Chương 4: CUỘC GẶP GỠ

C

hiếc Mercedes đen vẫn còn nổ máy và đậu ngay trên lối vào. Ông Manzur đứng bên cạnh cánh cửa tài xế mà ông chỉ khép hờ để giữ cho không khí trong xe còn ấm áp khỏi bị các luồng gió lạnh tối mùa thu lùa vào. Đôi mắt đen nháy của ông như vẫn còn thắc mắc về quyết định của tôi, nhưng không dám hỏi. Tôi chui vào chiếc xe ấm áp, ngồi ngay ngắn sau tay lái và phóng xe vào bóng đêm với cuốn Phúc Âm đặt trên ghế bên cạnh.

Trong ngôi làng Wah bé nhỏ này, mọi người đều biết nhau. Ngôi nhà của ông bà Mitchell nằm cạnh lối vào nhà máy xi măng mà gia đình tôi có phần lợi nhuận ở trong đó. Nhà máy như trung tâm điểm của một cộng đồng nhỏ bé xa lạ ở ngoại vi thành phố chừng năm dặm. Các ngôi nhà ở đây được dựng lên như các trung tâm hành quân tạm thời của lính Anh trong thời Thế Chiến II. Tôi nhớ có vài lần mạo hiểm vào khu vực mà các ngôi nhà cùng một kiểu, xám xịt vì lớp vôi trắng đã phai nhạt theo thời gian với các mái tôn vá chằng chịt. Một cảm giác lẫn lộn giữa sự sợ hãi và ngóng đợi tràn ngập tôi khi lái xe vào khu vực. Từ trước đến giờ, chưa bao giờ tôi đến nhà của người thừa sai Kitô Giáo. Tôi hy vọng sẽ biết thêm về một con người bí ẩn, Gioan Tẩy Giả, tuy nhiên tôi lại sợ--điều mà tôi gọi là "bị ảnh hưởng"--bởi những người sẽ trả lời cho tôi.

Ông bà tổ tiên tôi sẽ nghĩ gì khi tôi đến thăm một người thừa sai Kitô Giáo? Tôi nghĩ đến ông cố nội của tôi là người đã từng hộ tống Tướng Nicholson lừng danh của Anh trong cuộc chiến ở Khyper Pass khi đánh nhau với A Phú Hãn. Thật ô danh cho dòng tộc vì cuộc thăm viếng này. Chúng tôi từng gán ghép các nhà thừa sai với bọn cùng đinh nghèo khổ và những người sống bên lề xã hội. Tôi tưởng tượng ra cuộc đối thoại với các ông bác, bà cô mà trong đó tôi bảo vệ cho hành động của tôi bằng cách kể cho họ nghe các giấc mơ kỳ lạ của mình. Tôi lẩm bẩm, "Nói cho cùng, ai cũng muốn tìm hiểu cái ý nghĩa của các giấc mơ sâu sắc ấy."

Khi lái vào khu vực nhà ông bà Mitchell trong ánh sáng lờ mờ chạng vạng tối, quang cảnh không khác xưa, giống như tôi còn nhớ, ngoại trừ các căn nhà lụp xụp ấy dường như tồi tệ hơn. Sau khi lái xe lên xuống để tìm kiếm trong các con đường nhỏ hẹp, tôi thấy nhà của ông bà Mitchell nằm ở gần nhà máy xi măng, đúng như tôi dự đoán, đó là căn nhà một tầng với lớp vôi loang lổ, nằm kín đáo sau lùm cây dâu nuôi tằm. Thận trọng, tôi dừng xe ở một khoảng xa cho đến khi tôi lấy lại bình tĩnh. Tôi lo sợ quá xa về những gì mà dòng họ tôi suy nghĩ. Do đó tôi đậu xe ngay trước nhà ông bà Mitchell, tay cầm quyển Kinh Thánh và đi vội đến căn nhà. Tôi để ý thấy mảnh vườn thật gọn gàng và hàng hiên cũng được chăm sóc cẩn thận. Tối thiểu thì những người truyền giáo này cũng biết sửa soạn đấy chứ.

Bỗng dưng, cánh cửa nhà mở toang và một nhóm các bà trong làng vừa đi ra vừa cười nói líu lo, họ trong y phục thường ngày, với chiếc váy rộng và khăn quàng cổ. Tôi sững người bất động. Dĩ nhiên, họ sẽ nhận ra tôi; hầu như mọi người trong làng Wah đều biết tôi. Và rồi người ta sẽ đồn ầm lên rằng bà Begum Sheikh đến nhà của một người truyền giáo!

Ngay khi các bà nhìn thấy tôi qua ánh sáng yếu ớt hắt ra từ cánh cửa, họ cũng ngưng bặt và vội vã ra về, khi vượt qua mặt tôi, họ không quên đưa tay chạm vào trán theo kiểu chào truyền thống. Không biết làm gì hơn, tôi tiếp tục tiến về cánh cửa là nơi bà Mitchell đang đăm đăm nhìn vào bóng đêm. Khi đến gần, tôi thấy bà không khác gì trước đây, lúc lần đầu tiên tôi trông thấy bà ở dưới phố, vẫn dáng người mảnh khảnh, trẻ trung. Chỉ có khác là bây giờ bà cũng quấn chiếc khăn quàng như các bà nhà quê kia. Ngay khi nhìn thấy tôi, miệng bà há hốc và thốt lên, "Ơ kìa, ... bà Begum Sheikh! Sao lại… nhưng mà… mời bà vào. Mời vào."

Tôi thấy vui khi bước vào nhà bà, tránh khỏi các đôi mắt dòm ngó của các bà nhà quê mà tôi biết đang theo dõi tôi từng bước. Chúng tôi bước vào phòng khách, nhỏ bé và ít đồ đạc. Bà Mitchell kéo chiếc ghế, có lẽ lịch sự nhất trong phòng, để mời tôi ngồi gần lò sưởi. Chính bà thì lại đứng mà không ngồi, với hai bàn tay không ngừng mở ra rồi lại úp vào. Tôi liếc mắt nhìn một hàng ghế được xếp chung quanh phòng. Bà Mitchell giải thích là bà vừa mới xong lớp học hỏi Kinh Thánh với các phụ nữ trong làng. Bà hắng giọng bồn chồn, "Bà dùng chút trà nhé?" vừa nói bà vừa bới tóc ra đằng sau.

"Không, cám ơn bà," tôi trả lời. "Tôi đến để hỏi một chuyện." Tôi nhìn quanh. "Mục Sư Mitchell có ở nhà không?"

"Ồ không. Ông ấy đang trong chuyến đi A Phú Hãn."

Tôi hụt hẫng. Người phụ nữ đứng trước mặt tôi thì trẻ quá! Liệu bà ấy có thể trả lời cho câu hỏi của tôi không?

Tôi đánh bạo, "Bà Mitchell này, bà có biết gì về Thiên Chúa không?"

Bà ngồi xệp xuống chiếc ghế gỗ và nhìn tôi ngạc nhiên; trong phòng chỉ còn bập bùng tiếng lửa trong lò sưởi. Rồi bà trả lời một cách thản nhiên, "Tôi sợ là tôi không biết nhiều về Thiên Chúa, nhưng tôi có biết Người."

Thật là một câu trả lời lạ thường! Một con người thì làm thế nào có thể biết được Thiên Chúa! Tương tự như vậy, sự quả quyết kỳ quặc của người phụ nữ này lại đem cho tôi sự tin tưởng. Trước khi tôi thật sự biết những gì đang xảy ra, tôi thấy mình thố lộ với bà về giấc mơ của tôi với ngôn sứ Giêsu và một người tên là Gioan Tẩy Giả. Và thật lạ, tôi thấy mình khó khăn để giữ giọng nói cho tự nhiên khi kể lại cảm nghiệm ấy. Ngay khi kể lại, tôi vẫn cảm thấy phấn khởi y như khi đứng trên đỉnh núi đó. Và rồi, sau khi diễn tả giấc mơ của mình, tôi rướn người tới trước, hỏi:

"Bà Mitchell, tôi từng nghe biết về Đức Giêsu, nhưng Gioan Tẩy Giả là ai?"

Bà nheo mắt nhìn tôi và tư lự. Tôi cảm thấy như bà muốn hỏi rằng có phải thực sự tôi không biết Gioan Tẩy Giả là ai, nhưng rồi bà ngồi lại tư thế cũ. "Thưa bà Begum, Gioan Tẩy Giả là một ngôn sứ, một người đến trước Đức Giêsu Kitô, ông rao giảng về sự sám hối và được sai đi dọn đường cho Đức Giêsu. Ông là người đã chỉ về Đức Giêsu và nói: 'Đây là Chiên Thiên Chúa, đấng gánh tội trần gian.' Ông là người đã thanh tẩy Đức Giêsu."

Không hiểu sao tôi lại không muốn nghe chữ "thanh tẩy". Tôi biết rất ít về những người Kitô giáo này, nhưng tất cả người Hồi Giáo thì đều biết nghi thức thanh tẩy lạ lùng ấy. Đầu óc tôi chợt nhớ đến những người bị thảm sát sau khi thanh tẩy. Và điều này xảy ra ngay cả dưới chế độ Anh quốc khi người ta được cho là có tự do tôn giáo. Ngay khi còn trẻ tôi cũng từng biết rằng: một người Hồi Giáo được thanh tẩy là người ấy phải chết.

"Bà Begum?"

Tôi ngước mắt lên. Không biết chúng tôi ngồi im lặng như thế đã bao lâu? "Này bà Mitchell," giọng của tôi gò bó, "xin đừng coi tôi là một người Hồi Giáo. Hãy nói cho tôi biết: bà muốn nói gì khi bà nói là biết Thiên Chúa?"

Bà Mitchell trả lời "Tôi biết Đức Giêsu," và tôi biết là bà nghĩ rằng bà đang trả lời đúng câu hỏi của tôi.

Sau đó bà kể cho tôi nghe những gì mà Chúa đã làm cho bà và thế gian bằng cách phá vỡ sự bế tắc giữa loài người tội lỗi và Thiên Chúa bởi chính Người đã đến trái đất này bằng xương thịt, là Đức Giêsu, và chết cho tất cả chúng ta trên thập giá.

Căn phòng lại trở nên im lặng. Tôi có thể nghe được tiếng xe vận tải di chuyển từ xa lộ gần đó. Dường như bà Mitchell không vội lên tiếng. Sau cùng, sau khi hít một hơi dài, tai tôi không thể tin được là chính tôi đã nói một cách rõ ràng rằng, "Bà Mitchell này, mới đây có những điều thật khác thường xảy ra tại nhà chúng tôi. Chuyện thần thánh hay ma quỷ gì đó. Tôi cảm thấy như mình đang ở giữa một sự giằng co lớn và tôi cần mọi sự trợ giúp tốt đẹp. Bà cầu nguyện cho tôi được không?"

Bà có vẻ sững sờ khi nghe tôi yêu cầu, sau đó, bình tĩnh lại, bà hỏi tôi muốn đứng, quỳ hay ngồi khi chúng tôi cầu nguyện, tôi nhún vai, bỗng dưng thấy khó chịu. Tất cả đều không thể tưởng tượng được. Nhưng người phụ nữ mảnh khảnh này đã quỳ trên sàn. Và tôi cũng quỳ theo bà!

"Ôi Thần Khí của Thiên Chúa," bà nói nhỏ nhẹ, "con biết là chẳng có gì con nói có thể giúp bà Begum Sheikh biết Chúa Giêsu là ai. Nhưng con cám ơn Chúa vì Chúa đã vén tấm màn ra để mắt tâm hồn chúng con nhận ra Đức Giêsu. Ôi, Thần Khí Thiên Chúa, xin hãy làm điều ấy cho bà Begum Sheikh. Amen."

Chúng tôi vẫn quỳ gối trong một thời gian dường như bất tận. Tôi thấy sung sướng trong sự thinh lặng ấy, vì lòng tôi cảm thấy ấm lại một cách kỳ lạ.

Sau cùng, bà Mitchell và tôi đứng dậy. "Thưa bà Begum, đó có phải là cuốn Phúc Âm không?" vừa hỏi bà vừa nghiêng đầu về cuốn sách mầu xám nhạt mà một tay tôi giữ chặt ở trên ngực. Tôi đưa cuốn sách cho bà. "Làm sao bà có cuốn này?" Bà ấy hỏi. "Có dễ hiểu không?"

"Không dễ lắm," tôi trả lời. "Cuốn đó theo kiểu dịch cũ và tôi không thích lắm."

Bà đi sang phòng bên cạnh và trở lại với một cuốn sách.

"Đây là cuốn Tân Ước viết theo lối hiện đại," bà nói. "Nó được gọi là kiểu dịch của Phi-líp. Tôi thấy cuốn này dễ hiểu hơn các cuốn khác. Bà có muốn không?"

"Có," tôi trả lời một cách không do dự.

"Hãy bắt đầu với Phúc Âm theo Thánh Gioan," bà Mitchell khuyên tôi và mở sách ra rồi đặt vào đó một mẩu giấy nhỏ để làm dấu. "Đây là một ông Gioan khác, nhưng ông ấy nói rất rõ về vai trò của Gioan Tẩy Giả."

"Cám ơn bà," tôi trả lời, cảm thấy biết ơn. "Và bây giờ tôi nghĩ là đã mất thời giờ của bà quá nhiều."

Khi tôi chuẩn bị ra về, bà Mitchell nói: "Bà biết không, thật thú vị khi biết rằng chỉ vì các giấc mơ mà bà đã đến đây. Thiên Chúa thường nói với con cái của Người qua giấc mơ và thị kiến."

Khi bà giúp tôi khoác chiếc áo ngoài, tôi tư lự không biết có nên kể cho bà nghe về một giấc mơ khác nữa hay không. Giấc mơ về người bán dầu thơm. Dường như thật… kỳ lạ. Nhưng như đã từng xảy ra một vài lần trong buổi tối kỳ lạ này, tôi thấy mình đầy can đảm mà dường như sự can đảm ấy đến từ bên ngoài con người của tôi. "Bà Mitchell này, bà có thể nói cho tôi biết là có sự liên hệ gì giữa dầu thơm và Đức Giêsu không?"

Bà suy nghĩ đôi chút, tay bà đặt trên núm cửa. Bà nói: "Không. Tôi không thấy được gì cả. Tuy nhiên, tôi sẽ cầu nguyện để biết điều đó."

Khi lái xe về nhà, tôi lại cảm thấy sự Hiện Diện có mùi thơm lạ lùng như hồi sáng sớm trong khu vườn.

Khi về nhà tối hôm ấy, tôi đọc một vài đoạn Phúc Âm được gọi là "Phúc Âm theo Thánh Gioan", mà văn sĩ viết về Gioan Tẩy Giả, một người kỳ dị mặc áo lông lạc đà sống trong hoang dã, kêu gọi người ta sám hối để chuẩn bị đón Chúa. Và sau đó, trong sự êm ấm của căn phòng với các đồ cổ quý giá, một tư tưởng chợt đến trong đầu tôi, một cách tự động, ngoài ý muốn nhưng bị gạt bỏ cách nhanh chóng. Nếu Gioan Tẩy Giả là một dấu chỉ của Thiên Chúa, một dấu chỉ hướng đến Đức Giêsu, thì có phải cũng chính người này chỉ tôi về Đức Giêsu không?

Dĩ nhiên, ý tưởng này không vững. Tôi gạt ra khỏi tâm trí và đi ngủ.

Sáng hôm sau, khi tiếng ngân nga của thầy tu Hồi Giáo đánh thức tôi dậy cầu nguyện, tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi mọi sự lại có vẻ rõ ràng. Tối hôm qua, thật là một chuỗi tư tưởng kỳ quái mà tôi cứ giữ trong đầu! Giờ đây, khi tiếng thầy tu nhắc nhở tôi về chân lý, tôi lại cảm thấy an tâm, tránh khỏi sự khuấy động vì ảnh hưởng của Kitô Giáo.

Ngay lúc đó, Raisham bước vào, không phải với khay trà nhưng với một mẩu tin mà nó cho biết mới được gửi đến sáng sớm.

Do bà Mitchell gửi đến, mẩu giấy vỏn vẹn chỉ có hàng chữ: "Hãy đọc thư thứ hai của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô, chương 2, câu 14."

Tôi cầm quyển Phúc Âm mà bà ấy đã cho tôi và tìm kiếm. Và rồi, khi đọc, tôi phải nín thở:

Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng dẫn dắt chúng tôi trên hành trình khải hoàn của Đức Kitô dù chúng tôi ở bất cứ đâu, và làm cho sự hiểu biết của chúng tôi về Người được lan toả khắp thế gian như hương thơm!

Tôi ngồi xuống giường, đọc lại đoạn này, sự bình tĩnh của tôi mới vài phút trước đây đã vỡ vụn. Sự hiểu biết về Đức Giêsu lan toả như hương thơm! Trong giấc mơ, người bán hàng đặt một bình vàng thơm phức trên bàn ngủ và nói rằng hương thơm này "sẽ lan toả khắp thế giới." Sáng hôm sau, tôi thấy quyển Phúc Âm ở ngay vị trí của bình dầu thơm! Tất cả quá rõ ràng. Tôi không muốn suy nghĩ thêm về điều ấy. Phải uống trà mới được. Uống trà và xoay hướng cuộc đời về điểm hội tụ chính đáng trước khi lại xảy ra những điều ngoài ý muốn.

Mặc dù bà Mitchell có mời tôi trở lại, nhưng tôi cảm thấy tốt nhất là không nên. Có lẽ một quyết định khôn ngoan là tôi phải tự mình tìm hiểu Phúc Âm. Tôi không muốn bị bất cứ bên nào thúc đẩy. Tuy nhiên, một chiều kia, Nur-jan vội vã vào phòng tôi với ánh mắt kỳ quặc. Nó thở hổn hển, "Mục Sư và bà Mitchell đang ở đây muốn gặp bà."

Tay tôi ôm lấy cổ. Tại sao họ lại đến đây? Tôi bâng khuâng. Tuy nhiên, mau mắn lấy lại bình tĩnh, tôi bảo nó mời họ vào phòng khách.

Ông David Mitchell cao lêu nghêu với cặp mắt nhăn nheo, và cũng có vẻ thân thiện như vợ ông. Cả hai người có vẻ sung sướng khi thấy tôi đến nỗi tôi quên cả sự bực dọc vì họ đến nhà của tôi.

Bà Mitchell giơ tay ra bắt, sau đó bà ôm lấy tôi. Tôi sững sờ. Không ai ngoài dòng họ, kể cả bạn thân nhất, lại ôm tôi như vậy. Tôi cứng người nhưng bà Mitchell dường như không để ý đến phản ứng của tôi. Nghĩ lại, tôi phải thú thực là hình thức chào đón này làm tôi vui lòng. Không có một sự giả dối nào trong cách chào đón của bà.

"Tôi thật vui sướng để được gặp 'Bà Hoa'," ông David reo lên theo kiểu cách người Hoa Kỳ.

Tôi đưa mắt nhìn bà Mitchell và bà cười. "Tôi phải giải thích mới được. Khi bà đến nhà chúng tôi, tôi muốn đánh điện tín báo cho chồng tôi biết ngay lập tức, vì chúng tôi thường nhắc đến bà luôn kể từ khi được thăm khu vườn của bà vào mùa xuân năm ngoái. Tuy nhiên, để bảo vệ bà, tôi không muốn dùng tên thật của bà. Khi suy nghĩ không biết phải đề cập đến bà như thế nào trong bức điện tín, tôi liếc nhìn qua cửa sổ thì thấy những bông hoa mọc lên từ các hột giống mà người làm vườn của bà đã cho chúng tôi. Tôi chợt nghĩ đến cái tên 'Bà Hoa', và đó là mật mã của chúng tôi."

Tôi cười, "Từ bây giờ trở đi ông bà có thể gọi tôi là Bilquis."

Bà nói, "Và cũng xin vui lòng gọi tôi là Synnove."

Đó là một cuộc thăm viếng kỳ lạ. Tôi nghĩ một phần là vì tôi nửa muốn nửa không khi chờ đợi ông bà Mitchell áp lực tôi phải chấp nhận tôn giáo của họ, nhưng điều đó không xảy ra. Chúng tôi uống trà và chuyện gẫu. Tôi có đặt câu hỏi về Đức Giêsu được gọi là '"Con Thiên Chúa," vì đối với người Hồi Giáo, không có tội nào lớn hơn sự tự nhận này. Kinh Koran nói đi nói lại rằng Thiên Chúa không có con. Tôi hỏi, "Và đây là 'Ba Ngôi'? Thiên Chúa là bộ ba?"

Để trả lời, ông David so sánh Thiên Chúa với mặt trời có ba năng lực sáng tạo là sức nóng, ánh sáng và sự chiếu tỏa, một tương giao bộ ba cùng nhau tạo thành mặt trời, tuy nhiên chỉ có một không thôi thì không phải là mặt trời. Sau đó không lâu họ ra về.

Vài ngày sau, tôi lại thấy mình đơn độc với hai cuốn sách--kinh Koran và Kinh Thánh. Tôi tiếp tục đọc cả hai, tham khảo kinh Koran là vì sự trung thành đã khá lâu, nghiên cứu Kinh Thánh là vì một sự đói khát kỳ lạ trong tâm hồn.

Tuy nhiên, nhiều khi tôi không cầm cuốn Kinh Thánh. Không thể nào Thiên Chúa ở trong cả hai quyển. Tôi biết, vì sứ điệp của hai cuốn ấy thật khác biệt. Nhưng khi tôi do dự không muốn cầm lấy cuốn sách mà bà Mitchell đã cho, tôi cảm thấy thất vọng kỳ lạ. Trong tuần qua tôi sống trong một thế giới mỹ miều, không phải trong khu vườn do tôi chăm sóc, nhưng trong khu vườn nội tâm được hình thành bởi một nhận thức mới về tâm linh. Lần đầu tiên tôi bước vào thế giới mỹ miều này qua hai giấc mơ; sau đó, lần thứ hai tôi nhận thức về thế giới này vào đêm mà tôi được gặp một sự Hiện Diện không thể giải thích trong khu vườn nhà tôi; và tôi được biết sự Hiện Diện ấy một lần nữa khi tôi tuân theo sự thúc giục để đến thăm ông bà Mitchell.

Một cách từ từ, rõ ràng, trong vòng vài ngày kế đó, tôi bắt đầu biết cách trở về với thế giới mỹ miều ấy. Và việc đọc cuốn sách Kitô Giáo này dường như là chìa khóa để vào được thế giới đó, mà tôi chưa thấu hiểu các lý do.

Và rồi một ngày kia, cháu Mahmud một tay ôm tai đến với tôi, nó nhăn nhó "Mẹ ơi, đau tai quá."

Tôi cúi xuống xem xét tai nó cẩn thận. Nước da nâu sậm của nó có vẻ hơi tái, và tuy Mahmud không phải là đứa bé hay vòi vĩnh, tôi cũng thấy được vệt nước mắt còn in trên gò má rám nắng.

Tôi bế cháu nằm lên giường và ru khẽ, mớ tóc đen của nó thật tương phản với chiếc gối trắng. Và sau khi nó thiếp ngủ, tôi điện thoại cho nhà thương Thánh Gia ở Rawalpindi. Trong vòng một phút, Tooni đã ở đầu giây bên kia. Nó đồng ý là hôm sau phải đưa Mahmud đến nhà thương để khám xét toàn bộ. Tôi sẽ có thể ở trong căn phòng kế cận và người đầy tớ cũng sẽ được cấp cho một cái phòng nhỏ bên cạnh.

Trời đã nhá nhem tối khi chúng tôi đến nhà trọ. Tooni có được một buổi tối rảnh rang để ở với chúng tôi. Không bao lâu, Mahmud và mẹ nó đã cười khúc khích bên những tấm hình mà cháu Mahmud tô mầu. Tôi ngả người trên giường đọc Phúc Âm. Tôi cũng mang theo cuốn Koran, chỉ vì bổn phận hơn là vì muốn đọc.

Bỗng dưng, đèn trong phòng chợt lập loè, và rồi tắt ngúm. Căn phòng tối om.

Tôi bực mình, "Lại bị cúp điện. Con có thấy cây đèn cầy nào không?"

Trong giây lát, cánh cửa mở ra và một nữ tu bước vào với chiếc đèn pin trên tay. Bà vui vẻ nói, "Tôi hy vọng là bà không sợ bóng tối. Chúng tôi sẽ đem đèn cầy đến ngay." Tôi nhận ra là bác sĩ Pia Santiago, một người Phi Luật Tân tầm vóc trung bình, có đeo kính và là người chịu trách nhiệm cả khu nhà thương. Lần trước chúng tôi có gặp nhau trong giây lát. Hầu như ngay lúc đó một nữ tu khác bước vào với đèn cầy cháy sáng, ánh sáng ấm áp lập tức lan toả khắp phòng. Mahmud và Tooni tiếp tục chơi giỡn trong khi tôi chuyện trò với Bs Santiago. Không thể nào tôi không thấy bà đang chăm chú nhìn vào cuốn Phúc Âm.

"Tôi có thể nói chuyện với bà một chút được không, nếu bà không phiền?" Bác sĩ Santiago hỏi.

"Thật quý hoá," tôi trả lời, nghĩ rằng đó chỉ là cuộc thăm viếng xã giao. Bà kéo chiếc ghế lại gần giường tôi nằm và ngồi xuống.

"Thật chưa tối nào bận như tối nay," bà vừa nói vừa tháo mắt kính và lau mắt với chiếc khăn tay.

Tôi thành thật cảm thấy mến bà. Người Hồi Giáo luôn tôn trọng các phụ nữ thánh thiện này, họ đã hy sinh để phục vụ Thiên Chúa của họ; đức tin của họ có thể không đúng chỗ, nhưng sự chân thành của họ thì có thật. Chúng tôi trò chuyện với nhau nhưng càng nói tôi càng cảm thấy người nữ tu này có một ý định gì trong đầu. Đó là cuốn Phúc Âm. Tôi thấy bà liếc nhìn cuốn sách với nhiều vẻ tò mò. Sau cùng, bà nghiêng mình tới trước và hỏi với giọng cẩn mật, "Này bà Sheikh, bà có cuốn Phúc Âm ấy để làm gì vậy?"

Tôi trả lời: "Tôi thành khẩn tìm kiếm Thiên Chúa." Và rồi, trong ánh nến bập bùng, tôi kể cho bà nghe các giấc mơ, lúc đầu còn dè dặt nhưng càng ngày càng mạnh dạn hơn về các cuộc gặp gỡ với bà Mitchell, và tôi so sánh Phúc Âm với kinh Koran. Tôi nhấn mạnh: "Bất cứ điều gì xảy ra đi nữa, tôi phải tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng tôi bị hoang mang về đức tin của bà," sau cùng, vừa nói tôi vừa nhận thấy rằng ngón tay tôi đang đặt trên một vật quan trọng. "Dường như bà coi Thiên Chúa rất là… riêng tư--tôi không biết nói thế nào!"

Đôi mắt của người nữ tu đầy vẻ thương cảm và bà nghiêng mình tới trước. "Thưa bà Sheikh," với giọng đầy xúc động bà nói, "chỉ có một cách duy nhất để tìm ra lý do tại sao chúng ta lại cảm thấy như vậy. Và chính bà phải tự mình tìm kiếm, dù lạ lùng thế nào đi nữa. Tại sao bà không cầu nguyện với Thượng Đế mà bà đang tìm kiếm? Xin Người chỉ cho bà biết con đường của Người. Hãy nói chuyện với Người như thể Người là bạn của bà."

Tôi mỉm cười. Bà cũng đề nghị tôi nói với Taj Mahal. Nhưng sau đó, Bs Santiago đã nói một điều chạm đến tôi như điện giật. Bà nghiêng người gần tôi hơn rồi nắm lấy bàn tay tôi, với giọt nước mắt lăn trên gò má. Bà nói thật khẽ: "Hãy nói với Người, như thể Người là cha của bà."

Tôi ngồi bật dậy. Một sự im lặng nặng nề trong căn phòng. Ngay cả cuộc đối thoại giữa Mahmud và Tooni cũng treo lơ lửng trên không. Tôi đăm đăm nhìn người nữ tu ấy với ánh nến phản chiếu lung linh nơi cặp kính.

Nói với Thiên Chúa như thể Người là cha của tôi! Ý nghĩ ấy rúng động linh hồn tôi trong một kiểu cách lạ lùng như một chân lý cùng lúc làm sững sờ và khuây khoả.

Sau đó như thể được ra lệnh, cùng lúc mọi người lại bắt đầu cười nói. Tooni và Mahmud cười khúc khích và đồng ý tô cái dù bằng mầu tím. Bác sĩ Santiago mỉm cười, đứng dậy, chào mọi người và bước ra khỏi phòng.

Không nói gì thêm về sự cầu nguyện hay Kitô giáo. Nhưng tôi vẫn còn kinh ngạc trong suốt tối hôm ấy, và cho đến sáng hôm sau. Điều đặc biệt kỳ lạ là các bác sĩ không tìm thấy chứng bệnh gì nơi tai cháu Mahmud, và nó luôn miệng nói rằng chẳng còn đau gì cả. Lúc đầu, tôi thật khó chịu và phiền hà về điều này. Sau đó một ý tưởng chợt nẩy ra trong đầu là có thể, rất có thể, trong một phương cách bí ẩn nào đó, Thiên Chúa đã lợi dụng cơ hội này để đưa tôi gặp bác sĩ Santiago.

Gần trưa hôm ấy, bác tài Manzur lái xe đưa chúng tôi trở về Wah. Khi chúng tôi tách khỏi xa lộ Đại Thụ để rẽ vào con đường về nhà, tôi có thể nhìn thấy mái nhà mầu xám của tôi qua rặng cây. Bình thường tôi mong về nhà như về một nơi riêng biệt, xa khỏi thế giới. Nhưng hôm nay dường như có một sự khác biệt về căn nhà của tôi, như thể một điều gì đặc biệt sẽ xảy ra cho tôi ở đó.

Chúng tôi lái xe vào con đường dẫn đến trước cửa, cháu Manzur nhấn còi inh ỏi. Các đầy tớ bước ra và vây quanh chiếc xe. "Cậu không sao chứ?" tất cả đồng loạt hỏi.

Không sao. Tôi lên tiếng, Mahmud không sao cả. Nhưng tâm trí của tôi không vui mừng chút nào. Tôi đang trong một hành trình mới đi tìm Thiên Chúa. Tôi đi thẳng lên phòng ngủ để suy nghĩ tất cả những gì đã xảy ra. Tôi chắc chắn là không một người Hồi Giáo nào dám nghĩ A-la như cha của mình. Ngay khi còn bé, tôi được dậy rằng cách chắc chắn nhất để biết A-la là cầu nguyện năm lần một ngày và nghiên cứu kinh Koran. "Hãy nói với Thiên Chúa. Nói với Người như thể Người là cha của bà."

Một mình trong căn phòng, tôi quỳ gối và cố gắng gọi Người là "Cha." Nhưng đó là một cố gắng vô ích và tôi đứng dậy mất hết can đảm. Thật buồn cười. Đó không phải là tội lỗi hay sao khi cố gắng đưa Đấng Toàn Năng xuống địa vị của chúng ta? Đêm ấy tôi thiếp ngủ với sự hoang mang hơn bao giờ hết.

Nhiều giờ sau tôi thức giấc. Lúc ấy vào khoảng quá nửa đêm, ngày sinh nhật của tôi, 12 tháng Mười Hai. Tôi được 47 tuổi. Tôi cảm thấy đôi chút náo nức, một dư âm từ thời thơ ấu khi ngày sinh nhật là ngày hội với các hàng giây đủ mầu giăng ngang trên sân cỏ, với các đồ chơi và bà con đến nhà suốt cả ngày. Bây giờ, sẽ chẳng còn ăn mừng, có lẽ chỉ được vài cú điện thoại thăm hỏi, chỉ có thế.

Ôi quãng đời thơ ấu thật đẹp biết chừng nào. Tôi nhớ đến cha mẹ tôi qua hình ảnh mà tôi thích nhất. Mẹ tôi, thật âu yếm, thật vương giả và xinh đẹp. Và cha tôi. Tôi luôn hãnh diện về ông, với chức vụ cao trong chính quyền Ấn. Tôi vẫn có thể nhìn thấy ông, với y phục tươm tất không thể chê được, đang đứng trước gương sửa lại chiếc khăn xếp trên đầu trước khi đến văn phòng. Đôi mắt thân thiện dưới hàng lông mày rậm rạp, nụ cười nhân từ, nét mặt sắc sảo và cái mũi khoằm xuống.

Một trong những kỷ niệm dễ thương nhất là khi được nhìn thấy cha tôi làm việc trong thư phòng. Ngay trong một xã hội mà con trai được quý trọng hơn con gái, cha tôi coi mọi con cái như nhau. Hồi còn nhỏ, khi có thắc mắc muốn hỏi, tôi lấp ló sau cánh cửa, ngại không dám lên tiếng, sợ gián đoạn công việc của cha tôi. Sau đó, khi liếc mắt thấy tôi, ông đặt bút xuống, ngả người tựa vào ghế và gọi, "Keecha?" Chậm chạp tôi bước vào phòng làm việc, e dè cúi đầu. Ông mỉm cười và vỗ vào cái ghế bên cạnh. "Lại đây, con gái cưng, ngồi xuống đây." Sau đó, choàng tay qua người, ông kéo tôi sát vào ông. "Nhỏ Keecha muốn gì đây?" thật ôn tồn ông hỏi. "Con muốn bố làm gì, hả?"

Với cha tôi lúc nào cũng vậy. Ông không phiền khi bị tôi quấy rầy. Bất cứ khi nào tôi thắc mắc hoặc có vấn đề, ông cũng xếp công việc qua một bên để dành thời giờ cho riêng tôi, bất kể bận rộn đến thế nào.

Lúc ấy đã quá nửa đêm khi tôi nằm trên giường thưởng thức hương vị ngọt ngào của kỷ niệm. "Ôi cám ơn…" tôi thì thầm với Thiên Chúa. Có phải tôi thực sự nói với Người không?

Bỗng dưng, một hy vọng tràn trề choáng ngợp tôi. Giả như, chỉ cần giả như Thiên Chúa giống như một người cha. Nếu một người cha dưới đất sẵn sàng bỏ qua mọi chuyện để lắng nghe tôi, thì lẽ nào một người Cha trên trời lại không…?

Run rẩy với sự kích thích đó, tôi ra khỏi giường, quỳ sụp trên thảm, mắt nhìn lên trời và trong một hiểu biết phong phú mới mẻ, tôi gọi Thiên Chúa "Cha ơi."

Tôi đã không chuẩn bị cho những gì sẽ xảy đến.

Xem Tiếp