy Giả là ai? Mùi thơm này có nghĩa gì?

Vì vậy, tôi hôm ấy, vô cùng do dự tôi lái xe đến nhà của đôi vợ chồng mà tôi biết rất ít, ông bà Mục Sư David Mitchell là người đã đến thăm tôi vào tối mùa hè năm ấy. Là các nhà truyền giáo, họ là những người sau cùng mà tôi muốn được gặp.

Xem Tiếp